một số giải pháp nhằm nâng cao chât lượng tín dụng ngắn hạn tại chi nhánh ngân hàng đầu tư & phát triển bắc hà nội - Pdf 13

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp.
Lời nói đầu
Trong bối cảnh toàn cầu hoá nh hiện nay , bất kỳ một quốc gia nào trên
thế giới cũng coi mục tiêu phát triển kinh tế là mục tiêu quan trọng cần đạt đợc .
Nhng để đạt đợcmụa tiêu quan trọng đó đòi hỏ chính phủ phải có những chính
sách , chiến lợc phù hợp và hiệu quả để sử dụng tối đa những nguồn lực hiện có
của đất nớc mình , đồng thời phải kế thừa và phát triển những tinh hao của thế
giới .
Trong nền kinh tế thị trờng thì thị trờng tài chính đóng vai trò hết sức quan
trọng , sự lớn mạnh của thị trờng tài chính nó ảnh hởng rất lớn đến nền kinh tế
của một quốc gia và cuả cả thế giới . Chủ thể quan trọng của thị trờng tài chính là
Ngân hàng , nó có mặt trong tất cả các mối quan hệ kinh tế trong nền kinh tế thị
trờng . Vì thế muốn một nền kinh tế ổn định và phát triển thì đòi hỏi bản thân hệ
thống Ngân hàng cũng phải ổn định và phát triển bởi nếu nó không ổn định thì nó
sẽ phá vỡ sự ổn định trong các mối quan hệ kinh tế từ đó dẫn đến làm suy giảm
nền kinh tế .
Tín dụng là một trong ba nghiệp vụ cơ bản của Ngân hàng thơng mại đó là:
Nhận tiền gửi , hoạt động tín dụng, trung gian thanh toán , hơn nữa nó là nguồn
sinh ra lợi nhuận nhiều nhất cho Ngân hàng thơng mại vì thế mà muốn hệ thống
Ngân hàng ổn định và phát triển thì đòi hỏi chất lợng hoạt động tín dụng cũng
phải ổn định và hiệu quả .
Xuất phát từ quan điểm đó mà em đã chọn đề tài nghiên cứu là :
Một số giải pháp nhằm nâng cao chât lợng tín dụng ngắn hạn tại Chi
nhánh Ngân hàng Đầu t & Phát triển Bắc Hà nội .
Với thời gian thực tập tại Chi nhánh Ngân hàng Đầu t & Phát triển Bắc Hà nội
, một Chi nhánh hoạt động trên địa bàn Gia Lâm cùng với số liệu thống kê từ
năm 2000 trở lại đây em hy vọng rằng mình sẽ đóng góp một phần nhỏ bé nào đó
của mình vào công cuộc Công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc.
Kết cấu của chuyên đề nghiên cứu gồm:
ChơngI : Tín dụng Ngân hàng và chất lợng của tín dụng trong nền kinh
tế thị trờng định hớng Xã hội Chủ Nghĩa .

tín dụng mới có thể đáp ứng đợc nhu cầu vốn của mình. Chính vì thế ta có thể nói
cơ sở hình thành và phát triển của quan hệ tín dụng chính là sự tin tởng và nhu
cầu về vốn trong nền kinh tế hàng hoá. Từ cơ sở hình thành đó ta có thể đu ra
một khái niệm chung về quan hệ tín dụng nh sau :
Tín dụng là quan hệ vay mợn, sử dụng vốn của lẫn nhau một cách tạm thời và
dựa trên nguyên tắc hoàn trả tin tởng.
Từ khái niệm trên ta có thể thấy tín dụng không phải là quan hệ mua bán , chỉ
xảy ra trong thời gian nhất định và phải đợc xác định trên cơ sở tin tởng lẫn nhau.
Nói chung đứng trên mỗi góc độ khác nhau ngời ta sẽ có cách hiểu khác nhau về
tín dụng , chính vì thế mà theo Luật các tổ chức tín dụng của Việt nam đã đa ra
định nghĩa về hoạt động tín dụng nh sau:
Hoạt động tín dụng là việc tổ chức tín dụng sử dụng vốn tự có, vốn huy động
để cấp tín dụng . Trong đó cấp tín dụng là việc tổ chức tín dụng thoả thuận để
khách hàng sử dụng khoản tiền với nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho
vay , chiết khấu , cho thuê tài chính , bảo lãnh Ngân hàng và các nghiệp vụ khác .
Dù đứng trên quan điểm nh thế nào chăng nữa thì bản chất hoạt động tín
dụng không hề thay đổi: Trong quan hệ tín dụng ngờn cho vay chỉ nhờng quyền
sử dụng vốn cho ngời đi vay trong một thời gian nhất định chứ không nhờng
quyền sở hữu và ngời đi vay phải hoàn trả lại cho ngời cho vay khi đến hạn đã
thoả thuận . Sự hoàn trả này không chỉ là sự bảo tồn về mặt giá trị mà còn đợc
tăng thêm dới hình thức lãi suất.
Sinh viên: Trần Quang Huy - Lớp NH 41A.
3
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp.
1.1.2. Đặc điểm của quan hệ tín dụng
Xuất phát từ cơ sở hình thành cũng nh khái niệm về quan hệ tín dụng ta có
thể đa ra một số đặc điểm về quan hệ tín dụng nh sau:
- Trong quan hệ tín dụng không có sự vận động của quyền sở hữu mà chỉ thay
đổi quyền sử dụng trong một thời gian nhất định .
- Giá cả trong quan hệ tín dụng chính là lãi suất tín dụng.

