ảnh hưởng phật giáo qua quá trình hội nhập văn hóa việt nam - Pdf 13

Đặt vấn đề
Trong thời đại tân tiến ngày nay, hình như chúng ta có thể thụ hưởng tất
cả mọi điều chúng ta muốn nếu chúng ta siêng năng làm việc và có tiền. Tiền
bạc chắc chắn sẽ mang lại cho chúng ta nhiều tiện nghi văn minh, có thể giúp
chúng ta thâu ngắn giờ làm việc và tìm thấy nhiều thú vui trong cuộc sống hàng
ngày. Tuy nhiên đồng thời, chúng ta thấy rằng những tiện nghi tân tiến đó
không giải quyết được những vấn đề thiết yếu cho đời sống chúng ta. Một số
đông người đang đau khổ vì những lo nghĩ vật chất cũng như tinh thần đã làm
lay chuyển căn bản cuộc sống của họ. Ðời sống chúng ta còn luôn bị đe dọa
không dứt bởi những làn sóng bất an và sợ hãi. Người hôm qua chúng ta gặp có
thể bị tai nạn và chết hôm nay. Và ngày mai, một trận thế chiến khác biết đâu
lại chẳng xảy ra để tận diệt toàn thể chúng ta.
Mọi lý thuyết Thần Học về những quyền lực siêu nhân của họ tìm thấy
qua sự chữa lành bệnh nhân và các phép lạ không dể dàng chứng thực trong đời
sống hằng ngày của chúng ta. Do đó, chúng trở nên càng khó hiểu và thực hành.
Nhiều người đã không thỏa mãn nên khao khát đi tìm một vài giải đáp chân
chính cho những vấn đề thắc mắc trong cuộc, có thể thỏa mãn cả hai mặt tinh
thần và tình cảm của họ; nhưng họ đã không tìm thấy điều đó trong các tôn giáo
cổ truyền và đành bỏ chúng để hy vọng tìm câu giải đáp trong những thế giới ăn
chơi dục vọng. Tuy nhiên, họ đã thất bại không tìm ra ý nghĩa cuộc sống qua
những cảnh giới hoan lạc nói trên và tinh thần họ trở nên những kẻ cuồng loạn
không còn có thể đương đầu với mọi vấn đề sự sống khách quan của họ nữa.
Ðức Phật đã giác ngộ sâu xa rằng tất cả chúng sanh hữu tình đều có
chung ý muốn ham sống và sự thể hiện nó trong những hoàn cảnh riêng của mỗi
người. Mọi người đều gắn liền với thực tại và họ chỉ có thể sống còn nhờ nương
vào sự sống của những kẻ khác. Cho nên cuối cùng, đức Phật tin tưởng rằng
1
1
con đường duy nhất chúng ta có thể áp dụng mà không làm hại lẫn nhau là thực
hiện sự đồng nhất căn bản của mọi cuộc sống. Thế giới chúng ta không gì khác
hơn ngoài sự thể hiện tánh đồng nhất của cuộc sống trong đó mọi chúng sanh,

3
3
PHẦN NỘI DUNG
1. Tổng quan về Phật giáo Việt Nam
Ngày nay, căn cứ các tài liệu (1) và các lập luận khoa học của nhiều học giả,
giới nghiên cứu hầu hết đều đồng ý rằng Đạo Phật đã được truyền vào Việt
Nam rất sớm, nhất là từ cuối thế kỷ thứ II đến đầu thế kỷ thứ III Tây Lịch qua
hai con đường Hồ Tiêu và Đồng Cỏ.
