Báo cáo khoa học 2005 : Nghiên cứu một số vấn đề về nhà máy nước Hà Đông
MỞ ĐẦU
“Nước - hai tỷ người đang khát’’ chủ đề mà Liên Hợp Quốc đưa ra nhân
ngày môi trường thế giới năm 2003 đã cho thấy sự cấp bách của vấn đề nước
sạch hiện nay. Năm 2005 này, chủ đề ngày nước thế giới được chọn là “Nước
cho cuộc sống’’. Đồng thời, Đại hội đồng Liên Hợp Quốc cũng chọn thập kỉ
2005-2015 là thập kỉ của nước nhằm nâng cao nhận thức của con người đối với
vai trò của nước sạch. Vấn đề nước sạch là một vấn đề mang tính toàn cầu.
Ô nhiễm nước và vệ sinh môi trường hiện nay đang thực sự trở thành vấn
đề đáng báo động. Nguồn nước trong lành đang ngày càng cạn kiệt, ô nhiễm do
các hoạt động của con người và khai thác quá mức. Thiếu nước và nước dùng
không đảm bảo chất lượng đã ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng cuộc sống và
sức khỏe của con người.
Tại Việt Nam, vấn đề này đã được Đảng và Chính phủ sớm quan tâm.
Năm 1997, Thủ tướng Chính phủ đã phát động phong trào tuần lễ nước sạch và
vệ sinh môi trường nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân. Từ đó tỉ
lệ tiếp cận nước sạch của người dân tăng lên đáng kể (từ 18,4% năm 1992 lên
đến 51% năm 2002 ở khu vực nông thôn). Tuy nhiên, vấn đề được đặt ra là cùng
với việc tăng tỉ lệ tiếp cận nước sạch của người dân thì liệu chất lượng nước
sạch có đảm bảo hay không, khi mà có đến 80% các nhà máy cấp nước hiện nay
cùng với hệ thống ống dẫn đã cũ kĩ, lạc hậu và xuống cấp nghiêm trọng. Công
tác bảo dưỡng, nâng cấp chúng còn có nhiều hạn chế. Bởi vậy việc đánh giá chất
lượng nước cấp hiện nay cần thiết hơn bao giờ hết.
Nhà máy nước thị xã Hà Đông là một nhà máy được xây dựng từ những
năm 1950, từ đó đến nay nhà máy đã qua nhiều lần cải tạo, nâng cấp. Qua đó
công suất của nhà máy được tăng lên đáng kể. Tuy nhiên vấn đề cải tiến công
nghệ, quản lí giám sát cũng như kiểm tra đánh giá chất lượng nước cần được
quan tâm nhiều hơn.
Xuất phát từ thực trạng trên chúng tôi mạnh dạn thực hiện đề tài:
“Nghiên cứu một số vấn đề về nhà máy nước Hà Đông’’ nhằm đưa ra những
lượng nước sạch cho sinh hoạt và công nghiệp cũng có các tiêu chuẩn khác
nhau.
Một số chỉ tiêu về chất lượng nước sạch được trình bày ở bảng 1.1 (Phần
phụ lục)
1.2.Vai trò của nước sạch và ảnh hưởng của chất lượng nước đến sức khỏe
con người
1.2.1. Vai trò của nước sạch.
Nước là nguồn tài nguyên quan trọng nhất của loài người và sinh vật trên
trái đất “ Là khoáng sản quý hơn mọi loại khoáng sản ’’, là nhu cầu thiết yếu của
cuộc sống. Xã hội càng phát triển thì nhu cầu về nước sạch càng tăng, mỗi ngày
trung bình mỗi người cần 3-5 lít nước để đảm bảo cho cơ thể hoạt động bình
thường. Theo nghiên cứu của các nhà khoa học thì nước chiếm đến 70% trọng
lượng cơ thể con người, nước đóng vai trò quan trọng trong quá trình trao đổi
chất, là dung môi hòa tan các chất dinh dưỡng, là môi trường cho các phản ứng
sinh hóa xảy ra bên trong cơ thể.
5
Báo cáo khoa học 2005 : Nghiên cứu một số vấn đề về nhà máy nước Hà Đông
Nước không chỉ duy trì cho cơ thể con người hoạt động bình thường mà
còn cung cấp cho sinh hoạt hàng ngày và các hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Mỗi ngày mỗi người cần 250 lít nước cho các sinh hoạt như tắm giặt , nấu
nướng, Để sản xuất một tấn giấy cần 250 tấn nước, 1 tấn đạm cần 600 tấn nước
và 1 tấn bột cần 1000 tấn nước.