hệ tín dụng đợc hình thành một cách khách quan trong chính nhu cầu của các
chủ thể kinh tế trong nền kinh tế thị trờng , chỉ có quan hệ tín dụng ra đời mới
đáp ứng đợc nhu cầu của nền kinh tế nói chung , các doanh nghiệp nói riêng .
Ngân hàng sẽ là tổ chức tài chính trung gian cung cấp nghiệp vụ đó , đồng thời
là ngời điều hoà vốn từ nơi thừa đến nơi thiếu góp phần làm ổn định và phát
triển nền kinh tế .
1.2.2. Trong nền kinh tế thị trờng ở bất kỳ thời điểm nào cũng xuất hiện tợng:
Tạm thời thừa vốn và Tạm thời thiếu vốn
1.2.2.1. Tạm thời thừa vốn.
Thừa ở đây với nghĩa là tổ chức , đơn vị đó có một lợng vốn nhàn rỗi trong
một thời gian nhất định. Điều nay đợc thể hiện cụ thể trong từng chủ thể của
nền kinh tế .
- Chính phủ :
Trong nền kinh tế quốc dân việc thu chi xảy ra không đồng thời, thông th-
ờng các khoản thu nhập thì tạp trung theo định kỳ còn các khoả chi thì đợc
phân bổ dần dần nên trong một khoảng thời gian nhất định sẽ xuất hiện số tiền
nhàn rỗi từ Ngân sách nhà nớc
- Các doanh nghiệp :
Nguồn thu của các doanh nghiệp và nguồn chi của các doanh nghiệp có sự
không thống nhất về mặt thời gian vì những lý do: Hàng hoá sản xuất ra đã tiêu
thụ đợc ; Lơng của các công nhân cha đến hạn trả; Tiền cha phải trả do mua
chịu hàng hoá; Dự trữ của doanh nghiệp ; Cha phải thực hiện nghĩa vụ tài chính
và trả lãi suất Ngân hàng ; Các quỹ cha đợc sử dụng ; Lợi nhuận của doanh
nghiệp Điều này dẫn đến các doanh nghiệp luôn có một lợng vốn nhàn rỗi
trong một thời gian nhất định.
- Cá nhân ngời tiêu dùng:
Trong hoạt động sản suất kinh doanh , các cá nhân trong xã hội sẽ nhận đợc
phần thu nhập của mình dới các hình thức : tiền lơng, tiền thởng, phụ cấp, lợi
nhuận thu đợc Một phần của các phần thu nhập này không chỉ tiêu dùng
ngay mà còn để dành tiêu dùng trong tơng lai . Phần tiền để dành này hình

- Cá nhân:
Ngời tiêu dùng đôi khi có những khoản phải chi bất thờng hoặc những
khoản chi tiêu ngoài khả năng tài chính tạm thời của họ nhng họ có khả năng
bù đắp những thiếu hụt đó trong tơng lai . Điều này dẫn đến nhu cầu vay tiêu
dùng của cá nhân .
Từ sự phân tích ở trên ta thấy trong nền kinh tế luôn tồn tại hai nhu cầu
cho vay và đi vay . Hai nhu cầu này có đặc điểm chung là đều nhằm thoả mãn
nhu cầu hiện tại của các chủ thể kinh tế và nó xảy ra trong thời gian ngắn. Khác
nhau ở cho vay và đi vay là quyền sở hữu, ngời cho vay vẫn có quyền sở hữu
đối với khoản tiền cho vay còn ngời đi vay chỉ có quyền sử dụng đối với khoản
tiền đợc vay trong khoảng thời gian thoả thuận giữa hai bên. Để giải quyết vấn
Sinh viên: Trần Quang Huy - Lớp NH 41A.
6
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp.
đề Tạm thời thừa vốn và Tạm thời thiếu vốn thì quan hệ tín dụng ra
đời và nó không thể thiếu trong nền kinh tế hiện đại.
2. Chức năng và vai trò của tín dụng.
2.1. Chức năng của tín dụng.
Nhìn tổng thể tín dụng có hai chức năng:
- Huy động và phân phối nguồn vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi dới hình thức
cho vay.
- Giám đốc và kiểm soát bằng đồng tiền đối với các hoạt động sản xuất kinh
doanh. Dùng tiền để xây dựng các chỉ tiêu, thớc đo để tiến hành quản lý
doanh nghiệp với các mục tiêu: Sử dụng vốn hiệu quả , hợp pháp và hợp lệ.
2.2. Vai trò của tín dụng trong nền kinh tế thị trờng.
Thứ nhất. Tín dụng là điều kiện đảm bảo quá trình sản xuất kinh doanh diễn ra
thờng xuyên liên tục.
Trong một thời điểm trong nền kinh tế luân tồn tại hai nhóm doanh nghiệp:
Một nhóm tạm thời thừa vốn và muốn sử dụng số vốn nhàn rỗi này để kiếm
lời trong một thời gian nhất định. Một nhóm tạm thời thiếu vốn và muốn

