thực trạng về hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại việt nam hiện nay - Pdf 13

mục lục
Lời mở đầu
Phần I- những vấn đề cơ bản về hoạt động của
các ngân hàng thơng mại
I- Khái niệm, đặc trng, vai trò chức năng của các ngân
hàng thơng mại
1. Khái niệm.
2. Đặc trng của ngân hàng thơng mại Việt Nam theo Luật các
tổ chức tín dụng
3. Vai trò chức năng của ngân hàng thơng mại.
II- Hoạt động tín dụng
III- Thực trạng về hoạt động tín dụng của ngân hàng th-
ơng mại Việt Nam hiện nay.
1. Những vấn đề chung.
2.Thực trạng.
3. Những nguyên nhân dẫn đến chất lợng tín dụng giảm
4. Những chỉ tiêu đánh giá rủi ro.
5. Những chỉ tiêu đánh giá chất lợng tín dụng
Phần II - Một số giải pháp nâng cao chất lợng tín dụng
ở các ngân hàng thơng mại Việt Nam hiện nay.
Lời mở đầu
Mấy năm gần đây, hoạt động trong ngân hàng thơng mại (NHTM)
không ngừng thực hiện khẩu hiệu "chấn chỉnh hoạt động tín dụng ngân
hàng". Tại sao phải chấn chỉnh, chấn chỉnh nh thế nào, bằng biện pháp
nào? đó là những câu hỏi lớn mà các nhà lãnh đạo, phân tích kinh tế đang
xem xét. Hiểu theo nghĩa đơn giản: là để nâng cao chất lợng tín dụng thì
phải chấn chỉnh lại, xem xét lại công tác tín dụng từ khâu chấp hành
nguyên tắc cho vay, kiểm tra trớc, trong và sau khi cho vay, công tác thu nợ
cả gốc và lãi; cái gì làm đúng thì phát huy, cái gì làm cha đúng thì phải uốn
nắn lại. Khi đã gọi là chấn chỉnh hoạt động tín dụng thì chúng ta liên tởng
ngay hoạt động tín dụng đang có những vấn đề không bình thờng. Đúng là

lợng tiền trong lu thông, là kênh huy động, điều phối chính để đảm bảo
nhiệm vụ đầu t cho quá trình phát triển kinh tế, công nghiệp hoá. Đặc biệt
trong điều kiện hiện nay ở nớc ta, thị trờng vốn còn sơ khai, thị trờng
chứng khoán cha hoạt động có hiệu quả, các doanh nghiệp hoạt động chủ
yếu bằng vốn vay thì hoạt động của ngân hàng đang hàng ngày, hàng giờ
tác động đến đời sống, kinh tế, chính trị, xã hội của nớc ta. Có thể nói: hoạt
động ngân hàng nói chung, và ở nớc ta nói riêng, phản ánh một cách tập
trung và chính xác, nhanh nhạy nhất toàn bộ các hoạt động sản xuất, kinh
doanh của nền kinh tế xã hội của nớc ta hay nói cách khác đó là "biểu kế"
của nền kinh tế quốc dân.
3
Năm 1991, thực hiện pháp lệnh về ngân hàng, ngân hàng Việt Nam
tách ra thành hai hệ thống: ngân hàng Nhà nớc và ngân hàng thơng mại.
Mỗi hệ thống thực hiện những chức năng và nhiệm vụ khác nhau. Nhng
đồng thời phụ thuộc lẫn nhau đóng góp tích cực hơn vào quá trình xây
dựng và phát triển kinh tế xã hội của đất nớc. Ngân hàng Nhà nớc đóng vai
trò định hớng và hoạt động quản lý tiền tệ. Ngân hàng thơng mại thực hiện
chức năng kinh doanh: đợc coi nh một doanh nghiệp kinh doanh đặc biệt,
kinh doanh tiền tệ. NHTM hoạt động ngày càng đa dạng và có hiệu quả đáp
ứng hơn nữa nhu cầu đầu t cho nền kinh tế quốc dân. Bên cạnh những mặt
đợc còn tồn tại một số mặt cha đợc trong hoạt động của NHTM nhất là hoạt
động tín dụng.
2. Đặc trng của ngân hàng thơng mại Việt Nam theo Luật các tổ
chức tín dụng.
Theo Luật các tổ chức tín dụng thì NHTM Việt Nam phát triển với
những đặc trng cơ bản sau:
- Thực hiện toàn bộ các hoạt động ngân hàng (huy động vốn, cho vay
và thanh toán) và các hoạt động kinh doanh dịch vụ có liên quan.
- Thực hiện huy động vốn và cấp tín dụng ngắn hạn là chủ yếu, tức là
duy trì qui mô sản xuất kinh doanh đã có của khách hàng. Với đòi hỏi