1.1. Phật Giáo du nhập qua con đường Hồ Tiêu:
Con đường Hồ Tiêu (Chemi des epices) tức là đường biển, xuất phát từ các hải
cảng vùng Nam Ấn rồi qua ngã Srilanka, Indonesia, Việt Nam lợi dụng được
luồng gió thổi định kỳ vào hai lần một năm phù hợp với hai mùa mưa nắng ở
khu vực Đông Nam Á, những thương nhân Ấn đã tới các vùng này để buôn bán
bằng những con thuyền buồm. Trong các chuyến đi viễn dương này, các thương
nhân thường cung thỉnh một hay hai vị tăng để cầu nguyện cho thủy thủ đoàn
và các vị tăng này nhờ đó mà đến truyền bá Đạo Phật vào các dân tộc ở Đông
Nam Á. Giao Châu tiêu biểu bấy giờ là trung tâm Luy Lâu, là nơi tụ điểm nghỉ
chân giao lưu của các thương thuyền. Lịch sử chính thức xác nhận năm 240
trước Tây lịch, Mahoda-con vua A dục (Asoka) đã đưa Đạo Phật vào Việt Nam
(2). Tư liệu trong Lĩnh Nam Chính Quái cho biết một dữ kiện chứng tỏ sự có
mặt của Đạo Phật vào đời Hùng Vương thứ 3 (triều đại thứ 18 Vua Hùng kể từ
trước công nguyên 2879-258). Đó là câu chuyện công chúa Tiên Dung, con gái
vua Hùng Vương thứ 3 lấy Đồng Tử. Chuyện kể rằng Đồng Tử và Tiên Dung
lập phố xá buôn bán giao thiệp với người nước ngoài. Một hôm Đồng Tử theo
một khách buôn ngoại quốc đến Quỳnh Viên và tại đây Đồng Tử đã gặp một
4
4
nhà sư Ấn Độ ở trong một túp lều. Nhờ đó mà Đồng Tử và Tiên Dung đã biết
đến Đạo Phật (3). Qua dữ kiện này ta thấy sự hiện diện của Phật Giáo do các
tăng sĩ Ấn Độ truyền vào Việt Nam khá lâu trước Tây lịch.

Việt Nam thì vào thế kỷ thứ II trước Tây lịch, vua Ấn Độ Asoka sau cuộc đại
hội kết tập kinh điển lần thứ ba, vua và trưởng lão Tissa Moggaliputta đã gởi
nhiều phái đoàn Như Lai sứ giả lên đường truyền bá chánh pháp cho các nước
thuộc vùng viễn đông, trong đó có đoàn của hai vị cao tăng là Uttara và Sona
được phái đến Suvana -Bhumi, xứ Kim Địa. Tuy có nhiều ý kiến khác nhau về
vùng Kim Địa nhưng ý kiến trong quyển lịch sử Phật Giáo Thế Giới (7) thì cho
rằng vùng Kim Địa này là bán đảo Đông Dương từ Miến Điện kéo dài đến Việt
Nam. Vấn đề này được sách Lịch Sử Phật Giáo Việt Nam (sđđ) viết: "sử liệu
Phật Giáo Miến Điện chép rằng hai vị cao tăng đó (Uttara và Sona) đã đến
Miến Điện truyền giáo nhưng sử liệu Phật Giáo tại Thái Lan cũng ghi là hai cao
tăng Uttara và Sona có đến Thái Lan truyền giáo. Có học giả dựa vào một tài
liệu Trung Hoa nói rằng ở Giao Châu tại thành Nê Lê, có bảo tháp của vua
Asoka, và học giả đó xác định thành Nê Lê chính là Đồ Sơn hiện nay (cách Hải
Phòng khoảng 12km)".
Nói chung căn cứ theo các tư liệu trên thì chúng ta có thể khẳng địng rằng Phật
Giáo truyền vào Việt Nam khoảng đầu kỷ nguyên Tây lịch bằng những phương
tiện hòa bình và vì thế không một giọt máu nào đã chảy, không một giọt lệ nào
rơi vì sự truyền bá Đạo Phật vào Việt Nam.
2. Những giá trị của học thuyết Phật giáo:
6
6
2.1. Đặc điểm của Phật giáo:
Thứ nhất, đặc điểm của Phật giáo là 'In như sự thật': Lý thuyết, phương pháp,
kết quả đều hợp lý, đều như thật. Phật giáo không chen chủ quan của mình vào
trước hay trong khi suy nghiệm sự thật, và chân lý của đạo Phật là lời kết luận
sau sự suy nghiệm chung thực ấy. Cho nên đạo Phật cũng gọi là Đạo Như Thật.