lợi nhuận chủ yếu cho Ngân hàng.
ứng với mỗi tiêu thức khác nhau ngời ta phân loại cho vay khác nhau, ta có
thể dựa trên những tiêu thức sau:
- Theo kỳ hạn nợ.
- Theo mục đích sử dụng vốn.
- Theo hình thức đảm bảo tiền vay.
- Theo phơng pháp hoàn trả .
- Theo loại hình tiền tệ.
3.1.1. Theo kỳ hạn nợ.
Theo kỳ hạn nợ cho vay của Ngân hàng thơng mại(NHTM) đợc phân làm ba
loại: Cho vay ngắn hạn, cho vay trung hạn, cho vay dài hạn
- Cho vay ngắn hạn.
Là loại cho vay có kỳ hạn dới 1 năm và đợc sử dụng để bù đắp sự thiếu
hụt vốn lu động của các doanh nghiệp và các nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của cá
nhân. Khoản cho vay ngắn hạn chủ yếu tài trợ cho các hoạt động sau:
+ Cho vay mua hàng dự trữ.
Từ trớc tới nay, ngân hàng thờng cho các hãng vay ngắn hạn bổ xung tạm
thời vốn hoạt động. Trên thực tế cho tới sau chiến tranh thế giới thứ II, ngân
hàng chủ yếu tập trung cấp tín dụng cho các doanh nghiệp dới hình thức các
khoản cho vay mang tính tự thanh toán (self-liquidating loans). Các khoản cho
vay này chủ yếu đợc sử dụng để tài trợ cho việc mua hàng dự trữ nh nguyên
Sinh viên: Trần Quang Huy - Lớp NH 41A.
8
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp.
liệu thô Các khoản cho vay nh vậy tận dụng đợc chu kỳ tiền mặt thông thờng
trong một hãng kinh doanh nh sau:
1. Tiền mặt đợc chi dùng mua dự trữ nguyên vật liệu và bán thành
phẩm hoặc thành phẩm.
2. Hàng hoá đợc sản xuất hoặc dữ trữ để bán.
3. Hàng đã bán(thờng là bán chịu).

quy mô hạn mức tín dụng và một lợng tiền gửi bắt buộc bổ xung bằng một tỉ lệ
phần trăm quy định trên tổng lợng tín dụng mà khách hàng thực sử dụng.
+ Cho vay ngắn hạn các công trình xây dựng.
Một hình thức cho vay ngắn hạn có bảo đảm phổ biến trong ngân hàng th-
ơng mại là cho vay hỗ trợ các công trình xây dựng, nhà ở, các toà nhà văn
phòng, trung tâm thơng mai, các công trình khác. Mặc dù thời gian xây dựng
công trình kéo dài nhng các khoản cho vay lại mang tính tạm thời. Các khoản
cho vay này cung cấp vốn cho bên thi công để thuê công nhân, thuê thiết bị xây
dựng, mua vật liệu xây dựng và giải phóng mặt bằng. Khi giai đoạn xây dựng
kết thúc, bên thi công thờng vay thế chấp dài hạn từ các tổ chức tài chính khác,
để lấy tiền thanh toán cho các khoản vay xây dựng ngắn hạn. Trong thực tế chỉ
khi Công ty xây dựng chắc chắn có một cam kết cho vay thế chấp để tiếp tục
tài trợ dài hạn cho các dự án sau khi kết thúc giai đoạn xây dựng thì ngân hàng
mới thực hiện các khoản cho vay xây dựng ngắn hạn. Gần đây một vài ngân
hàng đã cho vay với thời hạn khá dài 5 đến 7 năm, cung ứng vốn cho việc xây
dựng và hoạt động trong giai đoạn đầu của công trình.
+ Cho vay kinh doanh chứng khoán.
Những ngời kinh doanh chứng khoán Chính phủ và chứng khoán t nhân th-
ờng cần sự hỗ trợ vốn ngắn hạn để mua chứng khoán mới và duy trì danh mục
đầu t chứng khoán hiện có cho tới khi các chứng khoán này đợc bán hoặc đến
hạn thanh toán. Các ngân hàng lớn nhất thờng sẵn sàng cho vay đối với ngời
kinh doanh chứng khoán vì những khoản cho vay này có chất lợng cao, thờng
đợc đảm bảo bằng chứng khoán Chính phủ do nhà kinh doanh chứng khoán
nắm giữ. Hơn nữa nhiều khoản vay kinh doanh chứng khoán có kỳ hạn rất
ngắn, chỉ là vay qua đêm hoặc vài ngày. Nhờ vậy ngân hàng có thể nhanh
chóng thu hồi vốn hoặc cho vay các khoản mới với lãi suất cao hơn nếu thị tr-
ờng tín dụng trở nên căng thẳng.
Một hình thức tín dụng khác thuộc loại này là cho vay đối với các tổ chức
ngân hàng đầu t. Hỗ trợ cho hoạt động bảo lãnh phát hành trái phiếu , cổ phiếu
công ty và các giấy nợ của Chính phủ. Việc bảo lãnh phát hành chứng khoán

