LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Vai trò của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam đối với những khởi
sắc của nền kinh tế trong suốt thời gian qua là không thể phủ nhận. Như huyết
mạch của thị trường tài chính - tiền tệ nói riêng và toàn bộ nền kinh tế nói
chung, các ngân hàng thương mại đã luôn đóng vai trò chủ đạo trong việc tận
dụng và phát huy các nguồn lực tài chính trong nước, đáp ứng nhu cầu tín dụng
của đông đảo đối tượng và thành phần kinh tế, phục vụ đắc lực cho việc phát
triển kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, vị trí ấy đang bị lung lay, vì cùng với sự hội
nhập quốc tế ngày càng chủ động và tích cực hơn của Việt Nam trong thời gian
gần đây, thị trường tài chính - ngân hàng sẽ mở rộng cửa cho các nhà đầu tư
nước ngoài. Việc cạnh tranh là không thể tránh khỏi, do đó năng lực cạnh tranh
là vấn đề then chốt.
Bàn về năng lực cạnh tranh của hệ thống ngân hàng thương mại Việt
Nam, có rất nhiều điều để trăn trở: trình độ phát triển thị trường và trình độ quản
lý thấp, chất lượng tài sản không cao, công nghệ ngân hàng lạc hậu, dịch vụ còn
giới hạn, v.v…Song, một trong những hạn chế lớn nhất, ảnh hưởng cơ bản nhất
đến khả năng cạnh tranh của các định chế tài chính này tại Việt Nam chính là
tiềm lực tài chính còn hết sức yếu kém, mà Vốn chủ sở hữu là thước đo cho tiềm
lực ấy.
Nếu ngân hàng có thể hoạt động và lớn mạnh như một cây cổ thụ, thì vốn
chủ sở hữu chính là rễ của cái cây đó. Không chỉ tạo cơ sở hình thành và điều
kiện mở rộng cho ngân hàng, trong suốt quá trình hoạt động, nguồn vốn ấy luôn
đóng vai trò là tấm đệm chống đỡ mọi tổn thất đến từ lĩnh vực kinh doanh chứa
đựng đầy rủi ro này. Có thể nói, vốn chủ sở hữu là xuất phát điểm đầu tiên, và
cũng là cứu cánh cuối cùng cho mọi ngân hàng duy trì được sự tồn tại và phát
triển của mình. Một mức vốn chủ sở hữu đủ lớn sẽ giúp tránh được những vụ
phá sản ngân hàng _ một tai họa đem lại ảnh hưởng bất lợi đối với nền kinh tế
có lẽ là hơn bất cứ loại hình doanh nghiệp nào khác. Vì vậy, tìm hiểu sâu về
1
thực trạng vốn chủ sở hữu của các ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay, và
các ngân hàng thương mại.
Chương II: Thực trạng Vốn chủ sở hữu của các ngân hàng thương mại
Việt Nam.
Chương III: Một số giải pháp tăng vốn chủ sở hữu cho các ngân hàng
thương mại Việt Nam nhằm phù hợp với sức ép tăng vốn của bối cảnh hội nhập.
Em xin chân thành cảm ơn cô giáo - giảng viên khoa Tài Chính Ngân
Hàng của trường Đại học Ngoại Thương, đã hết sức tận tình chỉ bảo và giúp đỡ
em hoàn thành Khóa Luận này.