Đặc điểm thứ hai là 'tôn trọng sự sống'. Không sát sanh, ăn chay, là những điều
tượng trưng cụ thể cho đặc điểm ấy. Đạo Phật xem sự sống trên tất cả. Hết thảy
cái gì gọi là có giá trị là phải bảo vệ sự sống ấy Đạo Phật đặc biệt chú trọngvà
nêu cao chủ nghĩa lợi tha, nhưng chữ lợi ấy là phải hướng về mục đích tôn

tiến hóa là địa vị vô thượng giác, địa vị vô minh toàn diệt, trí tuệ toàn giác, địa
vị Phật đà.
Đặc điểm thứ chín của đạo Phật là đạo Phật dạy phải 'tự lực giải thoát'. Đấy là
một tinh thần tuyệt đối cần thiết. Đức Phật chỉ là một đạo sư dẫn đạo con đường
sáng cho chúng ta. Còn chúng ta phải tự thắp đuốc trí tuệ của mình mà soi
đường, phải tự động cặp chân năng lực của mình mà đi.
Đặc điểm thứ mười của đạo Phật là 'hiện chứng thể nghiệm'. Đức Phật chỉ
hướng dẫn chúng ta, chứ chân lý không phải là thứ đem quay phim cho người
thấy được. Đức Phật là đạo sư, nhưng trí giác không phải là thứ ai dạy khôn cho
ai. Cho nên đối với chân lý tối cao, ta phải tự lực thể nghiệm. Sự tự lực thể
nghiệm ấy, không những áp dụng với tinh thần tự lực giải thoát mà thôi, mà còn
8
8
đặc biệt chú ý đến sự hiện chứng. Đối với chân lý chưa hiện chứng, chúng ta
chỉ nói học, không nói biết. Tinh thần tu chứng đạo Phật l
2.2.Nhân sinh quan Phật giáo:
2.2.1. Thuyết luân hồi là gì?
Phật giáo chủ trương “thuyết luân hồi”, hễ chúng sinh nào chưa được
giác ngộ đều phải luân hồi mãi mãi trong bể khổ sống chết. Do đó, con người
mới phải trải qua hàng ngàn, hàng vạn cuộc đời. Thậm chí có người kiếp trước
chỉ là động vật như trâu, bò, lợn, chó, rắn rết nhưng chúng ta chưa được giác
ngộ thực sự, chưa hiểu điều đó một cách trí tuệ nên không biết đó thôi.
Mọi người đều biết “không sát sinh” là giới cấm của Phật giáo. Phật giáo
chủ trương mọi chúng sinh trong thế gian này đều phải bình đẳng, chính vì vậy
con người cần phóng sinh những động vật nhỏ, yếu; không được đang tâm chà
đạp chúng.
2.2.2. Phật giáo phủ định thuyết định mệnh
Thế nào là thuyết định mệnh? Nói giản đơn là con người sinh ra ở đời
lành, dữ, phúc, hoạ đều là do định sẵn từ trước không thể nào thay đổi được.
Những người tin vào thuyết định mệnh cho rằng tất cả đều do trời xếp đặt kể cả

_Ðối với những khổ đau trước mắt thì tuỳ cảnh ngộ mà giải quyết ổn
thoả, không oán trời trách người.
_Ðối với các vấn đề vũ trụ, nhân sinh được giải đáp hợp lý.
_Ðối với tương lai (đời sau) có đáp án thoả đáng.
_Tiền đồ, vận mạng, cuộc đời, thành bại, vui khổ của mình không được
do người khác thao túng.
2.2.5. Thế giới vĩ mô và vi mô của Phật giáo
a) Vũ trụ quan của Phật giáo.
