LỜI MỞ ĐẦU
Lịch sử ra đời và phát triển của Ngân hàng thương mại gắn liền với
quá trình phát triển của sản xuất và lưu thông hàng hoá, trước hết nó đáp
ứng các nhu cầu về vốn của các cá nhân và tập thể, muốn phát triển sản
xuất kinh doanh nhưng lại thiếu vốn, cùng với sự phát triển của nền kinh tế
thị trường, các Ngân hàng thương mại ngày càng xâm nhập sâu sắc hơn vào
mọi hoạt động của nền kinh tế, trở thành một trung gian tài chính quan
trọng bậc nhất của mọi nền kinh tế.
Trong các hoạt động của Ngân hàng thì tín dụng đóng vai trò quan
trọng. Tín dụng là tài sản chiếm tỷ trọng cao nhất, tạo thu nhập từ lãi lớn
nhất và cũng là hoạt động mang lại rủi ro nhất. Vì thế, đảm bảo và nâng cao
chất lượng hoạt động tín dụng vừa là mục tiêu vừa là nhân tố quan trọng để
cạnh tranh và phát triển của mỗi Ngân hàng thương mại. Trước mỗi quyết
định tài trợ, Ngân hàng luôn phải cân nhắc kỹ lưỡng, ước lượng khả năng
rủi ro và sinh lời dựa trên phân tích các khía cạnh tài chính, phi tài chính
theo một quy trình nghiệp vụ nghiêm ngặt, mang tính khoa học cao, phân
tích tài chính khách hàng là một trong những nội dung đó.
Như vậy, quan hệ tín dụng giữa Ngân hàng và khách hàng (đặc biệt là
các Doanh nghiệp) ngày càng gắn bó, tương tác lẫn nhau. Khách hàng
không trả được nợ đến hạn, doanh thu của Ngân hàng giảm, ảnh hưởng đến
việc cho khách hàng vay vốn, ảnh hưởng đến sự tồn tại của Ngân hàng. Để
tránh được những rủi ro tín dụng này, trong quá trình thẩm định cho vay,
Ngân hàng cần nâng cao chất lượng khâu phân tích đánh giá tình hình tài
chính đối với khách hàng-khâu quyết định xem khách hàng có đủ điều
khiện để vay vốn của Ngân hàng không.
Đối với các Ngân hàng thương mại Việt Nam, hoạt động cho vay luôn
chiếm tỷ trọng từ 85%-95% doanh thu, tuy nhiên công tác phân tích tín
dụng, trong đó có phân tích tình hình tài chính của khách hàng vẫn còn
1
nhiều bất cập dẫn đến hiệu quả cho vay chưa cao, tỷ lệ nợ quá hạn còn
cao…
Người sử hữu
Người sử dụng
Người cho vay
Người đi vay
3
Những hành vi tín dụng có thể được diễn ra trực tiếp giữa người thừa
vốn cần đầu tư với người cần vốn để sử dụng. Nhưng thực tế hai người này
khó có thể phù hợp được với nhau về quy mô, về thời gian nhàn rỗi và thời
gian sử dụng vốn, hoặc cũng có thể phù hợp được thì phải tốn kém chi phí
tìm kiếm. Nên để thoả mãn được nhu cầu của cả hai người thì cần thiết
phải có một người thứ ba đứng ra tập trung được tất cả số vốn của những
người tạm thời thừa cần đầu tư lấy lãi, trên cơ sở số vốn tập trung được
phân phối cho những người cần vốn để sử dụng dưới hình thức cho vay.
Người đó không là ai khác chính là các tổ chức tín dụng, trong đó chủ yếu
là các Ngân hàng thương mại, người môi giới tài chính trên thị trường tài
chính. Việc các Ngân hàng thương mại tập trung vốn dưới hình thức huy
động và phân phối vốn dưới hình thức cho vay được gọi là tín dụng ngân
hàng.
* Đặc trưng của tín dụng
Tín dụng là sự cung cấp một lượng giá trị trên cơ sở lòng tin. ở đây
người cho vay tin tưởng người đi vay sử dụng vốn vay có hiệu quả sau một
thời gian nhất định và do đó có khả năng hoàn trả được cả gốc và lãi đúng
thời hạn.