3
NỘI DUNG
CHƯƠNG I
LÝý LUẬN CHUNG VýỀ VỐN CHỦ SỞ HỮU VÀ HỆ SỐ AN TOÀN
VỐN CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
I. Tổng quan về Ngân hàng thương mại
1. Khái niệm
Ngân hàng (NH) là một trong các định chế tài chính quan trọng nhất của nền
kinh tế. Có thể định nghĩa NH qua các chức năng, dịch vụ, hoặc vai trò mà
chúng thực hiện, nhưng những yếu tố trên đang không ngừng thay đổi: Rất
nhiều tổ chức tài chính_bao gồm cả các công ty kinh doanh chứng khoán, môi
giới chứng khoán, quỹ tương hỗ hay công ty bảo hiểm…đang nỗ lực cung cấp
các dịch vụ ngân hàng; Ngược lại, NH cũng đang đối phó với các đối thủ cạnh
tranh (các tổ chức tài chính phi NH) bằng cách mở rộng phạm vi cung cấp dịch
vụ về bất động sản và môi giới chứng khoán, đầu tư vào quỹ tương hỗ, v.v Do
đó, cách tiếp cận thận trọng nhất có lẽ là xem xét NH trên phương diện những
loại hình dịch vụ mà nó cung cấp. Theo cách này:“Ngân hàng là các tổ chức tài
chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất _ đặc biệt là
tín dụng, tiết kiệm, dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính
nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế” [10]. Cũng có
một số định nghĩa dựa trên các hoạt động chủ yếu của NH, ví dụ tại Việt Nam
theo Điều 1_Khoản 3 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật các TCTD (số
của Chính phủ) là nguồn tài chính quan trọng để đầu tư phát triển; Đối với các
doanh nghiệp, NH thường là tổ chức cung cấp tín dụng để phục vụ mua hàng
hóa dự trữ, xây dựng nhà máy, mua sắm trang thiết bị, v.v
- Trung gian thanh toán: thay mặt khách hàng thực hiện thanh toán cho việc
mua hàng hóa và dịch vụ bằng cách phát hành séc, thẻ, ủy nhiệm chi,…cung cấp
mạng lưới thanh toán điện tử, kết nối các quỹ và cung cấp tiền giấy, tiền đúc.
- Tạo tiền: xuất phát từ chức năng trung gian tín dụng và than toán mà NH có
khả năng “tạo tiền”. Từ một khoản tiền gửi ban đầu vào NH, thông qua cho vay
5
bằng chuyển khoản (vì không phải mọi khoản vay đều được rút ra bằng tiền mặt
để đưa vào lưu thông), các NH nhân số tiền đó lên rất nhiều lần.
2. Các nghiệp vụ của ngân hàng thương mại
Các NHTM có những nghiệp vụ là: Nghiệp vụ tài sản nợ _ là nghiệp vụ huy
động, tạo nguồn vốn (với các dịch vụ như nhận tiền gửi, đi vay, phát hành kỳ
phiếu, trái phiếu, v.v.); Nghiệp vụ tài sản có _ là việc sử dụng những nguồn vốn
tạo dựng được vào các hoạt động kinh doanh (cho vay, thuê mua, tài trợ dự án,
đầu tư chứng khoán. v.v ) ; Nghiệp vụ trung gian (hoạt động ngoại bảng) _ là
các nghiệp vụ mà NHTM thực hiện căn cứ theo yêu cầu của khách hàng, thay
mặt khách hàng thanh toán, làm ủy thác,v.v để thu phí (bảo lãnh, đại lýý, quản
lýý ngân quỹ, v.v ). Cùng với sự phát triển của nền kinh tế cũng như ngành
ngân hàng nói riêng, số dịch vụ mà NHTM cung cấp cho ba nghiệp vụ nói trên
hiện nay đã lên tới con số 6.000.
Với những chức năng và nghiệp vụ nói trên, NHTM có vai trò bôi trơn sự
lưu thông của tiền tệ, chuyển dịch vốn từ nơi thừa sang nơi thiếu, huy động và
tạo nguồn lực phát triển kinh tế, thực hiện các chính sách của Chính phủ (đặc
biệt là chính sách tiền tệ), góp phần điều tiết sự tăng trưởng kinh tế và theo đuổi
các mục tiêu xã hội.
3. Ngân hàng _ ngành kinh doanh có độ rủi ro cao
Lĩnh vực kinh doanh nào cũng luôn hàm chứa rủi ro, song đối với NH _ với
tư cách là một định chế tài chính đặc biệt _ nhân tố này lại càng là một yếu tố
xxviii
]. Tuy nhiên,
chiếc bánh xe nhỏ ấy lại là khớp nối cho cả guồng máy ngân hàng, đóng vai trò
sống còn trong việc duy trì các hoạt động thường nhật và đảm bảo khả năng phát
triển lâu dài của NHTM, đồng thời các thành phần của VCSH cũng được phân
loại một cách chi tiết để đáp ứng các công tác đánh giá vốn của NH (sẽ đề cập ở
các phần sau).