ời bán lẻ viết ngay séc trả tiền cho số hàng hoá đó. Nếu ngời bán lẻ không
thanh toán đợc, ngân hàng có thể buộc thu hồi hàng và trả một phần hoặc toàn
bộ số hàng đó cho nhà sản xuất kinh doanh để thu hồi số vốn cho vay. Hợp
đồng kế hoạch sàn thơng bao gồm một khoản dự phòng tổn thất tín dụng, tích
luỹ các khoản lãi thu đợc khi ngời vay trả tiền.
Quy mô của quỹ dự phòng sẽ giảm nếu có bất cứ khoản vay nào không đợc
hoàn trả. Khi dự phòng tổn thất tín dụng đạt tới mức định trớc, ngời bán lẻ sẽ đ-
ợc giam trừ một phần số lãi của hợp đồng trả góp.
+ Cho vay trên tài sản.
Sinh viên: Trần Quang Huy - Lớp NH 41A.
11
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp.
Trong những năm gần đây, những khoản cho vay trên tài sản là khoản tín
dụng đợc đảm bảo bằng các tài sản ngắn hạn của hãng đợc dự tính sẽ chuyển
thành tiền mặt trong tơng lai. Ngày càng chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng cho
vay ngắn hạn. Tài sản chủ yếu đợc dùng để bảo đảm cho các khoản vay bao
gồm các khoản phải thu, nguyên vật liệu hoặc thành phẩm tồn kho. Ngân hàng
cho vay theo một tỷ lệ phần trăm nhất định trên giá trị ghi sổ của tài khoản phải
thu, hoặc trên giá trị hàng tồn kho. Ví dụ ngân hàng có thể sẵn sàng cho vay
một khoản tiền bằng 70% khoản phải thu trên tài khoản thanh toán vãng lai của
doanh nghiệp. Một cách khác ngân hàng có thể cho vay tới 40% giá trị hàng
tồn kho hiện tại của doanh nghiệp gồm hàng hoá đang bán hoặc hàng hoá trong
kho. Khi thu hồi đợc các khoản phải thu hoặc bán đợc hàng doanh nghiệp sẽ
chuyển một phần tiền mặt thu về tới ngân hàng để trả nợ tiền vay.
Đối với hầu hết những khoản vay đợc thế chấp bằng các khoản phải thu hay
hàng tồn kho doanh nghiệp đi vay vẫn có quyền sở hữu đối với các tài sản đó.
Tuy nhiên đôi khi quyền sở hữu cũng đợc chuyển sang cho ngân hàng để hạn
chế rủi ro khi một số khoản nợ không đợc thanh toán nh dự tính.
- Cho vay trung hạn.
Là loại cho vay có thời hạn từ 1 đến 5 năm, loại tín dụng này chủ yếu đợc

Trong cho vay, để giảm thiểu rủi ro, tổn thất có thể xảy ra cho Ngân hàng
đối với những khách hàng không thực hiện đúng cam kết thoả thuận trong hợp
đồng tín dụng giữa Ngân hàng và khách hàng, ngân hàng thờng yêu cầu các
khoản cho vay phải có bảo đảm. Việc bảo đảm đối với khoản vay là rất cần thiết
bởi một mặt với doanh nghiệp sẽ phải có ý thức hơn trong kinh doanh và trả món
nợ, mặt khác đối vơi ngân hàng việc có bảo đảm đối với các khoản vay của doanh
nghiệp tạo nên tâm lý yên tâm hơn và giảm rủi ro. Có nhiều loại bảo đảm và do
đó cũng có nhiều loại cho vay theo hình thức bảo đảm khác nhau nh cho vay cầm
cố, cho vay thế chấp, cho vay bảo lãnh
Theo hình thức này ta có thể phân loại cho vay thành cho vay có bảo đảm và
không có bảo đảm.
- Cho vay có bảo đảm.
Là một loại hình tín dụng đợc cấp phát trên cơ sở có tài sản thế chấp, cầm
cố hoặc có sự bảo lãnh của bên thứ 3.
- Cho vay không có bảo đảm.
Là việc cấp tín dụng không cần tài sản thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh mà
dựa trên uy tín của chính khách hàng hay ngời ta còn gọi là tín chấp. Khách
hàng đợc ngân hàng cho vay theo hình thức này thờng là những khách hàng
truyền thống của ngân hàng có uy tín và độ tin cậy cao.
3.1.4 Theo phơng thức hoàn trả.
Theo phơng thức này ta có thể phân loại cho vay thành hai loại:
Sinh viên: Trần Quang Huy - Lớp NH 41A.
13
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp.
- Cho vay trả góp: Là loại cho vay mà khách hàng phải hoàn trả vốn, gốc và
lãi theo định kỳ, trả dần trong suốt kỳ hạn thực hiện hợp đồng. Kỳ hạn hoàn
trả có thể hàng tháng, hàng quý , nửa năm hoặc một năm.
- Cho vay trả một lần: Là loại cho vay trả một lần theo kỳ hạn đã thoả thuận.
3.1.5 Theo loại hình tiền tệ.
- Cho vay bằng ngoại tệ.