trởng kinh tế. Thông qua tập trung vốn, NHTM cho doanh nghiệp vay để có
vốn tăng qui mô sản xuất, tăng năng suất lao động, đổi mới thiết bị , áp
dụng tiến bộ kỹ thuật thúc đẩy sản xuất phát triển.
c. Với t cách là một hệ thống, các NHTM tham gia quá trình "tạo tiền"
làm thu hẹp hay mở rộng hệ số của các phơng tiện thanh toán, tạo cân đối
hay làm mất cân đối giữa tổng cung và tổng cầu tiền tệ, làm giảm nhẹ hay
gây áp lực với hàng hoá, giá cả
d. Đằng sau hoạt động NHTM diễn ra quá trình tích tụ và tập trung
vốn cho sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội.
II- Hoạt động tín dụng.
Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về hoạt động tín dụng. Nhng tóm
lại, dù có nhiều định nghĩa khác nhau thì bản chất của nó là quan hệ vay m-
ợn dựa trên nguyên tắc hoàn trả lại nhau.
Tuỳ thuộc vào mục đích nghiên cứu và những căn cứ khác nhau mà
phân loại tín dụng thành: tín dụng thơng mại, tín dụng ngân hàng, tín dụng
tiêu dùng, tín dụng cho thuê tài sản Trong bài này chúng đề cập đến tín
dụng ngân hàng.
Chức năng của tín dụng là:
5
- Tín dụng là công cụ tích tụ và tập trung vốn rất quan trọng. Thông
qua tín dụng, các doanh nghiệp nhận vốn để tiến hành sản xuất kinh
doanh, tăng trởng kinh tế.
- Là công cụ bình quân hoá tỷ suất lợi nhuận. Thực hiện điều hoà vốn
giữa các ngành, các vùng.
- Làm cho nền kinh tế nói chung và các doanh nghiệp nói riêng trở
nên năng động, mềm dẻo và linh hoạt.
- Là công cụ tăng vòng quay của vốn và giảm tiền mặt trong lu thông.
Hoạt động chính của ngân hàng là cấp tín dụng cho khách hàng. Hay
hiểu theo nghĩa đơn giản là việc sử dụng tiền vào mục đích đầu t và cho vay
thu lợi nhuận của ngân hàng. Hoạt động tín dụng trong NHTM bao gồm rất

Từ khi tách hệ thống ngân hàng thành hai cấp: Ngân hàng Nhà nớc
thực hiện chức năng quản lý và hệ thống ngân hàng thơng mại thực hiện
chức năng kinh doanh. Do có sự phân công và phối hợp giữa hai hệ thống
này, giúp cho vai trò của ngân hàng đợc thực hiện, đóng góp tích cực hiệu
quả vào phát triển kinh tế - xã hội của nớc ta nhất là giai đoạn đang quá độ
và xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội. Điều này thể hiện
qua tốc độ tăng trởng nhanh (trung bình 8,2-8,5%/năm, tốc độ phát triển
của các ngành nghề, tạo công ăn việc làm, góp phần tích cực vào chính
sách xã hội nh xoá đói giảm nghèo, hỗ trợ vốn cho nông dân phát triển
kinh tế .Và một điều đáng nói nữa là: trong khi các nớc khác chịu ảnh hởng
nặng nề của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ, thì nớc ta không những
chỉ có ảnh hởng chút ít,lại còn giữ vững đợc sự ổn định của tiền tệ, giữ
vững mức độ tăng trởng cao nhất Đông Nam á, và cao hơn nhiều nớc trên
thế giới. Nhng chúng ta không thể phủ nhận rằng hoạt động của ngân hàng
vẫn còn đang trong quá trình hoàn thiện, do vậy vẫn còn tồn tại một số vấn
đề mà cần có sự điều chỉnh và đổi mới để phát huy hơn nữa những kết quả
đã đạt đợc,nhất là trong lĩnh vực hoạt động tín dụng ngân hàng.
Hoạt động tín dụng cũng là một hình thức kinh doanh nhng rất đặc
biệt, nó khác với ngành nghề kinh doanh khác. Nó hoạt động theo phơng
châm "đivay để cho vay", từ đó thu lợi nhuận từ hoạt động cho vay là chủ
yếu. Đi vay thì phải trả, ngoài gốc còn có lãi. Thế nên nếu ngân hàng, tổ
chức tín dụng thực hiện quản lý cho vay không tốt hoặc là không cho vay
đợc hoặc là cho vay nhng gặp những rủi ro nh không đòi đợc nợ thì sẽ bị
thiệt hại, làm giảm kinh doanh thậm chí có thể phá sản, điều này cũng
ảnh hởng trực tiếp đến sản xuất kinh doanh của nền kinh tế quốc dân.Đó
7
là những rủi ro đòi hỏi các NHTM phải khắc phục, ngăn chặn đồng thời
tìm đợc hớng đi và biện pháp hữu hiệu.
Trong quá trình đổi mới, chúng ta còn vấp phải nhiều, điều này thể
hiện sự yếu kém trong quản lý hoạt động ngân hàng.Mấy năm vừa qua, liên