7
Năm 1988, Uỷ ban giám sát ngân hàng Basel (Basel Committee on
Banking Supervision) đã đưa ra văn bản: “Sự thống nhất quốc tế về đo lường
vốn và các tiêu chuẩn vốn” (International Convergence of Capital
Measurement and Capital Standards
), trong đó đưa ra định nghĩa dựa trên các
thành phần của vốn tại NHTM (Capital
1
)_ mà bản chất là VCSH. Từ đó đến
nay, đặc biệt là trong thời gian gần đây khi thị trường tài chính phát triển hết sức
sôi động, hầu hết các NH trên thế giới đều áp dụng những chuẩn mực phân loại
đó. Các nhà kinh tế và học giả Việt Nam cũng đi theo tinh thần của văn bản trên,
song lại thiếu sự thống nhất về tên gọi. Điều này khiến cho việc tìm hiểu bản
chất của phạm trù VCSH sao cho đúng với thông lệ quốc tế và pháp luật Việt
Nam có phần phức tạp. Trong những tài liệu thuộc lĩnh vực NH (của Việt Nam
hoặc được dịch sang tiếng Việt), các tác giả đưa ra nhiều cách gọi tên khác nhau
khi đề cập đến VCSH của NHTM: “Vốn tự có”[7][11][13]; hoặc “VCSH”[4]
[5][6][10]; hoặc đồng nhất các khái niệm “Vốn”, “Vốn tự có”, “VCSH” [12].
Trong các văn bản luật có liên quan, như Luật các tổ chức tín dụng (Số
02/1997/QH10) Chương I_Điều 20_khoản 13 và bản sửa đổi bổ sung (Số
20/2004/QH11) Điều 1_khoản 3, hay trong một văn bản quan trọng có đề cập
trực tiếp những vấn đề về vốn của NH là Quy định về các tỷ lệ đảm bảo an toàn
Vốn cổ phần phổ thông: được tính bằng mệnh giá của tất cả các cổ phiếu phổ
thông (cổ phiếu thường) đã phát hành, nghĩa là tổng số cổ phần chưa thanh toán
nhân với mệnh giá cổ phần.
Vốn cổ phần ưu đãi: được tính bằng mệnh giá của tất cả các cổ phiếu ưu đãi
đã phát hành. Cổ phiếu ưu đãi có thể là vĩnh viễn hoặc chỉ tồn tại trong một thời
gian nhất định, đảm bảo một tỉ lệ thu nhập cố định hoặc số phiếu biểu quyết
nhiều hơn so với cổ phiếu thường. Theo quyết định ngày 4/9/2001 của Thống
đốc NHNN Việt Nam quy định về cổ đông, cổ phần, cổ phiếu và vốn điều lệ của
NHTMCP của Nhà nước và Nhân đân (Số 1122/2001/QĐ-NHNN) Chương
II_Mục 1_Điều 7: “NHTMCP có thể có cổ phần ưu đãi biểu quyết; Loại cổ phần
này chỉ có giá trị trong 3 năm kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng kýýý
kinh doanh. Sau thời hạn đó, cổ phần ưu đãi biểu quyết chuyển đổi thành cổ
phần phổ thông”.
Trong nhiều trường hợp, mức vốn điều lệ của mỗi NH phải tuân thủ theo
định mức của các cơ quan quản lý Nhà nước _ mức vốn tối thiểu cần đáp ứng đó
được gọi là Vốn pháp định. Vốn điều lệ chủ yếu được dùng để mua sắm bất
động sản, động sản, trang thiết bị …phục vụ cho hoạt động của NH, bên cạnh đó
**
Tham khảo ví dụ ở Bảng phụ1 v Bà ảng phụ 2 phần Phụ lục.