Nước chưa qua xử lí mà cung cấp cho nồi hơi làm giảm tuổi thọ của nồi
hơi, tăng giá thành sản xuất. Nước cung cấp cho các bệnh viện phải đảm bảo yêu
cầu vệ sinh, tránh gây nên sự nhiễm trùng, lây lan dịch bệnh, ảnh hưởng đến sức
khỏe người bệnh.
Hằng năm tổng lượng nước cần sử dụng trên thế giới ước tính khoảng
3.240 km
3
. Đặc biệt là H
2
S được tạo ra
từ các sản phẩm thối rữa.
Nước bình thường có hàm lượng muối nằm trong khoảng 0 đến 0,5
gam/lít nước, nếu nước có hàm lượng muối quá cao thì sẽ có vị lờ lợ rất khó
chịu khi uống, gây rối loạn sinh lí của cơ thể.
Nhiệt độ bình thường của nước là từ 18 đến 20 độ, một số suối nước nóng
có tác dụng tốt đối với cơ thể con người. Nếu nhiệt độ quá cao sẽ làm vi sinh vật
phát triển mạnh, đồng thời làm nước bốc mùi khó chịu, làm tăng nhanh quá trình
ăn mòn vật liệu.
1.2.2.2. Phương diện hóa học.
Nước trong thành phần không hoàn toàn tinh khiết mà có chứa rất nhiều
tạp chất hóa học, các chất khoáng hòa tan như :kim loại nặng (Fe, Mn, Cd, );
các anion NO
3
-
, PO
4
3-
, SO
4
2-
, ); Và các chất khí như CH
4
, H
2
S .Với một nồng
độ thích hợp các chất trên có tác dụng tốt đối với cơ thể, tuy nhiên khi các chất
này có nồng độ quá cao có thể ảnh hưởng rất xấu tới sức khỏe của con ngườivà
1.2.2.3. Phương diện vi sinh vật.
Nước là môi trường sống của nhiều loài vi sinh vật, bên cạnh các vi sinh
vật vô hại và có ích thì trong nước còn có nhiều loài vi sinh vât gây bệnh hoặc
truyền bệnh cho con người và sinh vật như : Vi khuẩn Salmonella gây bệnh
thương hàn, vi khuẩn Shigella gây bệnh lị ở người, vi khuẩn Vibrion gây bệnh
tả.
Ở Việt Nam theo thống kê của Bộ y tế có tới 80% số người mắc các bệnh
về đường ruột do dùng nguồn nước bị nhiễm bẩn. Nguyên nhân gây ra ô nhiễm
sinh học là do rác, phân, nước thải sinh hoạt, nước thải từ các bệnh viện. Trung
bình mỗi ngày chất thải từ bệnh viện là 212 tấn, từ sinh hoạt là 8.941 tấn.
1.3. Tình hình nước sạch hiện nay ở Việt Nam .
Việt Nam là nước có lượng mưa trung bình vào loại cao trên thế giới, vào
khoảng 2000 mm/năm, bằng 2,6 lần lượng tổng lượng mưa trên các lục địa.
Tổng lượng mưa trên toàn lãnh thổ là 650 km3/năm, tuy nhiên lượng mưa phân
bố không đều theo mùa, 70-80% tổng lượng dòng chảy tập trung vào mùa mưa
lũ, trong đó 6-9 tháng trong năm là mùa cạn ít nước, 3 tháng cạn nhất có lượng
nước chỉ chiếm tỉ lệ 5-10% tổng lượng cả năm.
Ngoài ra sự phân bố theo lãnh thổ cũng không đều, Bắc Giang 4000-5000
mm/năm; Hoàng Liên Sơn, Móng Cái, Phú Quốc 3000-4000 mm/ năm; Ninh
Thuận, Bình Thuận 600-700 mm/năm. Tinh hình thiếu nước trở nên nghiêm
trọng vào mùa khô , hạn hán thường xảy ra ở các tỉnh miền trung gây rất nhiều
khó khăn cho cuộc sống người dân, nhiều nơi phải đi bộ hàng chục cây số mới
lấy được nước. Tại thành phố Buôn Mê Thuật hiện nay đã có 11/27 giếng khoan
cung cấp cho thành phố phải ngừng hoạt động do thiếu mạch nước ngầm. Ba
8
Báo cáo khoa học 2005 : Nghiên cứu một số vấn đề về nhà máy nước Hà Đông
trạm bơm nước mặt cũng chỉ hoạt động được 10-30% công suất. Đặc biệt là tại
Ninh Thuận, hiện nguồn nước sinh hoạt duy nhất của xã Nhị Hà là con suối
nước nóng duy nhất xuất hiện khi lòng suối bị khô cạn, đây chỉ là một mạch
giảm chất lượng nguồn nước. Nguồn nước có thể bị ô nhiễm bởi các tác động
của môi trường. Tại thành phố Huế hiện nay, nguồn nước sông Hương đang bị
nhiễm mặn nặng nề, hàm lượng muối tăng cao gây tâm lí lo ngại cho người dân,
đã có những khuyến cáo đối với người dân khi dùng nước máy.