Tín dụng là sự chuyển nhượng một lượng giá trị có thời hạn. Để đảm
bảo thu hồi nợ đúng hạn, người cho vay thường xác định rõ thời gian cho
vay. Việc xác định thời hạn đó dựa vào:
+ Quá trình luân chuyển vốn của đối tượng vay. Có nghĩa là thời hạn
cho vay phải phù hợp với chu kỳ luân chuyển vốn của đối tượng vay thì lúc
đó người vay mới có điều kiện để trả nợ.
Nếu thời hạn cho vay nhỏ hơn chu kỳ luân chuyển vốn của đối tượng vay thì
5
Thông qua tín dụng Ngân hàng, có thể kiểm soát được khối lượng tiền
cung ứng trong lưu thông. Thực hiện yêu cầu của quy luật lưu thông tiền tệ.
Mặt khác, tín dụng Ngân hàng còn thúc đẩy các Doanh nghiệp tăng cường
chế độ hạch toán kinh doanh, giúp cho các Doanh nghiệp khai thác có hiệu
quả tiềm năng kinh tế trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Đồng thời tín
dụng Ngân hàng còn tạo điều kiện mở rộng quan hệ kinh tế với nước ngoài,
la cầu nối cho việc giao lưu kinh tế và là phương tiện để thắt chặt mối quan
hệ kinh tế với các nước trên thế giới.
1.1.2. Rủi ro trong hoạt động tín dụng Ngân hàng
Mới được hình thành từ những năm cuối của thập niên. Hệ thống
Ngân hàng Thương mại Việt Nam hoạt động với các nghiệp vụ truyền
thống là chủ yếu trong đó tín dụng là hoạt động mang lại thu nhập chủ yếu
nhất cho các Ngân hàng. Tuy nhiên, đây cũng là hoạt động rất dễ xảy ra rủi
ro và nếu rủi ro xảy ra thường gây những thiệt hại nghiêm trọng đối với
Ngân hàng, gây ảnh hưởng tới sự an toàn hoạt động của bản thân Ngân
hàng và cả hệ thống Ngân hàng. Qua con số về tỷ lệ nợ quá hạn, tỷ lệ nợ kê
đọng lại các Ngân hàng Thương mại trong thời gian qua chứng tỏ rủi ro tín
dụng là vấn đề đang cần được quan tâm.
Mặc dù trong thời gian gần đây, tỷ lệ nợ quá hạn và nợ kê đọng của
các Ngân hàng Thương mại Việt Nam đang có xu hướng giảm đáng kể do
thực hiện những biện pháp như kiểm soát chặt chẽ chất lượng cho vay, xử
lý tài sản bảo đảm tiền vay đối với nợ đọng, trích lập và sử dụng dự hòng
rủi ro, … nhưng trong thực tiễn, tiềm ẩn rủi ro đang vẫn lớn do tốc độ gia
tăng tín dụng, những biến động phức tạp của giá cả một số loại nguyên
nhiên vật liệu đầu vào, xu hướng đầu tư vốn lớn vào thị trường bất động
sản, tình trạng ứ đọng trong xây dựng cơ bản…Điều này đã buộc Ngân
hàng Nhà nước cũng như các tổ chức tín dụng phải hết sức quan tâm đến
chất lượng tín dụng nhằm hạn chế rủi ro đến mức thấp nhất có thể.
6
sản, sức khoẻ giảm, năng lực trình độ kém bị sa thải…hoặc do người vay bị
gặp sự cố bất thường trong cuộc sống: tai nạn, ốm đau, li dị hoặc chết.
Rủi ro cũng có thể đến với Ngân hàng khi họ hoạch định ngân quỹ
không chính xác, không có sự nhất quán trong việc sử dụng chi tiêu hay cố
ý bỏ chốn, lừa đảo Ngân hàng.
+ Đối với khách hàng là Doanh nghiệp:
• Doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh bị thua lỗ, kém hiệu
quả.