9
còn dùng để góp vốn liên doanh, cho vay, mua cổ phần của các công ty khác,
chứ không được dùng để chia lợi tức hay lập quỹ. Có nghĩa là, khi NH đi vào
hoạt động, nguồn vốn này có thể đã nằm dưới dạng trụ sở, văn phòng, kho bãi,
dự trữ hay kýý quỹ tại NHTW, hoặc đã được đưa vào một vụ cho vay hay đầu tư
nào đó. Ngoài ra, vốn điều lệ có thể được tăng thêm, và ngược lại, cũng có thể bị
buộc phải điều chỉnh giảm. Tại Việt Nam điều này được quy định tại Điều
1_Khoản 1, Quyết định 797/2002/QĐ-NHNN ngày 29/7/2002 về sửa đổi bổ
sung quyết định 1122/2001/QĐ-NHNN, trong đó nêu một số chi tiết như: “Vốn
điều lệ của Ngân hàng thương mại cổ phần có thể được tăng bằng cách phát
hành cổ phiếu mới hoặc được bổ sung từ quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ, đánh
của các cổ đông, chủ sở hữu NH, nhưng đã được vốn hóa để mở rộng quy mô
cho VCSH, tái đầu tư, và trích lập các quỹ. Trên thực tế, đối với các NH nước
ngoài, đây lýà nguồn quan trọng nhất để tăng quy mô VCSH nói riêng và vốn
NH nói chung: giai đoạn cuối thập niên 80 - đầu thập niên 90, khoảng 70% số
gia tăng về vốn là xuất phát từ lợi nhuận giữ lại [7].
iv. Các quỹ/ khoản dự trữ
Trong quá trình hoạt động, các NH hoặc do tuân theo quy định của nhà nước,
hoặc do tự nhận thấy cần thiết để đảm bảo hoạt động và đề phòng rủi ro, đều
tiến hành trích lập các quỹ dự trữ. Có nhiều loại quỹ khác nhau:
- Quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ: được trích lập hàng năm theo tỷ lệ phần trăm
trên tổng lợi nhuận sau thuế, với một mức tối đa do nhà nước quy định.
- Quỹ bảo toàn vốn: tính theo tỉ lệ lạm phát, nhằm bảo toàn giá trị của VCSH
trong môi trường lạm phát của nền kinh tế.
- Quỹ dự phòng bù đắp rủi ro: Kinh doanh NH luôn gắn liền với rủi ro. Vì vậy,
để dự phòng nguy cơ các tài sản bị tổn thất, vốn bị ăn mòn, các NH đều trích
lập các khoản dự trữ nhằm bù đắp những thiệt hại khi xảy ra tình huống bất
thường. Do quỹ này được trích từ lợi nhuận trước thuế _ tính chất như một
khoản chi phí, nên một số NH không hạch toán nó vào VCSH mà vào các
khỏan nợ. Nếu được liệt kê vào VCSH, khi tổn thất thực của NH nhỏ hơn số
trích lập, vốn chủ của NH sẽ gia tăng, và ngược lại. Như vậy, quy mô của quỹ
này phụ thuộc vào tổn thất ròng, thu nhập của NH, và tỉ lệ trích lập quỹ.
11
Ngoài ra, NH còn có các quỹ khác như Quỹ đánh giá lại tài sản (Do giá trị
các tài sản và nợ của NH thường xuyên thay đổi theo giá thị trường, đặc biệt là
các chứng khoán, bất động sản, nên mặc dù vẫn đang nắm giữ các tài sản này,
NH thường xuyên đánh giá lại chúng theo giá thị trường. Quỹ này biến động gắn
liền với sự thay đổi của thị giá, do đó cho phép các nhà quản lýý đánh giá được
giá trị thị trường của VCSH), Quỹ chênh lệch tỷ giá do chuyển đổi báo cáo tài
chính, và NH cũng trích lập các quỹ khác từ lợi nhuận sau thuế như: quỹ phát
triển kỹ thuật nghiệp vụ NH, quỹ phúc lợi khen thưởng, quỹ đào tạo…Các quỹ
Ban Nha, Thụy Điển, Thụy Sỹ, và Vương quốc Anh), với mục tiêu là đảm bảo sự
giám sát hiệu quả các NH trên toàn cầu thông qua việc xây dựng và phát triển các
tiêu chuẩn quốc tế. Các cuộc họp của ủy ban thường diễn ra tại Ngân hàng thanh
toán quốc tế Basel (Bank for international settlements), thuộc Thụy Sỹ _ nơi ban
thư kýýýý thường trực đặt trụ sở. Uỷ ban không có thẩm quyền cưỡng chế thực
hiện những đề xuất của mình, dù các nước thành viên (và cả nhiều nước khác) có
khuynh hướng chủ động thi hành những chính sách của ủy ban thông qua luật
quốc gia (chính vì thế, thường mất một khoảng thời gian kể từ khi các đề xuất,
khuyến nghị ra đời đến khi nó được đưa vào cấp độ luật và điều lệ quốc gia).