9
Báo cáo khoa học 2005 : Nghiên cứu một số vấn đề về nhà máy nước Hà Đông
Tuy nhiên sự ô nhiễm nguồn nước hiện nay chủ yếu là do các hoạt động
của con người gây nên, quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa ở nước ta diễn ra
với một tốc độ nhanh trong khi đó cơ sở hạ tầng không theo kịp, và cùng với
công nghệ lạc hậu là các chất thải từ các nhà máy công nghiệp, từ sinh hoạt,
thải trực tiếp vào nguồn nước mà chưa qua xử lí gây ô nhiễm nặng nề cho nguồn
nước, việc sử dụng phân bón hóa học, thuốc trừ sâu trong nông nghiệp, ý thức
người dân cũng là những nguyên nhân quan trọng gây ô nhiễm nước.
Tại các dòng sông lớn như sông Hồng, Sông Cưủ Long hàm lượng chất
rắn lơ lửng cao gấp 4 lần so với mức trung bình của thế giới, BOD cao gấp 1,4
lần và vi khuẩn từ chất thải con người cao gấp 3 lần (Viện khoa học công nghệ
môi trường). Các hồ nước tại thành phố Hà Nội hiện đang bị ô nhiễm nặng nề,
hàm lượng các chất hữu cơ trong nước vượt quá chỉ tiêu cho phép rất nhiều lần,
chỉ số DO thấp. Các dòng sông thì càng bị ô nhiễm nghiêm trọng hơn như sông
Tô Lịch, sông Lừ,
10
Báo cáo khoa học 2005 : Nghiên cứu một số vấn đề về nhà máy nước Hà Đông
CHƯƠNG 2 : ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu.
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu.
Hà Tây là tỉnh tiếp giáp với Hà Nội. Hiện tỉnh có hai nhà máy cấp nước
quy mô lớn, là nhà máy nước Sơn Tây và Hà Đông. Trong đề tài này chúng tôi
tâm của nhà máy. Bên cạnh đó, chúng tôi cũng trực tiếp phỏng vấn người dân về
tình hình sử dụng nước của nhà máy, qua đó thu thập được những thông tin bổ
ích cho đề tài.
2.3.3. Phương pháp lấy mẫu.
Qua việc nghiên cứu các tài liệu thứ cấp, chúng tôi xác định được những
mẫu cần phân tích và kiểm tra chất lượng nước, bao gồm 4 mẫu: kí hiệu là M1;
M2; M3; M4.
Dụng cụ lấy mẫu là chai nhựa, chai được rửa sạch bằng cồn y tế, tráng ba
lần nước cất, khi lấy mẫu dùng chính nước cần lấy tráng qua ba lần rồi lấy mẫu
đây chai, tránh để không khí còn trong chai.
Vị trí lấy mẫu:
+ M1 : Lấy tại cơ sở 1 sau khi được xử lí (trước khi đưa vào bể chứa ).
+M2 : Lấy tại cơ sở 2 sau khi được xử lí (trước khi đưa vào bể chứa).
+M3 : Lấy tại nhà dân cách cơ sở 1 là 1km (do cơ sở 1 cung cấp ).
+M4 : Lấy tại nhà dân cách cơ sở 2 là 1 km (do cơ sở 2 cung cấp ).
Mẫu sau khi lấy về được bảo quản trong máy lạnh, khi cần phân tích thì
lấy ra phân tích các chỉ tiêu cần thiết cho đề tài.