• Doanh nghiệp sử dụng vốn vay sai mục đích.
• Năng lực quản lý điều hành của Ban lãnh đạo thấp kém, lựa chọn
hướng đi chưa phù hợp, sử dụng vốn kém hiệu quả và không có khả năng
chống đỡ khi có sự biến động của thị trường.
• Doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực, ngành nghề có xu hướng
suy thoái. Những doanh nghiệp có chi phí cố định cao sẽ chịu rủi ro cao
hoặc Doanh nghiệp vay nợ quá nhiều trong quá khứ. Sự suy giảm này làm
giảm lợi nhuận và khả năng trả nợ cho những khoản vay mới là khó khăn.
• Doanh nghiệp gặp rủi ro tài chính: là khả năng của Doanh nghiệp
không đối phó được với việc trả nợ do sử dụng vay nợ đầu tư cho tài sản cố
định hoặc bị chiếm dụng vốn trong một thời gian dài.
• Doanh nghiệp cố tình lừa dối Ngân hàng: Có những hợp đồng giả
mạo, đi mượn tài sản cố định nhằm quảng bá Doanh nghiệp …
c) Nguyên nhân từ phía Ngân hàng
8
+Do chính sách tín dụng chưa hợp lý: Quá nhiều mục tiêu lợi nhuận,
mở rộng quá mức doanh số cho vay; quy chế cho vay, điều khoản cho vay
chưa hợp lý; không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ việc phân tích,
đánh giá khách hàng trước khi cho vay, trong khi cho vay hoặc sau khi cho
vay.
+Thực hiện không tốt công giám sát tín dụng, do thông tin không thu
thập đầy đủ hoặc sự sai lệch thông tin.
- Phân tích tình hình tài chính khách hàng tại các NHTM nhằm xác định
đợc các mục tiêu sau:
+ Xác định rõ hiện trạng tài chính của khách hàng : giá trị tài sản, tình
hình nợ, nhu cầu tài trợ, khả năng thành toán…
+ Dự báo về tài chính trong tơng lai của khách hàng: khả năng hoạt
động kinh doanh, khả năng sinh lời, khả năng hoàn trả nợ vay….
+ Dự đoán được những trờng hợp xấu có thể xảy ra làm giảm khả năng
trả nợ của khách hàng.
* Vai trò của hoạt động phân tích tài chính doanh nghiệp.
Đứng trước thực trang cho vay là nghiệp vụ chủ yếu mang lại lợi
nhuận cao nhất cho Ngân hàng mà rủi ro tín dụng thì luôn thường trực, hơn
nữa lại diễn ra hết sức phức tạp khó phòng tránh nên việc cho vay đối với
các Ngân hàng Thương mại luôn phải được thực hiện theo một quy trình
chặt chẽ với những bước phân tích tỉ mỉ về các mặt tài chính, phi tài chính
của khách hàng. Kết quả của những phân tích này cho thấy khả năng sinh
lời, mức độ rủi ro của phương án hay dự án sử dụng vốn vay, có ảnh hưởng
10
trực tiếp tới quyết định cho vay hay không của Ngân hàng. Do đó, việc
phân tích tài chính khách hàng có vai trò rất quan trọng.
Mặt khác, trên thực tế việc xác định các nhân tố: năng lực pháp lý của
khách hàng, uy tín của người vay vốn, đánh giá năng lực điều hành sản
xuất kinh doanh của ban lãnh đạo Doanh nghiệp, triển vọng của Doanh
nghiệp… là rất phức tạp, nó mang tính chất định tính. Vì vậy, những thông
tin tài chính định lượng là rất quan trọng đối với ngân hàng trong đánh giá,
lựa chọn khách hàng. Phân tích tình hình tài chính của khách hàng cho
Ngân hàng quyết định có cho khách hàng vay vốn hay không, nếu có thì
xác định các yếu tố về lượng của nhu cầu vay vốn tín dụng, xác định thời
hạn hợp lý của khoản vay, xác định các kỳ hạn trả nợ…đối với từng khách
hàng. Như vậy phân tích tài chính khách hàng không chỉ là nhu cầu mà còn
là đòi hỏi bắt buộc đối với mỗi Ngân hàng Thương mại.
cổ đông), cũng như với khách hàng thông qua công nợ phảI trả.