Phật giáo cho rằng 1000 thái dương hệ hợp thành 1000 tiểu thế giới 1000
tiểu thế giới hợp thành 1000 trung thế giới và 1000 trung thế giới hợp thành
1000 đại thế giới gọi là một quốc độ Phật (nơi mà Phật giáo hoá). Như vậy là
một quốc độ Phật có bao nhiêu thái dương hệ? Có tất cả là 1000
3
bằng
1.000.000.000 thái dương hệ, tương đương với một tinh vân thiên văn học
Thế thì trong vũ trụ cuối cùng có bao nhiêu quốc độ Phật? Kinh A di đà
nói rõ: “Từ Tây phương vượt qua 10 vạn triệu triệu quốc độ Phật có thế giới
gọi là cực lạc!” nghĩa là từ trái đất ta ở Cực lạc Tây Phương có đến 10 vạn ức
Phật độ. Cho nên Đức Phật Thích Ca nói: “10 phương hư không là vô cùng tận,
thế giới là mênh mông không bờ bến” (10 phương hư không đồng nghĩa với chữ
“Thái không” mà ta thường nói). Ðiều này nói với chúng ta rằng, trong hư
không có vô vàn hành tinh không kể xiết, hư không là mênh mông, không bờ
bến.
11
11
Nếu không phải là một bậc “tiên tri, tiên giác” có một trí tuệ vĩ đại uyên
bác như vậy thì không sao miêu tả được bộ mặt thật về vũ trụ vĩ đại, thần bí,
bao la mênh mông như thế.
b) Trong một bán ước có 8 vạn 4 ngàn chúng sinh
Khi đức Phật thuyết pháp. Người đã báo rất rõ cho chúng ta biết rằng:

"Hãy trở về nương tựa mình và nương tựa pháp”
"Ngươi là hòn đảo là nơi nương tựa của chính ngươi"
Giáo lý nhân quả nghiệp báo xác định rõ con người là chủ nhân của nghiệp và
là kẻ thừa tự của nghiệp. Thế nên, địa bàn chính để đoạn trừ khổ đau là chính
mỗi người trong hiện tại và tại đây. Nếu khổ đau phát sinh từ đó, thì cũng từ đó
phát sinh sự dập tắt khổ đau, hay phát sinh hạnh phúc.
1.3.1.2 Tính thiết thực hiện tại của sự đoạn khổ sinh lạc:
Ðức Phật đã nhiều lần xác định Ngài ra đời chỉ vì lợi ích, an lạc cho Chư thiên
và loài người chỉ vì lòng thương tưởng cuộc đời. Giáo lý nền tảng của Phật giáo
13
13
là Tứ đế chỉ đưa ra vấn đề khổ đau và con đường giải quyết khổ đau. Câu
chuyện nắm lá Simsàpa và câu chuyện mũi tên độc là các ảnh dụ nhấn mạnh
vào tinh thần thực tế và thực tiễn khẩn thiết loại bỏ khổ đau khỏi con người và
cuộc đời.
1.3.1.3 Tinh thần Bi, Trí, Dũng:
Trên đường loại bỏ khổ đau, chánh kiến (hay trí tuệ, bao gồm chánh tư duy)
luôn luôn dẫn đầu các pháp hành. Hành giả trước nhất cần nhận rõ thực trạng
khổ đau và các nguyên nhân gây khổ đau để nhận ra con đường loại bỏ chúng.
Thiếu nó thì hành giả sẽ đi chệch hướng giải thoát.
1.3.1.4 Mục tiêu là hạnh phúc, giải thoát ngay tại đời này:
Ðức Phật chỉ dạy khổ và con đường đoạn tận khổ có nghĩa là chỉ nói đến hạnh
phúc và sống đời sống tâm thức hạnh phúc ngay trong hiện tại, tại đây, ở trên
đời này.
Mỗi bước đi của bố thí, trì giới, thiền định và trí tuệ là mỗi bước đi ra khỏi các
tác nhân gây rối loạn tâm lý, và đi vào an lạc, hạnh phúc của tâm giải thoát và
tuệ giải thoát.
1.3.1.5 Nhận thức cơ bản của nền đạo đức Phật giáo:
Giáo lý Duyên khởi và Ngũ uẩn xác định con người là một tập hợp thể của 5
yếu tố: sắc uẩn (vật lý), thọ, tưởng, hành, thức (tâm lý). Không có một ngã thể

15
Cảm thọ hạnh phúc càng mạnh thì thời gian cảm nhận càng nhanh sau đó là một
khoảng trống tâm lý lớn lao, hoặc là đối mặt với một cảm thọ tiếp theo hẳn là
khổ đau - (cảm thọ kém hơn là khổ đau).
