Lớp : Khoa : QTKDCN&XD .Trường : ĐHKTQD
MỞ ĐẦU
Trong công cuộc đổi mới của đất nước ta có sự ra đời của mô hình khu
công nghiệp ( KCN ). Mô hình này đã không ngừng phát triển về số lượng và chất
lượng. Nếu như vào thời điểm năm 1991 bắt đầu xuất hiện quy chế về KCN và chỉ
chứng kiến sự ra đời của hai khu chế xuất, Tân Thuận và Linh Trung thì cho đến
nay số lượng các khu công nghiệp ở nước ta đã lên tới con số 68 và được phân bố
rộng khắp từ Bắc –Trung. Chính sự phát triển mạnh này đã khẳng định hiệu quả
kinh tế của một mô hình. Qua hơn 10 năm phát triển vai trò của KCN trong sự
phát triển kinh tế đất nước là rất lớn. Nó đã góp phần nâng cao năng lực xuất khẩu
của đất nước, thu hút vốn đầu tư, kỹ thuật và kinh nghiệm quản lý tiên tiến của thế
giới, tạo điều kiện tăng trưởng GDP nhanh chóng và vững chắc, tạo việc làm, phát
triển KCN theo quy hoạch, bảo vệ môi trường, tiết kiệm và phát huy hiệu quả sử
dụng các nguồn lực khác, hình thành các khu đô thị mới và giảm bớt khoảng cách
giữa các vùng nông thôn và thành thị. KCN là mô hình phù hợp để thực hiện cơ
chế quản lý “ một cửa tại chỗ ” và hội nhập quốc tế không chỉ nhằm thu hút đầu
tư nước ngoài, mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư trong nước hoạt
động. Bên cạnh những thành tịu đáng trân trọng ấy các KCN tại Việt Nam vẫn tồn
đọng những khó khăn, thách thức mà vấn đề nổi cộm hiện nay chính là việc vóng
bóng của các nhà đấu tư trong các KCN, hầu hết các khu công nghiệp vẫn chưa
được lấp đầy. Theo bộ kế hoạch và đầu tư tính đến đầu năm 2002 trên tổng số 68
KCN chỉ có 25% KCN được lấp đầy. Nguyên nhân dẫn tới thực trạng trên có
nhiều, nhưng tập trung chủ yếu vào một số nguyên nhân như : Giá thuê đất còn
đắt, cơ sở hạ tầng còn kém, cơ chế chính sách còn chưa thông thoáng, và một
trong những lực cản lớn nhất hiện nay chính là vẫn chưa có cách nhìn nhận tổng
quát và đầy đủ về các KCN như là một bộ phận không thể tách rời trong nền kinh
tế đất nước.
Đề án môn học : Kinh tế và quản lý công nghiệp 1
Lớp : Khoa : QTKDCN&XD .Trường : ĐHKTQD
Như vậy, việc tìm hiểu một cách toàn diện về KCN, đồng htời đưa ra những
doanhnghiệp cung cấp về tư liệu sản xuất, các doanh nghiệp tiêu thụ sản phẩm của
doanh nghiệp nòng cốt, các doanh nghiệp phục vụ đời sống của cán bộ công nhân
viên của KCN.
- Thứ hai : Các cơ sở sản xuất kinh doanh của các ngành sản xuất vật chất
khác ( nông nghiệp, ngư nghiệp … )
- Thứ ba : Các cơ sở giao thông vận tải , bưu điện , phục vụ sản xuất và đời
sống dân cư .
- Thứ tư : Các cơ sở xử lý phế thải bảo vệ môi trường.
2. Tính tất yếu khách quan về thành lập KCN tại Việt Nam
Trong quá trình công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước việc hình thành
và phát triển KCN là đòi hỏi tất yếu khách quan , bởi vì đem lại vai trò vô cùng to
lớn, điều này nó được thể hiện :
- Tạo điều kiện thuận lợi để thu hút vốn và công nghệ của nước ngoài. Vai
trò này xuất phát từ các ưư đãi và thuận lợi của các nhà đầu tư khi vào sản xuất tại
KCN.