Bảng cân đối kế toán có những đặc điểm như sau:
+) Các chỉ tiêu trong bảng cân đối kế toán được phản ánh dưới hình tháI
giá trị. Cho nên, ta có thể tổng hợp được toàn bộ tài sản của doanh nghiệp tại
một thời điểm. Từ đó, cho phép ta đánh giá kháI quát tình hình tài chính qua
các chỉ tiêu trên.
+) Các chỉ tiêu trong bảng cân đối kế toán được phản ánh tại một thời
điểm nhất định, thời điểm đó thường là vào ngày cuối cùng của kỳ hạch toán.
Căn cứ vào hai số liệu ở hai thời điểm đầu năm và cuối kỳ cho phép ta đánh
giá những biến động của tài sản và nguồn vốn giữa các kỳ kế toán.
12
+) Bảng cân đối kế toán có kết cấu 2 phần, thực chất là phản ánh tính
hai mặt của một lượng tài sản, cho nên tổng tài sản luôn bằng tổng nguồn vốn,
tức là:
Tài sản = Nguồn vốn
Hay: Tài sản = Nợ phải trả + Vốn chủ sở hữu
Hoặc: Vốn chủ sở hữu = Tài sản – Nợ phải trả.
Như vậy, thông qua bảng cân đối kế toán, ta có thể biết được toàn bộ tài
sản hiện có của doanh nghiệp, hình tháI vật chất, cơ cấu của tài sản, nguồn
vốn và cơ cấu nguồn vốn. Do đó, bảng cân đối kế toán là một tài liệu quan
trọng để nghiên cứu đánh giá một cách tổng quát tình hình và kết quả kinh
doanh, trình độ sử dụng vốn và những triển vọng kinh tế, tài chính của doanh
nghiệp.
(Bảng cân đối kế toán (biểu B01-DN) hình 1- phần phụ lục)
2. Báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh:
Báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh là báo cáo tổng hợp cho
biết tình hình tài chính và kết quả hoạt động kinh doanh của khách hàng tại
những thời kì nhất định. nó cung cấp các thông tin tổng hợp về tình hình tài
chính và kết quả sử dụng các tiềm năng về sử dụng vốn, lao động, kĩ thuật và
trình độ quản lý sản xuất kinh doanh của khách hàng. đồng thời nó cũng giúp
nghiệp.
+ Lưu chuyển từ hoạt động đầu tư: phản ánh toàn bộ dòng tiền thu vào
hoặc chi ra liên quan đến hoạt động đầu tư của doanh nghiệp.
14
+ Lưu chuyển tiền tệ từ hoạt động tài chính: phản ánh toàn bộ dòng tiền
thu vào hoặc chi ra liên quan trực tiếp đến toàn bộ hoạt động tài chính của
doanh nghiệp.
(Báo cáo lưu chuyển tiền tệ (Mẫu số B03-DN) hình 3- phần phụ lục)
- Thuyết minh báo cáo tài chính
Thuyết minh báo cáo tài chính được lập nhằm cung cấp các thông tin về
tình hình sản xuất, kinh doanh chưa có trong hệ thống báo cáo tài chính đồng
thời, giải thích thêm 1 số chỉ tiêu mà trong các báo cáo tài chính chưa được
trình bày,giải thích rõ ràng cụ thể như các thông tin về đặc điểm hoạt động
của khách hàng, chế độ kế toán áp dụng,tình hình và lí do biến động một số
tài sản và nguồn vốn.
- Các thông tin khác liên quan đến tình hình tài chính khách hàng
B, Nguồn thông tin từ bên ngoài
Ngoài các báo cáo tài chính từ doanh nghiệp gửi lên cho ngân hàng.
Ngân hàng cần thu thập thông tin từ các nguồn sau
- Trung tâm thông tin tín dụng (CIC)
- Thông tin từ các báo cáo thuế, cơ quan kiểm toán độc lập.