theo kết luận của Thống đốc NHNN tại hội nghị giám đốc NHNN tháng 7
8
năm 1998: "Mặc dù đã áp dụng nhiều biện pháp tăng cờng thu hồi nợ quá
hạn và nâng cao chất lợng tín dụng, nhng tình hình nợ quá hạn vẫn cao, cha
đợc khắc phục và còn tiếp tục gia tăng".
Tín dụng với hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh
nghiệp.
Hiện tại mỗi NHTM quốc doanh đợc cấp 1.100 tỷ đồng vốn điều lệ
(70 triệu USD) và giới hạn an toàn nguồn vốn huy động khoảng 30.000 tỷ
đồng (2 tỷ USD). Nh vậy quy mô hoạt động của ngân hàng quá nhỏ để mở
rộng đầu t và hội nhập quốc tế. Với vai trò là trung gian tài chính cung cấp
nguồn vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh đã đạt đợc những hiệu quả
đáng kể thì những tồn tại trong hoạt động tín dụng ngân hàng.
Có thể nói nợ quá hạn là tồn tại cơ bản nhất, nếu không nhanh chóng
khắc phục sẽ đe doạ trực tiếp đến sự lành mạnh và an toàn của hệ thống
ngân hàng cũng nh tình hình kinh tế - xã hội. Qua số liệu thống kê, nhiều
doanh nghiệp Nhà nớc có trị giá taì sản còn lại chỉ bằng 61% nguyên giá
tài sản cố định, còn vốn lu động do Nhà nớc cấp cho các doanh nghiệp Nhà
nớc chỉ mới đạt khoảng 20% so với yêu cầu sản xuất kinh doanh nhng thực
tế chỉ đạt đợc 10% so với định mức. Chính vì vậy để hoạt động sản xuất
kinh doanh, các doanh nghiệp Nhà nớc phải đi vay ngân hàng với số lợng
lớn, tỷ trọng vốn đi vay chiếm 80 - 90% vốn tự có, thậm chí còn gấp 3-4 lần
vốn tự có. Vay nhiều thì phải trả nhiều, vì thế có ngời nói phải giả lãi vay
cho ngân hàng nhiều là nguyên nhân trực tiếp gây thua lỗ. Điều này dễ
hiểu, tiền ngân hàng cho vay là tiền ngân hàng đi vay của dân, có ngân
hàng 70-80% nguồn vốn cho vay là tiền gửi tiết kiệm của dân. Còn lại là
tiền có nguồn gốc vay từ nớc ngoài hay tiền tạm vay từ tiền nhàn rỗi của
các tổ chức khác. Họ có biết đâu, các khoản vay này ngân hàng phải trả cả
gốc lẫn lãi không đợc khất hoãn. Vậy thì đó có phải là nguyên nhân trực
tiếp không. Trên thực tế, các doanh nghiệp làm ăn thua lỗ do bộ máy quản

trình độ công nghệ, trình độ quản lý, các doanh nghiệp ngoài quốc doanh
hiện nay đang quá ít vốn và thực tế cho biết không ít trờng hợp doanh
nghiệp ngoaì quốc doanh hoàn toàn không có vốn để hoạt động kinh
doanh, nhiều doanh nghiệp ra đời bằng" vốn ảo" vì vậy hoạt động sản xuất
của các DNNQD chủ yếu bằng vốn vay hoặc vốn chiếm dụng .
Thực trạng tài chính của các doanh nghiệp nh trên đã nảy sinh tình
trạng tỷ lệ vay vốn của các doanh nghiệp cao hơn gấp nhiều lần so với vốn
tự có. Mà hoạt động tín dụng bắt đầu từ sản xuất kinh doanh gắn bó với
việc chu chuyển đồng vốn và quá trình sản xuất, lu thông hàng hoá phục vụ
cho đời sống của nhân dân. Hay nói cách khác, hoạt động tín dụng bắt đầu
từ nội dung hoạt động của các doanh nghiệp, đơn vị sản xuất lu thông. Có
"cầu" thì mới có "cung". Cầu đúng đắn, chính đáng thì cung mới bảo đảm
và phát huy tác dụng. Các doanh nghiệp làm ăn thua lỗ đã làm cho rủi ro
10
trong tín dụng là điều không thể tránh khỏi. Để nâng cao chất lợng tín
dụng thì việc chấn chỉnh hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh
nghiệp, tổ chức kinh tế. Hay cụ thể hơn là bắt đầu từ chấn chỉnh chế độ tài
chính của các doanh nghiệp, cho dù ngân hàng có đề ra kiểm soát trớc,
trong và sau khi cho vay nhng thực tế ngân hàng làm sao kiểm soát nổi?
Bởi lẽ hoạt động kinh tế tài chính muôn hình vạn trạng, hơn nữa doanh
nghiệp sản xuất kinh doanh với ngân hàng lại là bình đẳng, thậm chí khách
hàng còn là thợng đế của ngân hàng. Khi có sự kiểm soát thì sự việc đã
diễn ra rồi. Trên thực tế, khoảng cách giữa ngời cho vay và khách hàng còn
xa, không có nghiệp vụ tín dụng gắn liền với mối quan hệ tiếp xúc thờng
xuyên giữa ngân hàng và khách hàng. Vấn đề thông tin và nắm bắt tình
hình biến đổi kinh tế-xã hội tác động đến khách hàng còn chậm, không đầy
đủ và xử lý cha triệt để.
Doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, ngân hàng có sẵn sàng tiếp thêm vốn
cho doanh nghiệp để "vợt cạn" không? đây là câu hỏi mà ngân hàng cần
cân nhắc kỹ lỡng. Nếu tiếp thêm vốn thì lỡ mất hết thì sao. Nếu không tiếp