Năm 1987, BCBS đã soạn thảo những đề xuất cho tiêu chuẩn mới về vốn, áp
dụng cho các NH, tổ chức tài chính nhằm khuyến khích các NH lớn củng cố
trạng thái vốn, hạn chế sự không bình đẳng trong quy định giữa các quốc gia
khác nhau và xem xét những rủi ro đối với hoạt động ngoài bảng cân đối kế toán
mà các NH thực hiện trong thời gian gần đó. Năm 1988, đề xuất này chính thức
được thông qua dưới cái tên Hiệp ước Basel 1988 _ hiện nay được biết đến như
là Basel I, nhằm phân biệt với bản sửa đổi bổ sung Basel II năm 1999. Hiệp ước
này được cưỡng chế thi hành theo luật quốc gia của các nước G-10 từ năm 1992
và đến nay, hơn 100 nước trên thế giới cũng đã áp dụng những nguyên tắc cơ bản
của các đề xuất này [41
iii
].
Cũng với những thành phần tương tự như trên, nhưng Hiệp ước Basel I phân
loại VCSH của NHTM thành hai lớp phù hợp cho việc đánh giá được tính ổn
định và an toàn của nguòn vốn này tại NHTM. Theo đó, VCSH của NHTM gồm:
13
- Vốn cơ sở _ hay Vốn cơ bản, Vốn loại 1 _ (Core Capital, hay Tier 1
Capital): là chỉ tiêu cơ bản để đo lường sức mạnh tài chính của NH nhìn nhận
dưới góc độ của các nhà quản lýý. Nó bao gồm những loại vốn tài chính được
xem là đáng tin cậy nhất và có tính lỏng cao nhất, thực sự tồn tại, và tương đối
ổn định trong suốt quá trình hoạt động của NH, đảm bảo cho NH vận hành bình
So với các loại hình kinh tế khác, NHTM sử dụng một khối lượng tài chính
cao gấp nhiều lần. Một hãng sản xuất tiêu biểu thường chỉ có khoảng 1/3 tích sản
(tài sản có) là được tài trợ bằng vốn vay; trong khi đó, nếu tổng kết bảng cân đối
kế toán của các NHTM sẽ thấy thông thường, khoảng 90 - 92% nguồn tài chính
cho các NH hoạt động là các khoản nợ (vốn của người kýý thác và các chủ nợ
khác) _ có nghĩa là số vốn của các chủ NH chỉ chiếm khoảng 8 - 10 % tổng tài
sản mà thôi. Tuy nhiên, VCSH của NH lại là ýyếu tố chịu sự giám sát hết sức
chặt chẽ của cả các nhà quản trị NHTM cũng như các nhà quản lýý Trung ương ,
bởi lẽ nó có những chức năng và vai trò vô cùng quan trọng như sau:
1.3.1. Tấm đệm chống đỡ rủi ro, bảo vệ người gửi tiền/kýý thác và các quỹ
bảo hiểm tiền gửi
Đây là chức năng quan trọng hàng đầu của VCSH tại các NHTM. Như đã
trình bày ở phần đầu, kinh doanh ngân hàng thường xuyên phải đối mặt với rất
nhiều rủi ro khiến các NH đứng trước nguy cơ đổ vỡ. Thực tế, NH có nhiều biện
pháp để phòng chống rủi ro, bảo vệ tình trạng tài chính của mình như: nâng cao
chất lượng quản lý, đa dạng hóa danh mục đầu tư và địa bàn hoạt động, bảo hiểm
tiền gửi,v.v…Song, khi tất cả những phương pháp ngăn chặn này đều không còn
hiệu quả, thì VCSH sẽ là cứu cánh cuối cùng. ýNhờ VCSH _trước tiên là quỹ dự
phòng rủi ro, kế đến là lợi nhuận tích lũy, và cuối cùng là vốn cổ phần_ các khỏan
tổn thất của NH sẽ được bù đắp, cho phép NH tiếp tục tồn tại. Chỉ khi các khoản
thua lỗ của NH lớn tới mức tất cả các biện pháp nói trên, kể cả VCSH, đều không
thể khắc phục nổi thì nó sẽ buộc phải đóng cửa. Trường hợp NH phá sản hoặc
ngừng hoạt động, các khoản tiền gửi đã huy động sẽ được ưu tiên hoàn trả trước,
sau đó đến nghĩa vụ với chính phủ và người lao động, các khoản vay, cuối cùng
mới đến chủ giấy nợ có khả năng chuyển đổi, cổ phần ưu đãi, cổ phần thường. Vì
vậy, trong môi trường kinh tế tài chính nói chung vốn tiềm ẩn nhiều rủi ro như
hiện nay, các NH càng phải nắm giữ nhiều VCSH hơn, đặc biệt là những NH
15
chọn kinh doanh trên một số mảng có mức độ rủi ro cao nhằm tăng sức cạnh
tranh so với đối thủ.