ợc tiến hành với trái phiếu Chinh phủ hoặc trái phiếu , kỳ phiếu của các Ngân
hàng thơng mại quốc doanh.
Hoạt động tín dụng có nhiều nghiệp vụ nh vậy nhng trong chuyên đề nghiên
cứu này ta chủ yếu đi sâu nghiên cứu hoạt động cho vay ngắn hạn của Ngân
hàng. Vì vậy từ giờ trở đi ta thống nhất một thuật ngữ tín dụng ngắn hạn là để
chỉ hoạt động cho vay ngắn hạn.
II. Quy trình phân tích tín dụng của Ngân hàng.
Để chuẩn hoá quá trình tiếp xúc, phân tích, cho vay và thu nợ đối với khách
hàng, các Ngân hàng thờng đặt ra quy trình phân tích tín dụng. Đó chính là các
bớc(hoặc nội dung công việc) mà cán bộ tín dụng, các phòng ban có liên quan
trong Ngân hàng phải thực hiện khi tài trợ cho khách hàng.
Bớc1: Phân tích trớc khi cấp tín dụng.
Đây là bớc quan trọng nhất, quyết định đến chất lợng của phân tích tín dụng.
Nội dung chủ yếu là thu thập và sử lý thông tin liên quan đến khách hàng bao
gồm năng lực sử dụng vốn vay và uy tín, khả năng tạo ra lợi nhuận và nguồn
ngân quỹ, quyền sở hữu các tài sản và các điều kiện kinh tế khác có liên quan
đến ngời vay.
Bằng các phơng pháp nh : phỏng vấn trực tiếp, mua hoặc tìm kiếm thông tin
qua các trung gian(qua các cơ quan quản lý, qua cac bạn hàng chủ nợ khác của
ngời vay, qua các trung tâm thông tin hoặc t vấn), thông qua các báo cáo của
ngời vay trính cho Ngân hàng. Ngân hàng sẽ có đợc những thông tin về khách
hàng của mình, một điều quan trọng đối với Ngân hàng là phải xử lý đợc các
thông tin đó, làm sao phải xác định đợc tín trung thực của những thông tin mà
Ngân hàng có đợc.
Nội dung phân tích chủ yếu của bớc này là phải tập trung vào:
- Đánh giá tài sản của khách hàng, việc đánh giá tài sản của khách hàng là
điều quan trọng đối với Ngân hàng bởi vì tài sản(một phần hoặc tất cả) của
khách hàng luôn đợc coi là vật đảm bảo cho khoản vay, tạo khả năng thu hồi
nợ khi khách hàng mất khả năng sinh lời. Khi đánh giá tài sản của khách
hàng thì Ngân hàng tập trung vào: Ngân quỹ, các chứng khoán có giá, hàng