đó (ở đây có sự khác biệt giữa sở hữu về mặt pháp lý và sở hữu thực tế
quyền sử dụng).
Trong trờng hợp thế chấp kho hàng, ngân hàng không thể thể lấy hàng
hoá trong kho đa về ngân hàng đợc. Trờng hợp này cần uỷ thác cho ngời
thứ ba trông coi kho và quản lý tài sản đó. Đây là một khâu sơ hở dẫn đến
rủi ro cho ngân hàng do khách hàng và cán bọ tín dụng ngân hàng gây nên.
Điển hình là vụ án gần đây nhất: Epco - Minh Phụng.
Đây là vụ án lớn nhất từ trớc đến nay bao gồm 77 bị cáo trong đó
còn 18 cán bộ ngân hàng, gây tổng thiệt hại hơn 4.300 tỷ đồng. ở đây
chúng đã sử dụng thủ đoạn. Cách luật để vay vốn ngân hàng. Ngoài việc
thành lập nhiều Công ty "ma" nhỏ để vay vốn ngân hàng cho chúng sử
dụng thì chúng còn sử dụng thủ đoạn nhập khẩu hàng hoá thông qua pháp
nhân của cá DNNN có chức năng kinh doanh xuất nhập khẩu hàng hoá
nh: Ngũ cốc, Công ty xuất nhập khẩu Đất Việt các DNNN nhập khẩu
hàng hoá ở nớc ngoài về đều có bảo lãnh của ngân hàng. Song các doanh
nghiệp lại đem lô hàng đó thế chấp cho ngân hàng bảo lãnh (ngân hàng
nhận thế chấp tài sản của mình). Khi hàng đợc nhập về Việt Nam, các
doanh nghiệp xuất nhập khẩu của Nhà nớc đem bán trên thị trờng hoặc
phân phối các đại lý ở phía Nam. Theo qui định của Chính phủ và Bộ thơng
mại, mà bán lòng vòng cho Công ty Minh Phụng, thậm chí bán cả hàng thế
chấp mà không cần xin ý kiến của ngân hàng.
Việc Công ty xuất nhập Ngũ cốc và các Công ty khác trong vụ án
Epco- Minh Phụng tự ý bán hàng thế chấp đã vi phạm cam kết trong hợp
đồng.Hàng chỉ đợc xuất khỏi kho khi có sự đồng ý hoặc lệnh giải chấp của
ngân hàng. Bất chấp những cam kết trong hợp đồng, lợi dụng ngân hàng
12
không kiểm tra, giám sát hàng thế chấp, Nguyễn Xuân Phong và Liên Khui
Thìn đã ngang nhiên bán hàng thế chấp lấy tiền sử dụng.
Mặt khác cùng một lô hàng đã đợc ngân hàng bảo lãnh khi nhập khẩu,
nhng khi bán cho doanh nghiệp trong nớc thì lô hàng đó lại đợc Công ty