12
Báo cáo khoa học 2005 : Nghiên cứu một số vấn đề về nhà máy nước Hà Đông
2.3.4. Phương pháp phân tích, tổng hợp.
Các số liệu sau khi thu thập được phân tích, tổng hợp lại, từ các số liệu cụ
thể chúng tôi tiến hành đánh giá tìm ra những mặt được và chưa được của việc
quản lí, công nghệ xử lí nước. So sánh hiệu quả của việc xử lí nước tại cơ sở 1
và cơ sở 2, từ đó đưa ra một số đánh giá, nhận xét, kết luận đồng thời cũng đưa
ra một số giải pháp khắc phục hạn chế và phát huy những ưu điểm để cải thiện
hơn nữa việc cung cấp phục vụ nước sạch cho người dân.
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ ĐÁNH GIÁ
3.1. Tổng quan về nhà máy cấp nước Hà Đông.
Những ngày đầu mới thành lập, nhà máy chỉ có vài chục người, giờ đây
số lượng cán bộ công nhân viên chức đã tăng lên 285 người, trong đó 80 người
có trình độ đại học và cao đẳng. Bộ máy quản lí của nhà máy khá hoàn chỉnh
gồm 6 phòng, 1 ban, 2 phân xưởng và một đội thi công, phân công trách nhiệm
công việc như sau:
+ Phòng tổ chức hành chính: có chức năng tham mưu cho giám đốc về
công tác tổ chức cán bộ, quản lí hành chính và trật tự trong công ty
+ Phòng tài chính kế toán: quản lí tài chính, huy động vốn, kiểm tra giám
sát toàn bộ hoạt động tài chính của công ty
+ Phòng kỹ thuật sản xuất môi trường: chuyên thiết kế các hệ thống cung
cấp nước sạch, xây dựng và quản lí định mức kĩ thuật, kiểm tra xác định tay
nghề công nhân.
+ Phòng kế hoạch vật tư : xây dựng kế hoạch sản xuất, thu nhận các thông
tin từ các bộ phận đẻ điều chỉnh kịp thời các kế hoạch đã đề ra.
+ Phòng thu ngân: chịu trách nhiệm thu tiền nước theo số phòng kinh
doanh đã ghi.
+ Phòng kinh doanh : hàng tháng ngoài nhiệm vụ ghi sản lượng vào sổ
theo dõi cho lịp thời đầy đủ và chính xác, phòng còn thường xuyên kiểm tra hệ
thống cấp nước vào các hộ sử dụng, phát hiện lịp thời các sự cố hỏng hóc về
đường ống, đông hồ đo, bể chứa của các hộ sử dụng làm thất thoát nước của
nhà máy .
+ Ban thanh tra của nhà máy có nhiệm vụ thường xuyên đi kiểm tra, rà
soát những bộ phận, đối tượng nào vi phạm hợp đồng với nhà máy.
+ Phân xưởng sản xuất nước: trông coi, kiểm tra, tránh làm tràn nước,
thường xuyên thau rửa bể đảm bảo nước hợp vệ sinh và đủ nước cho khách
hàng.
14
Báo cáo khoa học 2005 : Nghiên cứu một số vấn đề về nhà máy nước Hà Đông
+ Phân xưởng gia công sửa chữa: chịu trách nhiệm lắp đặt, sửa chữa
3
.
+ Đối với mục đích xây dựng: 6000đ/m
3
.
15
Báo cáo khoa học 2005 : Nghiên cứu một số vấn đề về nhà máy nước Hà Đông
So với các nhà máy trên địa bàn Hà Nội thì giá nước như vậy là hợp lí và
rẻ tiền. Nhà máy cũng chưa triển khai việc điều chỉnh giá nước luỹ tiến theo
mức dùng như một số địa phương khác.
3.2. Quy trình xử lí nước.
3.2.1. Lựa chọn công nghệ xử lí nước .
Việc lựa chọn công nghệ xử lí phụ thuộc rất nhiều vào chất lượng nước,
đặc trưng của nguồn nước thô, yêu cầu chất lượng nước cấp và công suất trạm
nước cần xử lí. Về mặt nguyên tắc, quy trình xử lý nước ngầm được thực hiện
qua các bước như trong hình 3. 1:
Hình 3.1. Quy trình xử lí chung nước ngầm .
Tuy nhiên, tuỳ từng điều kiện cụ thể của từng vùng, đặc điểm của nguồn
nước đầu vào, người ta có thể lưa chọn những quy trình phù hợp hơn, với việc
thêm bớt một số công đoạn nào đó hoặc điều chỉnh cho hợp lí. Hình 3.2 và 3.3
trình bày quy trình xử lí nước ngầm của hai cơ sở nhà máy nước Hà Đông.