trợ(khách hàng) và ngân hàng, với nội dung chủ yếu là ngân hàng cam kết cấp
cho khách hàng một khoản tín dụng(hoặc hạn mức tín dụng) trong một khoản
thời gian và lãi suất nhất định. Hợp đồng tín dụng là văn bản mang tính pháp luật
xác định quyền và nghĩa vụ của hai bên trong quan hệ tín dụng, đồng thời phải
tuân thủ các điều khoản của các luật, các quy định. So vậy, cả Ngân hàng và
khách hàng phải cân nhắc kỹ lỡng trớc khi ký kết hợp đồng tín dụng.
Sinh viên: Trần Quang Huy - Lớp NH 41A.
16
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp.
Nội dung của hợp đồng tín dụng gồm những khoản mục chính là: Họ tên, địa
chỉ của khách hàng; mục đích sử dụng vốn; số lợng tín dụng; lãi suất; phí; thời
hạn tín dụng; các loại bảo đảm; kế hoạch giải ngân; điều kiện thanh toán và các
điều kiện khác.
Bớc 3: Giải ngân và kiểm soát trong khi cấp tín dụng.
Sau khi hợp đồng tín dụng đã đợc ký kết, ngân hàng phải có trách nhiệm cấp
tiền cho khách hàng nh thoả thuận. Kèm theo việc cấp tín dụng, ngân hàng kiểm
soát khách hàng sử dụng tiền vay có đúng mục đích, đúng tiến độ không? Quá
trình sản xuất kinh doanh có những thay đổi bất lợi gì, có dấu hiệu lừa đảo hoặc
làm ăn thua lỗ hay không? Quá trình này cho phép ngân hàng thu thập thêm
thông tin về khách hàng. Nếu các thông tin phản ánh chiều hớng tốt cho thấy
chất lợng tín dụng đang đợc bảo đảm. Ngợc lại khi các khoản vay bị đe doạ Ngân
hàng có các biện pháp sử lý kịp thời. Ngân hàng đợc quyền thu hồi nợ trớc hạn,
ngừng giải ngân nếu bên vay vi phạm hợp đồng tín dụng. Ngân hàng có thể yêu
cầu khách hàng bổ xung tài sản thế chấp, giảm số tiền vay khi thấy cần thiết để
đảm bảo an toàn tín dụng. Đây cũng là quá trình ngân hàng thu thập thêm các
thông tin bổ sung cho các thông tin ở bớc 1 và ra quyết định cụ thể nhằm ngăn
chặn kịp thời các khoản tín dụng xấu.
Bớc 4: Thu nợ hoặc đa ra các phán quyết tín dụng mới.
Quan hệ tín dụng kết thúc khi ngân hàng thu hồi hết gốc và lãi. Ngoài những
khoản tín dụng đợc đảm bảo trả đầy đủ và đúng hạn còn có những khoản nợ quá

cung cấp có thoả mãn nhu cầu của họ hay không, làm sao để các thủ tục đợc giải
quyết một cách nhanh gọn, tiết kiệm thời gian và chi phí hợp lý. Nếu tất cả các
yếu tố này đều đáp ứng đợc nhu cầu của khách hàng thì khoản tín dụng đó đợc
coi là có chất lợng tốt và ngợc lại.
Do đó theo quan điểm của khách hàng thì chất lợng tín dụng là: Sự thoả mãn
nhu cầu của họ về khoản tín dụng trên các phơng diện, lãi suất, quy mô, thời
hạn, phơng thức giải ngân, phơng thức thu nợ
1.2 Chất lợng tín dụng theo quan điểm của ngân hàng.
Cũng nh bất cứ một doanh nghiệp nào trong nền kinh tế Ngân hàng cũng
phải hoạt động kinh doanh làm sao để đem lại càng nhiều thu nhập cho chủ sở
hữu thì càng tốt. Nhng điều rất khác của Ngân hàng đối với các doanh nghiệp
khác là Ngân hàng thơng mại là đơn vị kinh tế kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ
với 3 nghiệp vụ cơ bản: Nhận gửi, cho vay, cung ứng các dịch vụ thanh toán. Vì
thế theo quan điểm của Ngân hàng thì chất lợng tín dụng với các yếu tố cấu
thành cơ bản đó là mức độ an toàn của tín dụng và khả năng sinh lời do hoạt
động tín dụng mang lại.
Mối quan hệ giữa rủi ro và lợi nhuận hay mối quan hệ giữa an toàn và khả
năng sinh lời là mối quan hệ biện chứng. Mối quan tâm hàng đầu của tất cả các
nhà đầu t là phải cân nhắc giữa mức độ an toàn và khả năng sinh lời. Về nguyên
Sinh viên: Trần Quang Huy - Lớp NH 41A.
18
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp.
tắc đánh đổi giữa rủi ro và lợi nhuận thì mức độ rủi ro của lĩnh vực đầu t càng
cao thì sẽ có khả năng sinh lợi càng cao và ngợc lại.
Hơn nữa hoạt động của ngân hàng là hoạt động chứa nhiều rủi ro bởi lẽ số tiền
ngân hàng cho vay có tới hơn 50% là nguồn vốn ngoài vốn chủ sở hữu. Vì thế
nếu nh Ngân hàng không cân nhắc thận trọng thì sẽ lâm vào tình trạng Mất khả
năng thanh toán .
Đối với Ngân hàng, một khoản tín dụng có khả năng sinh lời cao khi khoản
tín dụng đó đến hạn thanh toán thì sẽ hoàn trả đầy đủ vốn gốc và lãi. Do đó theo