+ Ưu đãi về tài chính : Thông thường nó bao gồm các ưu đãi về thuế nhập
khẩu vật tư, thiết bị, nguyên liệu, thuế thu nhập công ty, thuế sở hữu tài sản, thuế
thương mại, được vay vốn với mức lãi suất ưu đãi, một số KCN còn được ưu đãi
về điện và nước.
+ Thuận lợi về lao động :
Chính quyền sở tại tạo mọi điều kiện để tuyển dụng lao động tại chỗ, đôi
khi còn đưa một số điều khoản hạn chế quyền của công nhân làm việc tại các
KCN theo hướng có lợi cho các công ty của KCN.
+ KCN tạo khả năng áp dụng một hệ thống luật pháp nhất định nhằm đáp
ứng yêu cầu của các nhà đầu tư nước ngoài, nhưng chỉ trên một địa bàn giới hạn.
Thông thường các quy định pháp ký của các KCN tương đối đơn giản, thông
thoáng, dễ thực hiện nên hấp dẫn các nhà đầu tư. Có thể xây dựng các quy chế này
Đề án môn học : Kinh tế và quản lý công nghiệp 3
Lớp : Khoa : QTKDCN&XD .Trường : ĐHKTQD
Lớp : Khoa : QTKDCN&XD .Trường : ĐHKTQD
+ Phụ nữ có khả năng thích ứng với các hoạt động lắp ráp đơn điệu.
Thông thường tỷ lệ thất nghiệp tại các quốc gia đang phát triển thì tỷ lệ lao
động nữ chiếm rất cao. Nhưng với ưu tiên về lao động nữ tại các KCN thì nó đã
phần nào giải quyết được những vấn đề thất nghiệp tại các quốc gia này.
- Nâng cao hiệu quả sử dụng nguyên liệu
Cùng với việc hình thành và phát triển KCN thì việc hình thành vùng
nguyên liệu cho KCN là cấp bách và cần thiết. Thay cho việc sản xuất lương thực
nhân dân xung quanh KCN sẽ được định hướng thay thế trong các loại nguyên
liệu phục vụ cho nhà máy trong KCN. Từ đó giúp nâng cao giá trị nông sản, mở
rộng thị trường, thu hẹp khoảng cách giữa các vùng, góp phần xoá đói giảm
nghèo, và phát triển kinh tế.
- Cho phép khắc phục yếu kém về cơ sở hạ tầng
Cơ sở hạ tầng là vấn đề quan trọng trong quá trình xây dựng KCN. Để có
thể thu hút được nhà đầu tư vào KCN không những cần phải có chính sách ưu đãi
tốt, mà cần có cơ sở hạ tầng tốt để đáp ứng nhu cầu sản xuất.
Cần có việc phát triển đồng bộ cơ sở hạ tầng tại KCN, bên cạnh đó việc
đảm bảo hệ thống nhà máy, các phòng ban, hệ thống dịch vụ trong các KCN cũng
phải hoàn thiện việc phát triển hệ thống các cơ sở hạ tầng ngoài KCN như : Làm
đường giao thông, các công trình nhà ở cho công nhân, các công trình phục vụ cho
vui chơi, giải trí …
Kết quả quá trình xây dựng đó đã góp phần làm thay đổi bộ mặt của vùng,
không ít vùng nông thôn đất đai sinh lầy, hoang hoá, ít có khả năng sinh lợi sau
khi xây dựng KCN đã trở nên sầm uất, đời sống king tế xã hội được lột xác.
- Tạo ra mô hình kinh tế năng động đóng góp lớn vaòi tăng trưởng kinh tế
+ KCN sẽ là nơi đào tạo cán bộ kỹ thuật năng động, công nhân lành nghề
và cán bộ quản lý có trình độ cao , đủ sức vươn ra thị trường thế giới .