1
đã được xây dựng trên cơ sở tỷ lệ này
nhằm giúp các NHTM xác định mức VCSH cần thiết để đảm bảo tính an toàn
trong hoạt động của họ.
Bên cạnh đó, vì hầu hết các NHTM hiện nay đều tham gia Bảo hiểm tiền gửi,
nên khi có thể tự chi trả cho những chủ nợ của mình tức là các NH đã bảo vệ cho
nhà bảo hiểm thông qua việc tránh cho họ phải chi những khoản bồi thường.
1.3.2. Tạo điều kiện cho sự thành lập và hoạt động ban đầu của NHTM
Điều kiện bắt buộc để NH có giấy phép tổ chức và hoạt động trước khi tính
đến việc huy động những khoản tiền gửi đầu tiên là phải đáp ứng yêu cầu về vốn
pháp định. Mỗi NH mới đều cần vốn ban đầu để xây dựng, mua sắm hoặc thuê
mướn cơ sở hạ tầng, trang thiết bị, thuê nhân viên…,phần còn lại tham gia vào
quá trình kinh doanh của NH như cho vay hoặc mua chứng khoán.
1.3.3. Tạo niềm tin cho người gửi tiền và thu hút tiền gửi
Bên cạnh nguồn vốn điều lệ ban đầu, các NHTM đều phải dựa chủ yếu vào
các khỏan tiền huy động được từ các chủ thể khác trong xã hội để tiến hành các
hoạt động. Những người kýý thác tài sản của mình vào các NHTM _ hoặc do ít
có điều kiện và thời gian, hoặc cảm thấy không cần thiết phải phân tích chi tiết
thêm các yếu tố khác_ có xu hướng đánh giá độ đảm bảo và năng lực của NH
thông qua quy mô vốn của các tổ chức này. Trong trường hợp những điều kiện
khác tương tự nhau, những NH có vốn lớn thường hấp dẫn người gửi tiền hơn
NH có vốn nhỏ hơn. Tiềm lực tài chính của NH mạnh sẽ tạo được sự tin tưởng ở
công chúng, và quy mô vốn chính là một yếu tố thiết thực nói lên điều đó. Trong
điều kiện thông tin mở và các phương tiện thông tin phát triển như hiện nay,
khách hàng có thể dễ dàng tiếp cận các Bảng cân đối kế toán, các thông số tài
chính để so sánh các NH trước khi đưa ra quyết định kýý thác vốn của mình cho
họ; vì thế, quy mô VCSH của các NHTM càng cần được chú ýý hơn.
1.3.4. Cung cấp nguồn lực tài chính cho sự tăng trưởng và phát triển
1
Xem chi tiết ở mục 2.2 của phần II n y.à
chính, các NH khi bị thiệt hại nghiêm trọng có thể làm các cổ đông mất đi nguồn
tài sản mà trong nhiều trường hợp, người ta phải dành dụm cả đời hoặc doanh
nghiệp phải tích lũy vốn qua nhiều thế hệ mới có được. Rộng hơn, những thua lỗ
này ảnh hưởng tiêu cực đến niềm tin của công chúng và có thể lan sang các thành
phần kinh tế khác một cách dây chuyền. Vì thế, sự an toàn của các NHTM vẫn
luôn luôn là mối quan tâm đối với các cổ đông, những người kýýý thác, cũng như
giới chức điều hành.