Ngay cả khi con người đang ở trong hạnh phúc, thì nỗi lo sợ vô thường xảy đến
cũng đủ gây đau nhức cho tâm thức con người.
3. Hạn chế của Phật giáo:
3.1. Vấn đề luân hồi
Theo Đức Phật chỉ có một hiện thực trường tồn, tự tồn tự tại là cõi niết bàn. Tất
cả những thứ khác, ngay cả vũ trụ là vô thường. Nó có sinh và có tử nhưng
không phải chỉ một lần mà vô số lần. Theo vũ trụ học Phật giáo, là một bản sao
của vũ trụ học Ấn Độ giáo, vũ trụ hiện tại mà ta đang sống là một kiếp trong vô
số chu kỳ của sinh (Nổ Lớn hay Big Bang) và tử (Sập Lớn hay Big Crunch) và
đầu thai (Nổ Lớn hay Big Bang) lập đi lập lại miên viễn. Mô hình vũ trụ này,
theo danh từ khoa học, là mô hình vũ trụ giao động.
Hiện tại, khoa học chấp nhận một mô hình là vũ trụ được bắt đầu với vụ Nổ
Lớn tại một thời điểm xác định trong quá khứ. Trước đó, vũ trụ bốn chiều (cao,
rộng, sâu, và thời gian) không tồn tại. Vũ trụ sẽ chết tại một thời điểm trong
tương lai. Hình thức chết như thế nào thì vẫn còn đang trong vòng tranh cãi; nó
tùy thuộc vào trọng khối của toàn thể vũ trụ. Nếu trọng khối lớn hơn một giá trị
tối thiểu, vũ trụ sẽ chết trong vụ Sập Lớn. Ngược lại, nó sẽ chết trong một Đông
Cứng Lớn (Big Chill) [10] vì nhiệt độ của nó sẽ giảm tới không độ tuyệt đối (0
độ Kelvin). Do đó đời sống của vũ trụ là hữu hạn cũng như của con người chứ
không có luân hồi miên viễn như lời Phật dạy. Thực tế không thể chối cãi này
đã đưa thuyết vũ trụ giao động vào quá khứ cùng với những triết lý liên đới.
16
16
3.2.Vấn đề Trời
Sau khi Hoàng tử Tất-Đạt-Đa Gô-ta-ma đã giác ngộ, một tì kheo đến hỏi người
về một Đấng Tạo Hóa, người không trả lời. Người chỉ so sánh nhân loại như

không phải là chân lý: đó là sau khi nhập Niết Bàn, Đức Phật vẫn không biết về
Trời và tiên đoán thiếu chính xác về vận mạng vũ trụ. Do sự bất kiến này, dân
tộc Việt cần phải đánh giá lại con đường giải thoát mà lâu nay mình vẫn yên trí
là đúng. Thực tế cho biết mọi người, ngay cả Phật tổ, phải đi qua cái chết một
lần. Mỗi giây trôi qua bạn đi gần vào cái chết một chút. Ngày hôm nay bạn có
sự bình an của Chúa ban cho để đối diện với cái chết không?
4. Ảnh hưởng của Phật giáo trong đời sống người Việt:
4.1. Ảnh hưởng Phật giáo về mặt tư tưởng triết học và đạo lý:
4.1.1.Về tư tưởng:
Tư tưởng hay đạo lý căn bản của Phật Giáo là đạo lý Duyên Khởi, Tứ Diệu Đế
và Bát chánh Đạo. Ba đạo lý này là nền tảng cho tất cả các tông phái phật giáo,
nguyên thủy cũng như Đại Thừa đã ăn sâu vào lòng của người dân Việt.
Đạo lý Duyên Khởi là một cái nhìn khoa học và khách quan về thế giới hiện tại.