trăm ngôi nhà thế chấp không bán đợc để thu nợ, gây tổn thất cho ngân
hàng.
13
Bài học rút ra từ vụ án Epco - Minh Phụng vẫn còn. Đợc sự giúp đỡ,
bảo lãnh của Huỳnh Văn Thành -Nguyên chủ tịch và ông Phạm Tấn Khoa-
nguyên phó chủ tịch UBND quận 3 TP. Hồ Chí Minh đã che dấu hoạt động
kinh doanh thua lỗ của Công ty Epco- Minh Phụng, nâng vốn và hạch toán
lãi tạo điều kiện cho bọn chúng tiếp tục vay vốn ngân hàng hoạt động và
lấy vốn vay chia lãi. Hay đợc sự tiếp tay của một số cán bộ ngân hàng đã cố
ý nâng giá tài sản thế chấp hoặc đem thế chấp cho nhiều ngân hàng khác
nhau. Đây là bài học cho cán bộ ngân hàng về sự lơ là trách nhiệm, làm
việc trên giấy tờ, văn bản đề nghị của khách hàng để định món vay.
Nguồn vốn huy động của ngân hàng là các tài sản nợ, có tính thanh
khoản cao và chủ yếu phải chi trả, phải thanh toán ngay khi có yêu cầu của
chủ tài khoản, trong khi đó ngân hàng lại sử dụng nguồn vốn để đầu t và
cho vay, dới dạng tài sản có tính thanh khoản thấp, khó định giá và thờng
có thời gian trung bình dài hơn so với thời gian huy động vốn. Dới góc độ
chế độ kế toán nhìn từ bản cân đối tài sản của một ngân hàng ta thấy: bên
nguồn vốn thì phần lớn là huy động từ nguồn ngắn hạn (dới một năm) nhng
về tài sản thì ngân hàng lại cho vay đầu t vào lĩnh vực kinh doanh trên 1
năm và các hoạt động kinh tế khác của các thành phần kinh tế, cho vay
trung và dài hạn.
Trong lĩnh vực kinh doanh của ngân hàng thì tín dụng hiện nay là
một vấn đề đáng bàn. Nền kinh tế thị trờng của chúng ta đã có những tác
động làm nảy sinh những vấn đề rủi ro trong kinh doanh của ngân hàng,
rủi ro của ngân hàng đã đợc thực tế chứng minh trong thời gian dài vừa qua
và đợc nhiều nhà khoa học bàn đến: rủi ro tín dụng, rủi ro lãi suất, rủi ro tỷ
giá, rủi ro thanh khoản
Những rủi ro trên đối với hoạt động ngân hàng cũng là những tổn thất
lớn, có ảnh hởng trực tiếp đến hoạt động của ngân hàng,gây ra những trục

hàng và các doanh nghiệp 23 tỷ đồng sau đó bỏ trốn.
Một dạng khác là sử dụng giấy tờ nhà thuê của Nhà nớc đem thế chấp
vay vốn ngân hàng sau đó thực hiện hành vi lừa đảo, hoặc trớc khi bán
nhà, đem bộ hồ sơ nhà đất làm công chứng, sau đó bán nhà bằng hồ sơ gốc
rồi đa hồ sơ công chứng để vay thế chấp để thực hiện hành vi lừa đảo.
Cuối năm 1996, lực lợng cảnh sát kinh tế phát hiện một thủ đoạn khá
tinh vi của 3 sinh viên trờng Cao đẳng ngân hàng và cán bộ kho bạc Hà Nội
đã dùng hoá chất tẩy các chữ viết trong tờ trái phiếu kho bạc mệnh giá 200
nghìn và 300 nghìn, sau đó nghi mệnh giá mới từ 100 triệu đồng đến 680
triệu đồng, dùng con dấu giả và chữ ký giả của ban lãnh đạo kho bạc Hà
Nội để làm giấy xác nhận cho các tờ trái phiếu, lừa một ngân hàng Hà Nội
lấy trên 2 tỷ đồng chia nhau sử dụng cá nhân. Hoặc vụ lừa đảo của Đặng
Thị Hồng thủ quĩ ngoại tệ ngân hàng công thơng Hải Dơng chiếm đoạt 100
nghìn USD trên đờng vận chuyển nộp quĩ ngân hàng công thơng Việt Nam
15
ngày 04/02/1997. Bằng thủ đoạn nh vậy Nguyễn Thị Thời đã rút của kho
bạc Thái Nguyên gần 5 tỷ đồng suốt từ năm 1993-1997.
Tình trạng cán bộ nhân viên ngành ngân hàng lợi dụng chức vụ quyền
hạn đợc giao để tham ô tiền bạc của ngân hàng cũng xẩy ra khá phức tạp
với nhiều thủ đoạn khác nhau. Hơn 10 cán bộ tín dụng của hai chi nhánh
ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Nho Quan và huyện
Kim Sơn tỉnh Ninh Bình đã dùng thủ đoạn thu nợ vay của các hộ nông dân
số tiền 5,1 tỷ đồng nhng không nộp quĩ đem đánh đề, mua sổ xố, đánh bạc,
cho vay lại với lãi suất cao hơn, khi không còn có khả năng trả nợ thì lập
hồ sơ vay khống để vay tiền trả các món nợ cũ (đảo nợ). Hoặc vụ 4 cán bộ
cửa hàng vàng bạc thuộc chi nhánh ngân hàng nông nghiệp và phát triển
nông thôn huyện Thái Thuỵ tỉnh Thái Bình làm hồ sơ giả, thế chấp vàng giả
để tham ô 6,9 tỷ đồng đem đánh bạc, đánh đề: khi không có còn khả năng
thanh toán trả nợ ngân hàng các đối tợng đã bỏ trốn. Những thủ đoạn trên
đây đã xảy ra ở một số ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn, nh