+ KCN sẽ là sợi dây nối liền giữa nền kinh tế thế giới và Việt Nam.
Đề án môn học : Kinh tế và quản lý công nghiệp 5
Đề án môn học : Kinh tế và quản lý công nghiệp 6
Lớp : Khoa : QTKDCN&XD .Trường : ĐHKTQD
- Các công trình bên ngoài KCN
+ Hệ thống khu nhà ở cho công nhân .
+ Hệ thông đường giao thông dẫn tới KCN .
+ Các công trình phục vụ cho giải trí .
+ Hệ thống nhà nghỉ, khách sạn .
+ Hệ thống bưu điện, phục vụ y tế .
+ Bể bơi, sân tập thể thao cho công nhân viên …
- Chính sách của nhà nước
+ Các chính sách về quản lý và sử dụng đất đai tại các KCN
Giá thuê đất.
Cơ chế giao đất, thuê đất.
Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Quy mô sử dụng đất.
+ Các chính sách ưu đãi vầ tài chính.
Chính sách vay vốn với lãi suất ưu đãi.
Chính sách ưu đãi các loại thuế ( thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế tiêu
thụ đặc biệt, thuế xuât nhập khẩu … ) .
+ Các chính sách liên quan tới xây dựng cơ sở hạ tầng : Việc đền bù giải
phóng mặt bằng .
+ Các chính sách đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực .
+ Các thủ tục hành chính.
+ Chương trình vận động đầu tư : Đó là bản tường trình, giới thiệu về KCN
với tất cả các nhà đầu tư, nội dung bao gồm :
* Nêu toàn bộ các điều kiện thuận lợi về KCN :
Về vị trí địa lý .
Về cỏ sở hạ tầng .
Nguồn lao động tại KCN .
Việc thu hút vốn đầu tư vào KCN đạt kết quả nhất định, số lượng các dự án
được cấp phép và đi vào sử dụng tăng liên tục qua các năm. Cùng với nó là việc
Đề án môn học : Kinh tế và quản lý công nghiệp 8
Lớp : Khoa : QTKDCN&XD .Trường : ĐHKTQD
thu hút lao động rất lớn vào làm việc trong KCN, đó là dấu hiệu đang mừng. Theo
số liệu thống kê, đến cuối năm 1997 các KCN đã thu hút được 543 doanh nghiệp
với tổng số vốn thuẹc hiện trên 2 tỷ USD, đã thu hút được 8.8 vạn lao động, không
kể số lượng lao động xây dựng cơ bản và làm việc trong lĩnh vực phục vụ cho
KCN.
Cho đến cuối năm 1999 đã có 914 doanh nghiệp được cấp giấy phép hoạt
động tổng số vốn đăng ký là 7.8 tỷ USD, trong đó 569 doanh nghiệp nước ngoài
vốn đănh ký 1800tỷ tương đương 1.4 tỷ USD chiếm 36% số dự án và 17% tổng số
vốn đầu tư. Trong tổng số các doanh nghiệp được cấp phép hoạt động, đã thu hút
được 14000 người lao động, tạo sức mua cho thị trường trong nước 1000 tỷ đồng.
Chỉ trong sáu tháng đầu năm 2000 đã có thêm 68 giấy phép đầu tư nước ngoài
đăng ký vào KCN với tổng số vốn đăng ký 186,3 triệu USD tăng 97 % về tổng dự
án so với cùng kỳ năm trước. Do kinh doanh có hiệu quả đã có 18 dự án mở rộng
quy mô sản xuất với tổng số vốn đầu tư gần 80 triệu USD, đã thu hút tới 180.000
lao động trực tiếp, đồng thời tạo việc làm cho hàng vạn lao động gián tiếp.
Cho đến nay, đầu năm 2002 theo bộ kế hoạch và đầu tư thu hút 795 dự án
của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, tổng số vốn đầu tư là 7.555 triệu
USD, 674 dự án trong nước tổng số vốn 30.090 tỷ đồng, tạo việc làm cho 233.000
lao động.