Duyên khởi nghĩa là sự nương tựa lẫn nhau mà sinh tồn và tồn tại. Không
những các sự kiện thuộc thế giới con người như thành, bại, thịnh, suy mà tất cả
những hiện tượng về thế giới tự nhiên như cỏ, cây, hoa, lá cũng điều vâng theo
luật duyên khởi mà sinh thành, tồn tại và tiêu hoại. Có 4 loại duyên cần được
phân biệt: thứ nhất là Nhân Duyên. Thứ hai là Tăng Thượng Duyên tức là
những điều kiện có tư liệu cho nhân duyên ví như phân bón và nước là tăng
thượng duyên cho hạt lúa. Thứ ba là Sở Duyên Duyên tức là những điều kiện
18
18
làm đối tượng nhận thức, thứ tư là Đẳng Vô Gián Duyên tức là sự liên tục
không gián đoạn, cần thiết cho sự phát sinh trưởng thành và tồn tại.
4.1.2.Về đạo lý:
Đạo lý ảnh hưởng nhất là giáo lý từ bi, tinh thần hiếu hòa, hiếu sinh của phật
giáo đã ảnh hưởng và thấm nhuần sâu sắc trong tâm hồn của người Việt. Đều
này ta thấy rõ qua con người và tư tưởng của Nguyễn Trải (1380-1442), một
nhà văn, nhà chính trị, nhà tư tưởng việt Nam kiệt xuất, ông đã khéo vận dụng
đạo lý Từ Bi và biến nó thành đường lối chính trị nhân bản đem lại thành công

thuần tuý chỉ có Phật Giáo Bắc Tông. Nhưng ở Việt Nam thì lại dung hòa và
điều hợp cả Nam Tông và Bắc Tông. Chính vì tinh thần khế lý khế cơ của Phật
Giáo cộng với tinh thần khai phóng của Phật Giáo Việt Nam mới có được kết
quả như vậy.
4.2.4. Ảnh hưởng Phật Giáo qua sự dung hòa với các thế hệ chính trị xã
hội:
Phật giáo tuy là một tôn giáo xuất thế, nhưng Phật Giáo Việt Nam có chủ
trương nhập thế, tinh thần nhập thế sinh động này nổi bật nhất là các thời Đinh,
Lê, Lý, Trần. Trong các thời này các vị cao tăng có học thức, có giới hạnh điều
20
20
được mời tham gia triều chính hoặc làm cố vấn trong những việc quan trọng
của quốc gia. Trong đó đặc biệt thiền sư Vạn Hạnh đã có công xây dựng triều
đại nhà Lý khi đưa Lý Công Uẩn lên làm vua, chấm dứt chế độ tàn bạo của Lê
Long Đỉnh, ông vua Ngọa Triều còn có biệt danh kẻ róc mía trên đầu sư. Thời
nhà Trần có các thiền sư Đa Bảo, thiền sư Viên Thông điều được các vua tin
dùng trong bàn bạc quốc sự như những cố vấn triều đình.
4.2. 5. Ảnh hưởng Phật Giáo trong đời sống người bình dân và giới trí thức
Việt Nam:
Nhìn chung không khó khăn gì khi ta phăng tìm dấu ấn Phật Giáo trong quan
niệm dân gian và ta có thể phát hiện rằng nếu không có sự hiện diện của Phật
Giáo ở Việt Nam thì ta sẽ mất đi hơn một nữa di tích và danh lam thắng cảnh
mà hiện nay ta tự hào, sẽ không có chùa Hương rộn ràng, nhộn nhịp sầm uất
trong ngày trẩy hội đầu xuân, không có chùa Tây Phương vời vợi, không có
chùa Yên Tử mây mù, không có chùa Keo bề thế, không có chùa Thiên Mụ soi
mình trên dòng sông Hương.Và cũng không có những chuyện dân gian đầy tính
nhân bản như truyện Từ Thức, truyện Tấm Cám, truyện Quan Âm Thị Kính….