Đứng thứ hai trong nhóm các tội phạm liên quan đến hoạt động ngân
hàng là tội cố ý làm trái các qui định của Nhà nớc về quản lý kinh tế gây
hậu quả nghiêm trọng nhiều vụ án lớn trong thời gian qua đợc phát hiện nh
vụ lừa đảo của Lý Hóc Hỷ, giám đốc Công ty TNHH đầu t và phát triển
kinh tế Sóc Trăng, vụ Tamexco, vụ Công ty dệt Nam Định, Epco Minh
Phụng, vụ VPBank, vụ Công ty TNHH Tân Hoàn Mỹ TP. Hồ Chí Minh
cho thấy tình trạng cố ý làm trái, nhận hối lộ của nhiều cán bộ, nhânviên
ngành ngân hàng trong quá trình xét duyệt hồ sơ cho vay, thẩm định tài sản
thế chấp, kiểm tra giám sát quá trình sử dụng vốn vay, thậm chí tái bảo lãnh
sai nguyên tắc, khi đối tợng vay không trả đợc nợ thì lại áp dụng thủ tục
đảo nợ nhằm làm "trong sạch" sổ sách để trốn tránh sự phát hiện của các
đoàn kiểm tra, thanh tra của ngân hàng và các cơ quan chức năng.
Việc bảo lãnh của các ngân hàng cho các doanh nghiệp mở L/C mua
hàng trả chậm cũng nảy sinh nhiều tiêu cực. Chủ yếu là do thiếu tinh thần
trách nhiệm hoặc cố ý làm trái của một số cán bộ, nhân viên ngành ngân
hàng do không quản lý theo dõi đợc thời gian, địa điểm, hàng hoá nhập về,
quá trình bán hàng và thanh toán trả nợ ngân hàng để các đối tợng vay bán
hết hàng, đem vốn sử dụng vào các mục đích khác nhau, hoặc sử dụng vốn
vay sai mục đích để các đổi tợng khác chiếm dụng vốn dẫn đến mất khả
năng thanh toán trả nợ ngân hàng. Ngân hàng đứng ra bảo lãnh phải lấy
vốn của mình trả nợ cho phía nớc ngoài để đảm bảo uy tín, trong khi đó,
đối với các doanh nghiệp đợc bảo lãnh thì phải chuyển sang nợ quá hạn và
cho vay bắt buộc.
Tóm lại, quá trình trởng thành, phát triển của NHTM trongcơ chế thị
trờng theo định hớng xã hội chủ nghĩa gắn chặt một cách hữu cơ với quá
trình phát triển tín dụng. Một ngân hàng thơng mại mạnh cũng có nghĩa là
khối lợng vốn và tín dụng ở đó đợc tăng trởng một cách vững chắc, an toàn
và có hiệu quả. Kết quả kinh doanh của ngân hàng là tổng hợp của nhiều
17
nhân tố nhng hoạt động tín dụng vẫn là khâu quyết định. Nh đã trình bày ở

nguyên tắc các phơng án sản xuất kinh doanh phải do ngời đi vay thành
lập hoặc có thể thuê ngời lập nhng không phải là cán bộ tín dụng, tuy nhiên
hiện nay hầu hết họ không có khả năng tự lập dự án và cũng cha có chuyên
18
trách hớng dẫn, do cán bộ tín dụng phải trực tiếp hớng dẫn cho ngời viết
đơn xin vay, sau đó chính mình lại thẩm định dự án. Do vậy việc thẩm định
dự án chỉ mang tính hình thức, thiếu khách quan vì cán bộ tín dụng "vừa đó
bóng, vừa thổi còi".
Các dự án vay vốn với số lợng khách hàng đa dạng, phong phú, với lại
thờng theo một mẫu chung, thờng là mẫu in sẵn, ngời vay chỉ ghi thêm số
liệu vào bảng tái khẳng định. Nhng nội dung quan trọng thể hiện tính khả
năng thực thi của dự án không đợc đề cập đến. Cán bộ tín dụng không có
số liệu về định mức kinh tế - kỹ thuật, thông tin giá cả nên không có cơ sở
khoa học để kiểm tra số liệu của dự án. Hơn nữa, một khi việc cấp tín dụng
chỉ đặt ra chủ yếu dựa vào ý chí chủ quan của bên cho vay quyết định, thì
vấn đề tiêu cực trong quan hệ tín dụng sẽ có điều kiện nảy nở. Đặt vấn đề
thẩm định và ngời quyết định cho vay phải chịu trách nhiệm vật chất nếu
rủi ro xảy ra thì chắc chắn tín dụng sẽ bị co cụm lại và vấn đề đảm bảo tín
dụng sẽ đợc đặt ra một cách khắc nghiệt. Và nh vậy, khối lợng tín dụng
không thể vợt quá giá trị tài sản thế chấp hoặc cầm cố.
Việc cho vay của ngân hàng lại quá đề cao vai trò của tài sản thế chấp,
cầm cố. Do vậy khi doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, ngân hàng chỉ còn giải
pháp là xin nợ tài sản thế chấp. Nhng do biến động của nền kinh tế và do
thớng đánh giá không đúng giá trị của tài sản thế chấp nên ngân hàng khó
có thể thu đợc vốn. Thờng thì giá trị tài sản thế chấp đợc đánh giá cao hơn
giá trị thực của nó, do vậy khi phát mại thì thâm hụt. Đấy là cha kể hiện
nay vấn đề phát mại tài sản thế chấp, cầm cố gặp nhiều khó khăn. Theo nh
Quyết định 217 của Thống đốc NHNN cũng nh luật của các tổ chức tín
dụng có quy định: Trong trờng hợp khách hàng không trả đợc nợ, nếu hai
bên không có thoả thuận nào thì ngân hàng có quyền bán tài sản thế chấp,