Hiệp ước Basel đặt ra những yêu cầu về vốn tối thiểu cho các NH. Văn bản
này đã đưa ra một chỉ số đo lường sự an toàn vốn của các NHTM, gọi là Hệ số
an toàn vốn, hay: Hệ số CAR (Capital Adequacy Ratio). Để đánh giá mức an
toàn về vốn, người ta còn dùng Tỷ số đòn bẩy tài chính (Leverage Ratio) tính
bằng tỷ lệ “Vốn cơ bản/ Tổng tài sản”. Song, cách tính này chưa nhìn nhận
được ảnh hưởng của các yếu tố rủi ro tiềm ẩn trong kinh doanh NH, và khe hở
này đã được hệ số CAR bổ sung.
2.1. Hệ số CAR
2.1.1. Hệ số CAR theo Hiệp ước Basel 1
Hệ số được xác định như sau:
∑ VCSH
CAR
Basel 1
= ———————————————— x 100%
∑ Giá trị quy đổi của tài sản có rủi ro
Trong đó:
(i). VCSH : bao gồm các thành phần như đã trình bày trong phần 1.2.2 trên.
(ii). Tài sản được điều chỉnh theo tỷ lệ rủi ro (Risk-
weighted assets):
Trong danh mục Tài Sản Có của NHTM, ngoại trừ một số được xem như
không có rủi ro như: tiền mặt, tiền gửi NHTW, v.v…thì hầu hết các thành phần
khác đều đi kèm với những rủi ro nhất định: cho vay không thu hồi được, chứng
khoán đầu tư bị giảm giá, vốn góp liên doanh bị thua lỗ, v.v…Do vậy, theo tinh
20
- Tỷ lệ :
Trong đó Vốn loại 2 ≤ 100% Vốn loại 1.
Ví dụ: Giả sử một NHTM có quy mô và cấu trúc TS như sau:
Phân loại TS
GT
ghi sổ
($)
Hệ số chuyển
đổi thành
nội bảng (%)
Hệ sổ
rủi ro
(%)
GT TS
đã điều
chỉnh
($)
1. TS nội bảng
- Tiền mặt và tiền gửi NHNN
- Trái phiếu dài hạn của Chính
phủ
- Tiền gửi NHTM khác trong
nước
- Cho vay thế chấp nhà
- Cho vay kinh doanh
100
400
100
40
20
Tổng: 600 60
Tổng TS mà NH nắm giữ: 2600 1430
Giả sử NH này có lượng VCSH (gồm Vốn cơ sở + Vốn bổ sung) là 100. Khi đó:
100
CAR = ——— x 100% ≈ 7%
1430
Như vậy, theo tiêu chuẩn của Hiệp ước Basel, NH này chưa đảm bảo đủ điều
kiện
21
an toàn về vốn và cần có những điều chỉnh thích hợp _ hoặc là tăng VCSH, hoặc
là hạn chế các hoạt động kinh doanh có tỷ lệ rủi ro cao.
2.1.2. Hệ số CAR theo Hiệp ước Basel II
Sau mười năm áp dụng, cùng với những thay đổi vô cùng nhanh chóng về
công nghệ, tài chính, và cơ chế pháp lý, bản Basel 1 đã bộc lộ rất nhiều yếu
điểm. Với một mức quy định CAR sàn là 8%, các NH có xu hướng chuyển
những tài sản chất lượng cao ra ngoài bảng CĐKT dẫn đến sự giảm giá trị trung
bình về chất của danh mục cho vay; đồng thời NH duy trì những hoạt động ít
rủi ro hơn (vì một khoản nợ cho một NH Thổ Nhĩ Kỳ chỉ cần một lượng vốn
bằng 1/5 so với một khoản nợ cho General Electric [33]) mà rủi ro thấp thì lợi
suất cũng thường không cao, kết quả là chỉ làm cho hoạt động của NH kém đi.