- Thông tin từ các đối tác kinh doanh với doanh nghiệp.
- Thông tin từ các tổ chức tín dụng mà doanh nghiệp đã có quan hệ
trước đây.
….v.v…
1.2.3 Các phương pháp được sử dụng trong phân tích tài chính
khách hàng
Hoạt động tín dụng của Ngân hàng ngày càng được mở rộng cho nhiều
đối tượng trong xã hội, đó là các doanh nghiệp, cá nhân, hộ sản xuất kinh
doanh Trong số đó, khách hàng lớn nhất, thường xuyên nhất, quan trọng nhất
- So sánh theo chiều dọc để xem xét tỷ trọng của từng chỉ tiêu so với tổng
thể, so sánh theo chiều ngang của nhiều kì để thấy được sự biến đổi cả về
số lượng và chất lượng của một chỉ tiêu nào đó.
• Phương pháp phân tích tỷ số tài chính:
Tỷ số tài chính là mối quan hệ tỷ lệ giữa các đại lượng tài chính trong
các quan hệ tài chính. Phương pháp này dựa trên các chuẩn mực về các tỷ lệ
tài chính.
Về nguyên tắc, phương pháp này yêu cầu phải xác định được các
ngưỡng, các định mức để nhận xét, đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp
trên cơ sở so sánh các tỷ lệ của khách hàng với tỷ lệ tham chiếu. Như vậy
phương pháp tỷ lệ luôn được phối hợp với phương pháp so sánh. Các tỷ lệ tài
chính được phân thành những nhóm đặc trưng, phản ánh những nội dung cơ
bản theo các mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp đó là:
- Nhóm tỷ lệ về khả năng thanh toán nhanh: gồm các chỉ tiêu như: tỷ lệ
thanh toán ngắn hạn, tỷ lệ thanh toán nhanh, tỷ lệ thanh toán hiện hành
- Nhóm tỷ lệ về cơ cấu tài chính: hệ số nợ trên tổng tài sản, hệ số cơ cấu
nguồn vốn, hệ số cơ cấu nợ…
- Nhóm tỷ lệ về năng lực hoạt động của tài sản: Vòng quay hàng tồn kho,
vòng quay các khoản phải thu, kì thu tiền trung bình, vòng quay vốn lưu
động, hiệu suất sử dụng TSCĐ
- Nhóm tỷ lệ khả năng sinh lời: hệ số doanh lợi doanh thu, hệ số doanh lợi
tài sản, hệ số doanh lợi vốn chủ sở hữu
• Phương pháp phân tích tài chính Dupont:
Những thông tin quan trọng về điều kiện tài chính của một doanh
nghiệp thể hiệ ở một số hệ số tài chính chứ không riêng gì ở một hệ số. Bản
chất của phương pháp Dupont là tách một tỷ số tổng hợp phản ánh sức sinh
lời của doanh nghiệp như thu nhập / tài sản( ROA), thu nhập sau thuế/ vốn
chủ sở hữu ( ROE), thành tích số của chuỗi các tỷ số có mối quan hệ nhân
17
quả với nhau, cho phép phân tích các ảnh hưởng của các tỷ số đó với tỷ số
- Cho phép phân tích lương hoá những nhân tố ảnh hưởng đến hiệu suất
sinh lời của vốn chủ sở hữu bằng phương pháp loại trừ.
- Đề xuât các quyết sách phù hợp và hiệu quả căn cứ trên mức độ tác động
khác nhau của từng nhân tố khác nhau để làm tăng tỷ suất sinh lời.