kiểm soát phát hiện những vi phạm vẫn còn chậm xử lý. Thiếu thận trọng
khi đặt quan hệ tín dụng với khách hàng, và khoảng cách giữa ngân hàng và
khách hàng còn khá xa. Sự phối hợp giữa ngân hàng với cơ quan t pháp vẫn
còn cha đồng bộ, chặt chẽ.
Bản thân ngân hàng cũng có nhiều chậm trễ trong việc tham mu, đề
xuất ban hành sửa đổi, bổ sung các chính sách có liên quan đến hoạt động
ngân hàng nh: bảo lãnh, thế chấp, cầm cố, phát mại tài sản thế chấp hoạt
động của các ngân hàng trong điều kiện hành lang pháp lý vừa thiếu vừa
thừa, không ổn định, bên cạnh đó một số chủ trơng, chính sách ngành ngân
hàng lại luôn đợc thay đổi, thậm chí trong thời gian ngắn. Nhiều NHTM
cho rằng trong thời gian qua NHTM Việt Nam ban hành nhiều qui định tự
trói buộc các ngân hàng trong hoạt động kinh doanh tiền tệ. Nhiều vấn đề
thực tế xảy ra nhng lại cha đợc quy định, bổ sung kịp thời, những qui định
của Nhà nớc, Chính phủ thì NHNN Việt Nam chậm hớng dẫn NHTM thực
hiện.
20
Những nguyên nhân khách quan cũng tác động không những đến hoạt
động tín dụng. Một trong những nguyên nhân sâu xa và là nguyên nhân của
mọi nguyên nhân làm đất nớc ta phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều
thành phần vận hành theo cơ chế thị trờng có sự quản lý của Nhà nớc xã
hội chủ nghĩa, từ một nền nông nghiệp lạc hậu. Trong khi đó luật pháp Việt
Nam vừa thiếu, vừa không đồng bộ còn chồng chéo. Việc ban hành một số
chủ trơng, chính sách kinh tế của Chính phủ do không dự đoán trớc đợc
những khó khăn vớng mắc khi triển khai thực hiện đã tạo nên những bất
cập và rủi ro không thể đoán trớc đợc. Các tệ nạn xã hội ngày một gia tăng
nh buôn lậu, cờ bạc, số đề, hụi họ, do họ muốn làm giàu một cách nhanh
chóng.
Năng lực phẩm chất của khách hàng hạn chế dẫn đến thua lỗ hoặc lừa
đảo chụp giật năng lực kinh doanh kém hiệu quả nên mặc dù nhiều
khách hàng có phơng án kinh doanh và tính khả thi cao nhng lại không có

khả năng, giữa lợi nhuận thu đợc và mức độ rủi ro liên quan có thể chấp
nhận đợc hay không (mối quan hệ giữa rủi ro và lợi nhuận). Khi cho vay
đầu t đối với cá nhân và tổ chức, về nguyên tắc đánh giá không có gì khác
nhau, mà chỉ khác ít nhiều về nội dung đánh giá.
Có nhiều phơng pháp đánh giá rủi ro tín dụng khác nhau, tuy nhiên
hiện nay phơng pháp thông thờng đang đợc nhiều định chế tài chính áp
dụng trên thế giới là phơng pháp "5c" để phân tích tín dụng. Phơng pháp
này, khi phân tích tín dụng thông qua 5 chỉ tiêu khác nhau.
a. Vốn: thông qua mức vốn để đánh giá thực trạng và tình hình hoạt
động của đối tác vay vốn. Vốn là yếu tố quan trọng thể hiện tiềm lực tài
chính của khách hàng. Mặc dù sức mạnh tài chính chỉ là một tỷ số các yếu
tố liên quan đến việc đánh giá rủi ro, những thông tin có đợc để đánh giá
vốn nói chung sẽ hình thành cơ sở để đánh giá các yếu tố khác nh khả năng
năng lực tài chính. Do vậy, để đánh giá rủi ro tín dụng luôn luôn bắt đầu từ
việc đánh giá sức mạnh tài chính của ngời vay, cần đánh giá về thực trạng
tài chính của ngời vay và thu nhập dự kiến trong tơng lai của ngời vay.
b. Khả năng trả nợ : Phân tích khả năng hoàn nợ của đánh giá vay
vốn. Việc đánh giá khả năng hoàn nợ của khách hàng là cực kỳ quan trọng,
nó quyết định chất lợng tín dụng. Khi đánh giá khả năng hoàn trả, điều
quan trọng phải phân tích đó là yếu tố dòng tiền, bao gồm dòng tiền vào và
dòng tiền ra và đánh giá việc thu nhập và lợi nhuận trong tơng lai của họ để
từ đó chắc chắn nguồn trả nợ của khách hàng. Khi phân tích yếu tố này
chủ yếu căn cứ vào việc phân tích bảng tổng kết tài sản của doanh nghiệp.
c. Đặc tính:Đánh giá đặc tính và khả năng độc lập trong kinh tế của
đối tác vay vốn. Khả năng độc lập trong kinh tế của khách hàng là yếu tố
quyết định sự thành bại trong kinh doanh của khách hàng đó. Khách hàng
phải có khả năng độc lập cao trong kinh doanh, là ngời giám quyết, giám
22
làm và chịu trách nhiệm trong kinh doanh không mang tính mạo hiểu
nhiều.