16
Bể chứa
Châm clo
phối
Bể lọc
Tháp
làm
thoáng
Nước
ngầm
Mạng
phân phối
Bể chứa
(2000 m
3
)
Nước rửa
lọc
Bể chứa
(2000 m
3
)
Bơm
Bể
lắng
Bể
lọc
Giàn
mưa
Bơm
Hệ thống
nước thải
Nước
+ H
2
O → 4Fe(OH)
3
+ 8H
+
+ 8HCO
3
-
Đồng thời với Fe
2+
, Mn
2+
cũng bị oxi hoá một phần theo phản ứng :
2Mn(HCO
3
)
2
+ O
2
+ 6H
2
O → 2Mn(OH)
4
+ 4H
+
+ 4HCO
3
-
Để làm tăng diện tích tiếp xúc giữa nước và không khí, bên trong cấu tạo
hiđrôxit của Fe và Mn. Sau khoảng 8 tiếng lọc, các hiđroxit trên tích tụ trên bề
mặt lọc gây tổn thât áp lực lọc, ảnh hưởng đến quá trình lọc. Do đó, bể lọc cần
được rửa để hoàn nguyên vật liệu lọc, tiếp tục cho chu kì lọc tiếp theo. Sau quá
trình lọc nhanh, nước được châm clo để khử khuẩn rồi dẫn đến bể chứa.
+ Tại khu xử lí của cơ sở 2: Khu xử lí của cơ sở 2 theo công suất thiết kế
gồm 2 hệ thống xử lí, hiện nay mới có 1 hệ thống được đưa vào hoạt động. Hệ
thống xử lí gồm có giàn mưa, bể lắng tiếp xúc, bể lọc và cũng được thiết kế theo
một chu trình liên tục.
- Nước bơm từ giếng được dẫn lên giàn mưa, chức năng của giàn mưa
cũng tương tự như tháp làm thoáng, nhằm oxi hoá Fe
2+
thành Fe
3+
và Mn
2+
thành
Mn
4+
, ngoài ra còn nhằm loại bớt các chất khí (NH
3
, CH
4
, H
2
S). Cấu tạo của
giàn mưa bao gồm các ống thép tiết diện bé (Φ40), trên đó người ta khoan các lỗ
nhỏ với mục đích tạo ra các tia nước nhỏ phun xuống sàn đập với tốc độ lớn.
Sàn đập được làm bằng bê tông nằm phía dưới giàn mưa cách khoảng 0,5m.
Nhờ vậy, diện tích tiếp xúc của nước với không khí tăng lên dáng kể và quá
trình oxi hoá Fe
3.3. Đánh giá chất lượng nước và quy trình công nghệ.
Nhà máy nước Hà Đông đã tiến hành thường xuyên việc kiểm tra chất
lượng nước đầu vào và đầu ra. Theo kết quả đánh giá chất lượng nước của nhà
máy, chất lượng nguồn nước đầu vào của hai cơ sở nhà máy nước Hà Đông như
sau (bảng 3.1. Phân tích các số liệu này có thể đưa ra một số nhận định chung
như sau: Nguồn nước đầu vào của cả hai cơ sở là khá tốt, các chỉ tiêu về vật lí
như màu, mùi, vị, độ đục, hàm lượng chất rắn lơ lửng, độ muối đều đạt tiêu
chuẩn nước cấp. Các chỉ tiêu về hóa học cũng khá tốt, độ pH nằm trong khoảng
cho phép; độ cứng đạt mức trung bình; các chỉ tiêu khác như DO, NH
4
+
đều đạt
tiêu chuẩn 1329 - 2004 của Bộ Y tế.
Điều đáng lưu ý là hàm lượng Fe
2+
khá cao (18-26 mg/l) so với mức trung
bình của các nhà máy trên địa bàn Hà Nội. Ngoài Fe
2+
trong thành phần của
nước đầu vào cũng tồn tại một lượng ít Mn
2+
, tuy nhiên hàm lượng này không
đáng kể. Như vậy, việc qui trình công nghệ xử lí nước của nhà máy tập trung
vào xử lí Fe là hợp lí. Việc sử dụng tháp làm thoáng và giàn mưa cho phép tách
hàm lượng Fe và Mn tương đối tốt, sau công đoạn làm thoáng quá trình lọc và
lắng nhanh có thể tách triệt để lượng Fe kết tủa.