1.2.4 Quy trình phân tích tài chính khách hàng
* Phân tích trước khi cho vay:
Trước bất cứ một yêu cầu vay vốn nào, ngân hàng luôn phải xem xét,
phân tích kĩ khách hàng, về phương án dự án xin tài trợ. Qúa trình này gọi là
18
phân tích tín dụng hay thẩm định tín dụng và thẩm định tài chính khách hàng
là một nội dung trong đó. Dựa trên những nguồn thông tin thu thập
được,Ngân hàng tiến hành phân tích tài chính khách hàng nhằm xác định
được tình hình sản xuất kinh doanh hiện tại, tiềm năng tương lai và dự báo
khả năng trả nợ của khách hàng. việc phân tích này có ảnh hưởng trực tiếp
đến quyết định cho vay hay không của Ngân hàng. Phân tích tình hình tài
chính bao gồm nhiều nội dung nhưng tập trung phân tích khả năng sinh lời và
phân tích rủi ro từ đó xác định khả năng trả nợ
Khả năng sinh lời của khách hàng là khả năng lâu dài và liên tục của
một khách hàng trong việc đáp ứng các nghĩa vụ tài chính gắn liền với khả
năng tạo lợi nhuận. Khả năng sinh lời là vấn đề quan tâm đầu tiên của Ngân
hàng. nếu người vay kinh doanh không có lãi thì ngay cả việc trả nợ gốc cho
Ngân hàng cũng là điều khó khăn chưa nói đến việc trả lãi. khả năng sinh lời
cao thì khả năng trả nợ cao và ngược lại. nghiên cứu khả năng sinh lời của
khách hàng trong quá khứ và hiện tại sẽ giúp Ngân hàng dự đoán khả năng trả
nợ trong tương lai. Hơn thế, ngoài khả năng sinh lời của khách hàng, Ngân
hàng phân tích một số chỉ tiêu sau: doanh lợi doanh thu, doanh lợi tài sản, hệ
số vòng quay tài sản … các thông số để phân tích được lấy từ báo cáo kết quả
kinh doanh, bảng cân đối kế toán.
Rủi ro là khả năng mà một sự kiện không thuận lợi nào đó sẽ xuất hiện,
rủi ro cho khách hàng cũng chính là rủi ro cho ngân hàng vì nguy cơ không
khách hàng vay vốn
1.2.5.1 phân tích các chỉ tiêu tài chính trong báo cáo tài chính.
Khi phân tích đánh giá khách hàng để ra quyết định cho vay hay
không? Ngân hàng phải tiến hành phân tích nhiều yếu tố, song điều mà họ
quan tâm nhất là khả năng thanh toán và trả nợ của khách hàng vay vốn. Do
đó khi phân tích tài chính, Ngân hàng quan tâm nhiều hơn tới việc đánh giá
rủi ro thanh khoản của khách hàng tức là phân tích các chỉ tiêu về khả năng
thanh toán, cơ cấu tài chính, năng lực hoạt động,khả năng sinh lời và báo cáo
20
lưu chuyển tiền tệ nhằm đánh giá rủi ro của doanh nghiệp trong tương lai. Do
vậy, Ngân hàng đặc biệt quan tâm tới các chỉ tiêu tài chính từ báo cáo kết quả
kinh doanh và BCĐ kế toán.
• Các chỉ tiêu kinh tế tài chính được sử dụng để phân tích đánh giá tình
hình tài chính khách hàng.
A, Nhóm các chỉ tiêu phản ánh cơ cấu vốn và tình hình đâu tư.
Hệ số nợ =
Tổng số nợ phải trả
Tổng nguồn vốn của DN
ý nghĩa: Hệ số nợ nói lên trong tổng nguồn vốn của DN, nguồn vốn từ bên
ngoài ( từ các chủ nợ) là bao nhiêu phần hay trong tổng số tài sản hiện có của
doanh nghiệp có bao nhiêu phần do vay nợ mà có.
Tỷ suất tự tài trợ =
Vốn chủ sở hữu
= 1- Hệ số nợ
Tổng nguồn vốn của DN
Ý nghĩa: Chỉ tiêu này để đo lường sự góp vốn của chủ sở hữu trong
tổng nguồn vốn của DN.