Bên cạnh đó, nó không đánh giá được sự đa dạng hóa danh mục đầu tư (không
có sự khác biệt giữa một khoản vay $100 và 100 khoản vay $1; một khoản nợ
riêng lẻ cũng giống một danh mục đầu tư đa dạng nếu chúng cùng quy mô giá
trị), cũng như loại rủi ro (cùng là cho doanh nghiệp vay kinh doanh nhưng
doanh nghiệp uy tín cao hay thấp đều được coi là như nhau). Ngoài ra, hiệp ước
năm 1988 không tính đến rủi ro vận hành của các NH (ví dụ như sự hỏng hóc
của hệ thống máy tính tại NH) _ yếu tố ngày càng trở nên quan trọng cùng với
với rủi ro hơn. Ví dụ như: một số nhóm tài sản rủi ro đã được thêm vào, trong đó
có những tài sản mang tỷ lệ rủi ro 150%; Cùng một nhóm đối tượng vay, mức
độ rủi ro được đánh giá theo uy tín của từng đơn vị:
Đối
tượng
vay
Xếp hạng uy tín
AAAAA-
A+
A-
BBB+
B-
BB+
B-
Dưới
B-
Không
hạng
Hệ số rủi ro:
Quốc gia 0% 20% 50% 100% 150% 100%
NH 20% 50%
50%,
100%
100% 150%
50%,
100%
DN 20% 50% 100% 100% 150% 100%
Nguồn: [17]
23
2.2. Vai trò của hệ số CAR trong việc xác định một quy mô VCSH thích hợp
24
II. Kinh nghiệm tăng VCSH của NHTM tại một số nước và bài học cho Việt
Nam
Kinh nghiệm tăng VCSH của các NHTM trên thế giới không ít, song Khóa
luận chỉ xin tìm hiểu một số nước có đặc điểm kinh tế-xã hội tương đồng với
Việt Nam: Trung Quốc cũng có lịch sử NH tách từ một cấp sang hai cấp (từ
năm 1984); cũng có một hệ thống gồm 4 NHTMNN (State-owned Commercial
Banks_SOCBs) đóng vai trò chủ yếu trên thị trường nội địa, còn lại chủ yếu là
các NHTM đô thị và liên doanh tương đối nhỏ hơn; các NHTM trước đây đều có
quy mô VCSH không cao (xét trong tương quan với tình hình kinh tế nước này),
chất lượng hoạt động kém với những khoản nợ xấu (NPLs) lớn, hệ số CAR thấp;
Sự can thiệp của Nhà nước vào lĩnh vực NH là rất sâu; Trung Quốc cũng đứng
trước một lộ trình mở cửa sau khi gia nhập WTO năm 2001, và cũng là một thị
trường tài chính ngân hàng đầy triển vọng, vô cùng hấp dẫn cho các nhà đầu tư;
Thái Lan là nước liền kề với nền kinh tế có trình độ và điều kiện phát triển kinh
tế tương tự như Việt Nam; Hàn Quốc thời kỳ áp dụng các biện pháp tăng vốn
này cũng là một quốc gia công nghiệp vừa lớn mạnh, đồng thời đây cũng là một
nước thuộc khu vực Đông Á láng giềng; Ba Lan là một nước từng theo chế độ
xã hội chủ nghĩa, cũng là một nền kinh tế chuyển đổi với nhiều điểm tương đồng
với Việt Nam. Ngoài ra, kinh nghiệm của một số định chế tài chính lớn nhất thế
giới như Hoa Kỳ, EU, Singapore cũng là những điều đáng học hỏi.
1. Trung Quốc
Để cải thiện tiềm lực tài chính của các NHTM, Chính phủ Trung Quốc đã
tiến hành các đợt cấp bổ sung vốn điều lệ: Đợt 1 vào năm 1998, cấp 33 tỷ USD
bằng Nhân dân tệ cho 4 SOCBs; Đợt 2 vào 12/2003, cấp 22,5 tỷ USD cho 2
SOCBs hoạt động tốt nhất là CCB và BoC bằng cách chuyển giao cho họ quyền
sở hữu trái phiếu chính phủ Hoa Kỳ; Đợt 3 vào 4/2005, cấp 15 tỷ USD cho
ICBC trực tiếp từ nguồn dự trữ quốc tế chính thức [18]. Ngoài ra, CCB và BoC
đã tăng Vốn cấp II của họ bằng cách phát hành các khoản nợ dài hạn không chi
trả trong thời gian dài