không thể không cần đến sự an toàn với các khoản vay.
Nền kinh tế nớc ta hiện nay đang trong thời kỳ quá độ để chuyển sang một
nền kinh tế thị trờng. Bản thân mỗi doanh nghiệp, tổ chức kinh tế cha thoát khỏi
t tởng bao cấp, t duy về nền kinh tế thị trờng còn nhiều hạn chế, do đó việc làm
ăn của các doanh nghiệp có nguy cơ dẫn đến rủi ro là rất lớn. Vì thế để nâng
cao chất lợng tín dụng Ngân hàng không chỉ là ngời cung cấp vốn cho các
doanh nghiệp mà Ngân hàng còn phải là ngời hiểu rõ hơn ai hết về lĩnh vực kinh
doanh của doanh nghiệp, có nh thế thì Ngân hàng mới mở rộng đợc các dịch vụ
của mình nh dịch vụ t vấn giúp doanh nghiệp tránh khỏi đợc những rủi ro
không đáng có.
Nh vậy, có thể thấy mục tiêu nâng cao chất lợng cho vay là điều kiện tối u
cần thiết cho mỗi Ngân hàng, nó vừa là yếu tố không những đảm bảo cho Ngân
hàng duy trì hoạt động mà còn giúp Ngân hàng phát triển. Nếu đi ngợc lại mục
tiêu trên, Ngân hàng sẽ đi đến chỗ tự huỷ diệt chính mình.
Về phía nhà đầu t: Khách hàng của Ngân hàng có hai loại: Ngời gửi tiền và
ngời vay tiền. Ngời gửi tiền thì họ quan tâm đến khả năng thanh toán của Ngân
hàng mà khả năng thanh toán của Ngân hàng lại có mối quan hệ mật thiết với
chất lợng của các khoản tín dụng vì vậy đối với họ nâng cao chất lợng tín dụng
là vấn đề cần thiết vì nó ảnh hởng trực tiếp đến những khoản tiền gửi của họ vào
Ngân hàng. Ngời vay tiền là ngời trực tiếp sử dụng giá trị sử dụng của các
khoản vốn vay Ngân hàng, mà đối với họ chất lợng tín dụng chính là sự thoả
mãn của họ về khoản tín dụng đó. Cuối cùng phải làm sao cho khoản tín dụng
đó đem lại lợi nhuận cho họ để họ có thể trang trải chi phí và có lãi. Bởi thế bản
thân ngời vay tiền coi vấn đề chất lợng tín dụng là vấn đề cần thiết và ngày càng
phải đợc nâng cao.
Nếu xét trên quan điểm toàn xã hội thì vấn đề chất lợng tín dụng cũng là vấn
đề cần thiết. Bởi một đồng vốn của Ngân hàng cho vay nó là đầu mối trong tất
cả các mối quan hệ kinh tế, nếu ngời sử dụng vốn đó hiệu quả thì cũng đồng
nghĩa với việc nó co hiệu quả đối với Ngân hàng và xã hội bởi nó sẽ góp phần
thúc đẩy phát triển kinh tế, đóng góp phát triển các công trình phúc lợi xã hội.

vội.
3.1.2. Môi trờng pháp lý.
Bất kỳ một nền kinh tế nào muốn ổn định và phát triển thì cũng cần có một
hành lang pháp lý thích hợp, hành lang pháp lý chính là bàn tay hữu hình của
Nhà nớc tác động vào nền kinh tế nhằm hớng nền kinh tế phát triển theo đúng
mục tiêu, chế độ của mình. Hoạt động Ngân hàng là một trong những hoạt động
kinh tế trong tổng thể nền kinh tế vì vậy nó cũng chịu ảnh hởng của hệ thống
Pháp luật nhất là Luật các tổ chức tín dụng. Nói đến môi trờng pháp lý là nói
đến tính đồng bộ của hệ thống pháp luật, tính đầy đủ, tính thống nhất của các
Sinh viên: Trần Quang Huy - Lớp NH 41A.
21
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp.
văn bản dới luật, đồng thời gắn liền với quá trình chấp hành pháp luật và trình
độ dân trí.
Việc hoàn chỉnh cơ chế, thể hiện tín dụng của ngành đúng với Luật Ngân
hàng, phù hợp với thực tiễn là một điều quan trọng để nâng cao chất lợng tín
dụng.
Hiện nay nớc ta có nhiều bộ luật, tuy nhiên vẫn còn có nhiều bất cập cha sát
với thực tế gây ảnh hởng đến hoạt động kinh tế xã hội nói chung và hoạt động
tín dụng Ngân hàng nói riêng. Trong điều kiện nh vậy việc vận dụng thực thi
các bộ luật đã có nh thế nào để có thể tạo đợc hành lang pháp lý đầy đủ cho
hoạt động Ngân hàng là vấn đề có ảnh hởng rất lớn đến hoạt động tín dụng.
3.1.3 Trình độ quản lý, năng lực, chất lợng và hiệu quả hoạt động sản xuất
kinh doanh của các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế và cá nhân vay vốn.
Trong khi các doanh nghiệp trực tiếp sử dụng và quản lý vốn của mình thì
Ngân hàng sử dụng vốn của mình dới hình thức gián tiếp: Đó là giao vốn cho
doanh nghiệp không đợc trực tiếp quản lý vốn của mình mà thông qua hình thức
giám sát doanh nghiệp vay vốn. Do vậy, chất lợng tín dụng Ngân hàng chịu nhiều
chi phối từ bản thân hoạt động kinh doanh của khách hàng vay vốn.
Chất lợng hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp tốt hay xấu, tơng