Nếu hệ số nợ càng thấp (hay tỷ suất tự tài trợ càng cao) thì sự phụ
thuộc của DN vào nguồn cho vay càng ít, món nợ của người cho vay càng an
toàn và ngược lại sẽ kém an toàn.
nghiệp đang kinh doanh trong cơ cấu vốn mạo hiểm
• Chỉ tiêu về cơ cấu nguồn vốn:
22
Tỷ suất đầu tư TSCĐ =
Tài sản cố định
Tổng tài sản của DN
Ý nghĩa: Thực chất của chỉ tiêu này phản ánh tỷ trọng của tài sản cố
định của doanh nghiệp trong tổng tài sản nói chung. Chỉ tiêu này càng lớn và
xu hướng ngày một tăng thể hiện tình hình trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật của
doanh nghiệp tăng lên, điều này tạo năng lực sản xuất và xu hướng phát triển
kinh doanh lâu dài, tăng sức cạnh tranh trên thị trường.
Tuy nhiên, để có kết luận chỉ tiêu này là tốt hay xấu, đã đáp ứng yêu
cầu sản xuất của doanh nghiệp hay chưa phải tùy thuộc vào ngành kinh doanh
của doanh nghiệp trong một thời gian cụ thể
*Vốn lưu động thường xuyên:
Vốn lưu động thường xuyên là phần chênh lệch giữa nguồn vốn dài hạn
hay (nguồn vốn thường xuyên)với tài sản cố định và đầu tư dài hạn. nói cách
khác nó là một phần nguồn vốn ổn định dùng vào việc tài trợ cho tài sản lưu
động.
= –
Hoặc:
= –
VLĐtx >0 chứng tỏ DN có một phần nguồn vốn dài hạn đầu tư cho
TSLĐ. Điều này đem lại cho DN một nguồn vốn tài trợ ổn định, một dấu hiệu
an toàn, một quyền độc lạp nhất định.
23
Nếu nguồn vốn dài hạn < TSCĐ và ĐT dài hạn, lúc này VLĐ tx < 0
chứng tỏ TSCĐ và ĐT dài hạn được tài trợ bằng nguồn vốn ngắn hạn, DN
kinh doanh với cơ cấu vốn rất mạo hiểm.
B, Nhóm chỉ tiêu phản ánh khả năng thanh toán:
Nhiều trường hợp, tuy doanh nghiệp có hệ số khả năng thanh toán nợ
ngắn hạn và hệ số khả năng thanh toán nhanh cao nhưng vẫn không có khả
năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn đến hạn thanh toán do các khoản phảI
thu chưa thu hồi được hoặc hàng tồn kho chưa chuyển hóa được thành tiền.
Bởi vậy, muốn biết khả năng thanh toán ngay của doanh nghiệp tại thời điểm
xem xét, nhà phân tích còn phảI sử dụng chỉ tiêu.
Hệ số khả năng
thanh toán tức thì
=
Tiền và tương đương tiền + ĐTTC ngắn hạn
Nợ ngắn hạn
Nhiều chủ nợ cho rằng nhìn chung hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn
hạn nên ở mức bằng 2, hệ số khả năng thanh toán nhanh (tương đối) nên ở
mức bằng 1, hệ số khả năng thanh toán tức thì nên ở mức 0,5 là hợp lý. Tuy
nhiên, trong thực tế các hệ số này được chấp nhận là cao hay thấp còn tùy
thuộc vào đặc điểm, tính chất kinh doanh, mặt hàng kinh doanh của mỗi
ngành kinh doanh, cơ cấu, chất lượng của tài sản ngắn hạn trong mỗi loại hình
doanh nghiệp. Do vậy, cách xem xét tốt nhất là so sánh các hệ số khả năng
thanh toán trung bình của ngành để có thể đưa ra nhận xét đúng đắn về khả
năng thanh toán của doanh nghiệp.
C, Nhóm chỉ tiêu phản ánh năng lực hoạt động của tài sản:
- Vòng quay các khoản phải thu và kì thu tiền trung bình
Vòng quay các khoản
phải thu
=
DT thuần về bán hàng và cung cấp DV
Các khoản phải thu bình quân
Kỳ thu tiền trung bình =
(các khoản phải thu BQ) x (số ngày trong kỳ)
DT thuần về bán hàng và cung cấp DV