Việc tính toán các chỉ tiêu về thiết kế như chiều dài, chiều rộng, chiều cao
của bể lọc; bể lắng; bể chứa phụ thuộc nhiều vào công suất, quy mô trạm bơm
của nhà máy. Các chỉ tiêu như trên theo chúng tôi là đạt tiêu chuẩn xây dựng
(theo tiêu chuẩn xây dựng 33 - 85) của bộ xây dựng.
vị
Cơ sở 1 Cơ sở 2
TC 1329-
2004/BYT/
QĐ
1 Màu/mùi/vị Không Không Không
2 Chất hữu cơ mg/l 0.4 0.5 __
3 PH 6.9 -7.1 7.1-7.2 6.5-8.5
4 NH
4
+
mg/l 0.4 0.5-0.6 1.5
5 Mn
2+
mg/l 0.3-0.5 0.5 0.5
6 Fe
2+
mg/l 23-26 18-21 <0.5
7 Độ cứng mg/l 160 150 300
8 Độ đục 2NTU 1.00 1.00 >30
9 DO mg/l 1.6 1.6 <2
10 Tổng SS mg/l Ko đáng kể Ko đáng kể __
11 NaCl mg/l 49.7 49.7 <250
12 Coliform 0 0 0
Báo cáo khoa học 2005 : Nghiên cứu một số vấn đề về nhà máy nước Hà Đông
nguồn cung cấp (hộ dân) nhằm đánh giá về hệ thông đường ống cung cấp nước
cũng như công tác quản lí của nhà máy. Kết quả phân tích hàm lượng COD cho
thấy hệ thống đường ống cấp nước từ cơ sở 2 đến nơi tiêu thụ có vấn đề, hàm
lượng COD tại hộ dân lớn hơn nhiều so với nước sau xử lí. Hàm lượng COD
3 Mg/l NO
3
1.8 0.9 1.9 1.4 50
4 Mg/l NaCl 49.7 56.8 49.7 56.8 < 250
5 Mg/l DO 1.14 2.08 1.05 2.08 -
6 Mg/l COD 180 100 80 220 -
7 Mg/l
∑Fe
0.3 0.2 0.4 0.3 0.5
8 Màu 0 0 0 0 0
9 Mùi 0 0 0 0 0
10 Vị 0 0 0 0 0
11 cm độ
trong
70 70 70 70 >30
12 Mg/l TDS 1149 993 1143 985 600 -1200
Báo cáo khoa học 2005 : Nghiên cứu một số vấn đề về nhà máy nước Hà Đông
đảm bảo chât lượng nước cấp cho người sử dụng. Bên cạnh đó không ngừng
nâng cao công tác quản lí, hạn chế thất thoát nước như hiện nay.
PHỤ LỤC
Bảng 1.1. Một số chỉ tiêu chất lượng cho nước cấp sinh hoạt
23
STT Chỉ tiêu
TCVN
5942/199
5 loại A
BYT
1329-
S (mg/l) - 0 - -
20 CN (mg/l) 0.01 0.1 - 0.05
21 Chất tẩy rửa (mg/l) 0.5 - - -
22 NH
3
(mg/l) tính theo
N
5000 1.5 - -
Báo cáo khoa học 2005 : Nghiên cứu một số vấn đề về nhà máy nước Hà Đông
24
Báo cáo khoa học 2005 : Nghiên cứu một số vấn đề về nhà máy nước Hà Đông
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Xử lí nước cấp sinh hoạt và công nghiệp (Nguyễn Thị Thu Thuỷ -
Nhà xuất bản khoa học kĩ thuật - 2003).
2. Cơ sở khoa học môi trường (Lưu Đức Hải - Nhà xuất bản Đại học
Quốc Gia Hà Nội- 2000).
3. Tiêu chuẩn xây dựng 33 - 85
4. Xử lí nước cấp (Nguyễn Ngọc Dung - Nhà xuất bản Xây dựng).
5. Đánh giá chất lượng nước cấp của Nhà máy nước Cẩm Giàng -
khoá luận tốt nghiệp - 2003.
6. Hiện trạng tài nguyên nước và ô nhiễm môi trường nước trên thế
giới - Viện công nghệ môi trường.
25
Báo cáo khoa học 2005 : Nghiên cứu một số vấn đề về nhà máy nước Hà Đông
MỤC LỤC
1.1. Khái niệm về nước sạch 5
1.2.Vai trò của nước sạch và ảnh hưởng của chất lượng nước đến sức khỏe con người 5