thức đợc điều này, không tự đổi mới, tìm cách tạo dựng và phát triển thế mạnh
riêng của mình, có hớng đi và chính sách tín dụng thích hợp thì sẽ khó lòng tồn
tại và phát triển, trong đó chiến lợc con ngời giữ vai trò chủ đạo.
Thực tế cho thấy rằng, nếu Ngân hàng có đội ngũ cán bộ nhanh, nhạy, sáng
tạo trong công việc, có tinh thần tập thể vì lợi ích của Ngân hàng thì Ngân hàng
đó có thể đứng vững và phát triển, ngày càng có uy tín. Trong khi đó có những
cán bộ tín dụng gian dối trong thẩm định tín dụng của Ngân hàng đánh giá sai tài
sản thế chấp, lơ là sự giám sát đối với các doanh nghiệp để Ngân hàng gặp rủi ro.
Bên cạnh đó các yếu tố khách quan nh thiên tai, dịch hoạ, cơ chế chính sách,
khách hàng gặp khó khăn dẫn tới thua lỗ thì bản thân Ngân hàng phải chịu
trách nhiệm chính cho hiện tợng chất lợng tín dụng bị giảm. Trong đó vai trò của
cán bộ tín dụng có ảnh hởng rất lớn đến chất lợng của các món vay, bởi họ chính
là ngời trực tiếp nhận hồ sơ, thẩm định, đề suất cho vay và theo dõi quản lý thu
nợ của khách hàng. Chính vì vậy cán bộ tín dụng là ngời, nguồn lực quan trọng
nhất của các Ngân hàng khi tìm nguyên nhân nợ quá hạn, các khoản vay không
thu hồi đợc.
Nh vậy, để có một khoản vay tốt thì cần phải có nhiều điều. Ngoài một báo cáo
tài chình vững mạnh cần có đội ngũ cán bộ tín dụng vững về kỹ thuật nghiệp vụ,
trực giác nhạy bén sắc sảo. Thông qua việc đào tạo và lựa chọn những cán bộ có
năng lực, thiết lập một cơ chế tổ chức thích hợp thì các Ngân hàng bắt đầu một
quá trình cải thiện chất lợng tín dụng, giảm thiểu các rủi ro để ngày một nâng cao
uy tín của mình trong xã hội.
4. Các chỉ tiêu phản ánh chất lợng tín dụng.
Sinh viên: Trần Quang Huy - Lớp NH 41A.
23
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp.
4.1. Nhóm chỉ tiêu định tính.
Nhóm chỉ tiêu này nhằm đánh giá tình hinh, quy chế, chế độ, thể lệ tín dụng
của Ngân hàng.
Khi cho vay vốn Ngân hàng phải tuân thủ 3 nguyên tăc đó là:

24
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp.
chất lợng cho vay thấp. Chỉ tiêu này thờng đợc sử dụng khi phân tích đánh giá
chất lợng cho vay của Ngân hàng thơng mại. Phân tích chất lợng thông qua chỉ
tiêu nợ quá hạn cần chú ý nh sau:
- Nợ quá hạn theo nguyên nhân.
- Nợ quá hạn theo thành phần kinh tế có tài sản thế chấp hay không có tài sản
thế chấp, có khả năng thu hồi hay không có khả năng thu hồi.
- Nợ quá hạn theo thời gian: Nợ quá hạn dới 180 ngày, nợ quá hạn trên 180
ngày.
Giải quyết nợ quá hạn là môt quan tâm thờng trực của tất cả các Ngân hàng
thơng mại và có nhiều vấn đề cần phải làm, song việc quan trọng nhất là chất
lợng cho vay.
4.2.2 Hiệu suất sử dụng vốn vay.
Tổng d nợ
Hiệu suất sử dụng vốn vay =
Tổng vốn huy động
Chỉ tiêu này cho biết Ngân hàng cho vay đợc bao nhiêu trên một đồng vốn
huy động. Do Ngân hàng phải trả lãi cho các khoản tiền mà Ngân hàng đi vay
nên Ngân hàng cần tận dụng hết sức các khoản vốn huy động để tạo ra lợi
nhuận bù đắp chi phí và có lãi. Mục đích của Ngân hàng là làm sao tạo ra đợc
nhiều khoản tín dụng lành mạnh và có hiệu quả, góp phần mở rộng và tăng cờng
sự ổn định hoạt động của Ngân hàng.
4.2.3 Tỷ lệ sử dụng vốn sai mục đích.

Một trong những nguyên tắc vay vốn Ngân hàng là phải sử dụng vốn đúng mục
đích nh đã thoả thuận. Nếu nh sử dụng vốn sai mục đích thì điều đó chứng tỏ có
hành vi lừa dối Ngân hàng và khoản cho vay này có nguy cơ mất khả năng hoàn
trả cao. Tỷ lệ sử dụng vốn sai mục đích càng cao thì chất lợng cho vay bị đánh
giá càng thấp và ngợc laị.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status