Sẽ không có những lễ hội tưng bừng như hội Lim, hội Chùa Hương…. và trong
tâm tư truyền thống cũng vắng tư tưởng bố thí vị tha, lòng hưởng thiện và niềm
tin vững chắc vào một tương lai sáng sủa, vắng tinh thần lạc quan ngây thơ của

22
22
Đất vua, chùa làng, phong cảnh Bụt
Dù ai đi đâu về đâu
Hể trông thấy tháp chùa Dâu thì về
Dù ai buôn bán trăm nghề
Nhớ ngày mồng tám thì về hội Dâu
Dù cho cha mẹ đánh treo
Em không bỏ hội chùa Keo hôm rằm
Ngang qua các câu ca dao của Việt Nam về hình ảnh của ngôi chùa, về quan
niệm hiếu hạnh, quan niệm nhân quả, ta thấy sự ảnh hưởng của phật giáo đã ăn
sâu vào đời sống của dân tộc Việt Nam. Sự ảnh hưởng sâu sắc đó không thể
hiện qua ca dao bình dân mà còn chiếm nhiều trong loại hình thơ ca, văn vần,
văn xuôi, nói chung là văn chương bác học trong nền văn học Việt Nam.
4.3.3. Ảnh hưởng phật giáo qua các tác phẩm văn học:
Bên cạnh ca dao bình dân, trong các tác phẩm văn học của các nhà thơ, nhà văn
chúng ta cũng thấy có nhiều bài thơ, tác phẩm chịu ảnh hưởng nhiều hay ít của
phật giáo. Ở đây chúng ta không đề cập đến dòng văn học chính thống của phật
giáo, tức là tác phẩm do các thiền sư sáng tác trong quá trình tu tập của mình,
mà chỉ nói đến các thơ văn Việt Nam chịu sự ảnh hưởng của triết lý phật giáo
mà thôi. Cái ảnh hưởng đó có ngay từ khi phật giáo du nhập vào nước Việt,
nghĩa là khi chữ Hán còn thịnh hành, nhưng để thấy rõ ràng hơn, ta chỉ đề cập
23
23
đến sự ảnh hưởng của phật giáo trong thơ văn từ khi người Việt Nam đã viết
chữ Nôm, chữ Việt thành thạo nghĩa là bắt đầu thừ thế kỷ thứ 18 trở về sau
Qua thế kỷ thứ mười chín, với thi hào Nguyễn Du (2765-1820) ta có được một
án văn bất hủ là Truyện Kiều, là một truyện thơ nôm viết bằng thể lục bát dựa
theo tác phẩm Kim Vân Truyện Kiều của Thanh Tâm Tài Nhân (Trung Quốc),
gồm 3254 câu thơ. Đây là một truyện thơ chịu nhiều ảnh hưởng của Phật Giáo,

liệm người chết; (2) lễ phát tang; (3) lễ tiến linh (cúng cơm); (4) khóa lễ kỳ siêu
cho hương linh; (5) lễ cáo Triều Tổ (cáo tổ tiên ông Bà trước giờ di quan); (6)
lễ di quan và hạ huyệt; (7) Đưa lư hương, long vị, hình vong về nhà hoặc chùa;
(8) lễ an sàng; (9) cúng thất (tụng kinh cầu siêu và cúng cơm cho hương linh
trong bảy tuần gồm 49 ngày, mỗi tuần cúng một lần); (10) lễ tiểu tường (giáp
năm, sau ngày hương linh mất một năm); (11) lễ đại tường (lễ xã tang, sau ngày
hương linh qua đời hai năm).
d.Các phong tục tạp quán khác.
-Tập tục đốt vàng mã:
Đây là tập tục rất phổ biến ở Việt Nam mà người Việt đã tiếp nhận từ Phật giáo
Trung Quốc. Sau khi cúng giỗ, ngày vọng người chết sẽ nhận được những vật
dụng, tiền bạc đã cúng và đốt đó. Trong các đồ mã và giấy tiền vàng bạc để
25
25

Trích đoạn Phật giáo thể hiện qua nghệ thuật sân khấu (Hát bội, hát chèo, cải lương và kịch nói). Ảnh hưởng Phật giáo qua nghệ thuật tạo hình : NHẬN ĐỊNH VÀ KẾT LUẬN
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status