* Các KCN đã đóng góp đáng kể cho tăng trưởng kinh tế. Hoạt động của
các KCN đạt được kết quả nhanh hơn so với nền kinh tế nói chung, ngành công
nghiệp và các khu đầu tư nước ngoài nói riêng và giữ được mức tăng trưởng cao
qua mấy năm gần đây.
Năm 1997 : KCN đạt tổng giá trị sản lượng 1.155 triệu USD chiếm 15% giá
trị sản xuất công nghiệp. Đóng góp vào xuất khẩu 848 triệu USD gần bằng 10%
Trung cũng còn nhiều diện tích chưa có người thuê, mặc dù xây dựng từ năm
1991. Đó là chưa kể đến số KCN sau khi xây song tường bao rồi bỏ đất hoang hoá,
cuối cùng phải giải thể như KCN Đồ Sơn Hải Phòng.
Đề án môn học : Kinh tế và quản lý công nghiệp
10
Lớp : Khoa : QTKDCN&XD .Trường : ĐHKTQD
Đó là bức tranh chung KCN tại Việt Nam. Thực tế tại các địa phương chỉ
có KCN ở phía Nam : Thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai hoạt động
tương đối có hiệu quả còn các KCN tại Bắc Bộ tỷ lệ diện tích đất trống còn rất cao
.Nếu như vào thời điểm năm 1999 tỷ lệ lấp đầy ở Bình Dương và Đồng Nai đã
tăng lên một cách đáng kể ( tại 7 KCN ở Bình Dương tỷ lệ lấp đầy là 43%, tại 9
KCN Đồng Nai tỷ lệ lấp đầy là 38% ) thì tại các KCN ở vùng trọng điểm Bắc Bộ
tỷ lệ lấp đầy chỉ mới đạt can 7%- một con số rất thấp và đáng lo ngại. Tỷ lệ này
còn thua kém ngay cả KCN mới thành lập, đó là KCN Phú Tài _ Bình Định tuy
mới được thành lập đã có 80% diện tích được lấp đầy.
* Nguyên nhân của những tồn tại trên :
+ Thứ nhất : Do sự tồn tại quá nhiều KCN
Các KCN không chỉ nhiều về số lượng mà diện tích quy hoạch rất rộng .
Chính và thế dẫn tới tình trạng phân tán các dự án đầu tư làm tỷ lệ thu hút vốn vào
KCN đều thấp .
Các KCN đua nhau ra đời trong tình trạng “ Trăm hoa đua nở ”, quy hoạch
phát triển các KCN trên tổng thể địa bàn cả nước và từng khu vực còn thấp, nhiều
vấn đề chưa được xử lý, thiếu sư phối hợp giữa ngành và lãnh thổ trong công tác
chỉ đạo thực hiện quy hoạch các ngành các cấp. Đặc biệt, một số chính quyền còn
chủ quan, thiếu tính toán các điều kiện cần thiết và đầy đủ khi quyết đinh đầu tư
xây dựng KCN tại địa phương mình. Có địa phương quy hoạch phát triển KCN
chưa xác định được hướng thu hút phát triển những loại doanh nghiệp thuộc ngành
nghề, lĩnh vực nào cho phù hợp bới địa phương mình.
Trong công tác quy hoạch và định hướng nhược điểm của chúng ta là ham
+ Thứ ba : Đó là cơ sở hạ tầng chưa đồng bộ và bảo đảm. Nguyên nhân
chính dẫn tới chưa đồng bộ trong xây dựng cơ sở hạ tầng có lẽ do nguồn vốn còn
hạn hẹp. Vốn đầu tư cho xây dựng cơ sở hạ tầng chỉ mới có 379 triệu USD chưa
đủ tạo ra hạ tầng hiện đại trên cả nước cũng là điều dễ hiểu. Bên cạnh một số ít các
KCN làm tốt việc đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng nhiều KCN còn thể hiện sự yếu
kém, mặt bằng còn dở dang nhưng đã lêu gào đâu tư. Nhiều chủ đầu tư cho rằng
cho đến nay vẫn chưa có thông tư hướng dẫn của bộ xây dựng và các ngành liên
quan về thực hiện nghị định 52 CP ban hành quy chế quản lý đầu tư và xây dựng.