thể chấp nhận đợc ở Việt Nam hiện nay là 5% tổng d nợ cho vay, thấp hơn
so với thế giới là 8% tổng d nợ cho vay. Nhng chỉ tiêu này cũng cha xác
23
định đợc rõ ràng vì tuỳ thuộc vào điều kiện kinh tế của mỗi nớc ngoài ra ta
có thể đánh giá một cách gián tiếp thông qua xác định hiệu quả kinh tế của
đầu t tín dụng, nhất là đối với đầu t tín dụng theo dự án. Đó là đầu t trung -
dài hạn.
a. Nguyên tắc xác định hiệu quả kinh tế của đầu t tín dụng.
Bất cứ một hoạt động nào cũng đòi hỏi chi phí và thờng đạt một số kết
quả nhất định. Mối quan hệ giữa chi phí bỏ ra và kết quả đạt đợc gọi là hiệu
quả.
Hiệu quả kinh tế là hiệu quả xem xét trên khía cạnh kinh tế của vấn
đề. Nó phản ánh mối quan hệ giữa lợi ích kinh tế đạt đợc và chi phí phụ
thuộc vào chủ đề và mục tiêu mà chủ thể đặt ra.
Hoạt động đầu t tín dụng theo dự án là một quá trình xem xét cấp vốn
tín dụng trên cơ sở những dự án có tính khả thi. Đây là hoạt động đầu t
phát triển, là hoạt động tín dụng - trung - dài hạn của các NHTM. Tham gia
hoạt động này vì các chủ thể: ngân hàng, khách hàng và Nhà nớc. Vì vậy
hoạt động đầu t tín dụng theo dự án có ý nghĩa quan trọng đối với mỗi quốc
gia nói chung và đối với ngân hàng, khách hàng nói riêng.
Đối với mỗi quốc gia, vai trò của đầu t tín dụng trung- dài hạn đợc thể
hiện ở chỗ góp phần tăng cờng cơ sở vật chất kỹ thuật của nền kinh tế, thúc
đẩy và đảm bảo sự tăng trởng kinh tế lâu dài và vững chắc, đảm bảo tính
độc lập và tự chủ của mỗi quốc gia.
Trong nền kinh tế thị trờng, ngân hàng là một doanh nghiệp, tín dụng
là hoạt động chủ yếu mang lại lợi nhuận cho ngân hàng. Hệ thống NHTM
là một hệ thống kinh doanh tiền tệ có kinh nghiệm trong việc nắm bắt thị
trờng, có khả năng thẩm định các dự án đầu t, công trình đầu t. Với việc
phân tích và thẩm định một cách toàn diện khách hàng, nghiêm túc dự án
trớc khi cho vay đã giúp cho ngân hàng có thể hạn chế đợc rủi ro có thể xảy

hoạt động thực tiễn của tín dụng ngân hàng. Vì vậy đầu t tín dụng theo dự
án phải bảo đảm phơng châm lấy hoạt động chung của nền kinh tế và hiệu
quả riêng của khách hàng làm mục đích và đồng thời phải bảo đảm hoạt
động kinh doanh của ngân hàng theo cơ chế thị trờng.
Ba là, nguyên tắc về tính chính xác và đơn giản. Để đánh giá hiệu quả
kinh tế của một dự án đầu t phải dựa trên một hệ thống chỉ tiêu có thể lợng
hoá đợc và không lợng hoá đợc. Vì vậy phải có sự kết hợp giữa phân tích
định tính và định lợng. Tính chính xác trong việc đánh giá hiệu quả kinh tế
của dự án trớc hết thể hiện tính trung thực của các số liệu thông tin của dự
án, tiếp đến là ở phơng pháp tính toán và kết quả tính toán.Kết quả tính
toán chỉ có sức thuyết phục khi các số liệu thông tin đợc các cơ quan
chuyên môn có thẩm quyền cung cấp hoặc qua thu thập , khảo sát thực tế.
Phơng pháp tính toán có ảnh hởng đến kết quả khá lớn. Kết quả tính toán
của một dự án rất lớn, vì vậy cần kết hợp tính chính xác và tính đơn giản để
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status