Đề án môn học : Kinh tế và quản lý công nghiệp
12
Lớp : Khoa : QTKDCN&XD .Trường : ĐHKTQD
Điều này đã làm cho các công trình chậm triển khai vì không biết làm theo cơ chế
cũ hay cơ chế mới. Trong khi tốc độ giải ngân vốn tín dụng cho các công ty phát
triển cơ sở hạ tầng vẫn còn chậm, hiện nay mới chỉ có 2/3 trong tổng số 1.300 tỷ
đồng vốn tín dụng nhà nước đầu tư cho xây dựng cơ sở hạ tầng cho KCN được
giải ngân, vì còn vướng mắc giữa các ngân hàng cho vay và các công ty phát triển
hạ tầng can nhu cầu vay. Kết quả là nhiều nhà đầu tư đến ngã ngửa vì không thể
nào xây dựng cơ sở hạ tầng trên một mặt bằng đầy chông gai, trong khi đó ban
quản lý và các nhà thầu xây dựng đến coi như đã làm xong phần việc của mình
yên tâm đệ trình mặt bằng đã giải quyết song và KCN đã thu hút số dự án đầu tư.
+ Thứ tư : Thiếu nguồn lao động có tay nghề tại các KCN. Thực tế này
đang làm đau đầu các nhà quản lý và đầu tư. Việc chậm thực hiện chính sách đào
tạo nguồn nhân lực dẫn tới lao động cho các KCN xuất hiện nghịch lý thừa lao
động giản đơn, thiếu lao động có tay nghề. Trong số 13,7 vạn lao động đang làm
việc tại các KCN vẫn có hàng vạn lao động tại địa phương nơi có KCN đang chờ
việc làm. Chẳng hạn ở huyện Sóc Sơn Hà Nội các nhà đầu tư đã hạ chỉ trên trình
độ học vấn xuống còn 9/12 nhưnh khi tuyển chọn vẫn gặp lúng túng.
+ Thứ năm : Các chính sách về đầu tư còn chưa thay đổi kịp với sự phát
triển kinh tế, trong khi các quốc gia khác các chính sách của họ đổi mới rất nhanh
+ Lao động nhiều giá rẻ nhưng chất lượng tốt .
+ Tình hình chính trị ổn định .
+ Chế độ giảm thuế rông rãi và thủ tục thuế đơn giản .
+ KCN, khu chế xuất nằm gần các tuyến giao thông đường bộ, hàng
không và đường thuỷ và các điều kiện thuận lợi khác.
+ Phương tiện thông tin nhanh chóng và giá dịch vụ thấp.
+ Nguồn điện ổn định .
+ Nguồn nước đạt tiêu chuẩn và được cung cấp đầy đủ .
+ Các ngành công nghiệp liên quan hỗ trợ đày đủ về phụ tùng linh kiện,
bán thành phẩm .
+ Các quy định thủ tục đơn giản, dễ hiểu.
+ Điều kiện ăn ở giải trí đảm bảo .
Đề án môn học : Kinh tế và quản lý công nghiệp
14
Lớp : Khoa : QTKDCN&XD .Trường : ĐHKTQD
Mười yếu tố trên coi như những căn cứ để đè ra các giải pháp nhằm thu hút
vốn đầu tư vào KCN, các giải pháp cụ thể :
* Tiến hành quản lý và quy hoạch xây dựng KCN một cách chặt chẽ .
+ Chính phủ cần xem xét kỹ lưỡng trước khi quyết định thành lập KCN.
Phải tiến hành phân tích tỉ mỉ các diều kiện tại khu vực định thành lập KCN, các
điều kiện đó là :
- Vị trí địa lý của nơi dự định xây dựng KCN, quan trọng vì nó liên quan tới
vấn đề nhân lực, nguyên vật liệu phục vụ cho KCN.
- Chiến lược phát triển kinh tế của vùng.
- Nhu cầu sản phẩm thị trường đòi hỏi các doanh nghiệp thuộc KCN.
- Khả năng đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp trong KCN.
Kiên quyết không cấp giấy phép thành lập KCN nếu như không đạt các yêu
cầu đặt ra.
+ Khi tiến hành thành lập KCN cần lưu ý tới đất đai tại các KCN. Nhà nước
độ cao từ thủ đô Hà Nội, đồng thời cũng tạo ra thị trường tiêu thụ sản phẩm vô
cùng rộng lớn với thủ đô Hà Nội và các vùng phụ cận khác.
- KCN Dung Quất – Quảng Nam
+ Định hướng phát triển kinh tế của vùng : Đưa miền Trung thoát khỏi khó
khăn, đưa nền kinh tế từng bước phát triển nâng cao đời sông người dân từ việc
định hướng trên việc chọn Dung Quất làm KCN sự đầu tư của nhà nước nhằm vực
dậy vùng đất Miền trung nghèo khó này.
+ Điều kiện thuận lợi : Có địa thế thuận lợi trong tổ chức, khai thác hoạt
động kinh tế cảng, sân bay thông tin viễn thông có khả năng thu hút tài nguyên và
giao lưu kinh tế với các vùng xung quanh .
Tài nguyên thiên nhiên : Tài nguyên rừng, tài nguyên biển, hệ thống công
nghiệp địa phương hình thành tương đối đồng bộ từ cơ khí chế tạo, cơ khí đống
mới, sửa chữa ô tô …
+ KCN Dung Quất được xác định là KCN lọc hoá dầu đầu tiên trong cả
nước, là khu vực tập trung nhiều ngánh công nghiệp quan trọng. Dung Quất gắn
với cảng biển nước sâu, sân bay quốc tế Chu Lai và khu đô thị mới Vạn Tường.
Đề án môn học : Kinh tế và quản lý công nghiệp
16
Lớp : Khoa : QTKDCN&XD .Trường : ĐHKTQD
Việc phát triển KCN Dung Quất đem lại lợi thế to lớn cho người dân nơi
đây. Khả năng giải quyết việc làm đến năm 2005 là 10.000-15.000 người trong đó
cần 20% kỹ sư lao động kỹ thuật cao.
- KCN Đồng Nai và Bà Rịa Vũng Tàu
+ Định hướng phát triển kinh tế vùng : Trở thành khu vực kinh tế năng
động có tiềm năng lớn trong tam giác kinh tế vùng trọng điểm phía Nam.
+ Điều kiện thuận lợi : Có hệ thống cơ sở hạ tầng tương đối đồng bộ và
phát triển. Các tuyến đường giao thông với chất lượng tốt nhất cả nước, tại đây có
đội ngũ lao động tương đối đông đảo và có trình độ.
Vị trí kinh tế xã hội : Cũng giống như Hải Phòng nó nằm trong vùng kinh
đồng thời tiết kiệm vốn, hạ tầng bên trong KCN sẽ được đầu tư theo phương pháp
cuốn chiếu nhưng đảm bảo cơ sở hạ tầng sẵn có để thực hiện giai đoạn xây dựng
phần kiến trúc lắp đặt thết bị cho các nhà đầu tư. Quá trình xây dựng có thể chia ra
thành các giai đoạn :
+ Giai đoạn đầu : Sẽ tập trung xây dựng các trục đường chính phụ nối liền
các đơn vị sản xuất trong KCN. Các công trình này phục vụ việc vận chuyển các
thiết bị máy móc cho lắp đặt sản xuất, đồng thời xây dựng các công trình phục vụ
sản xuất như : Hệ thống cung cấp điện, hệ thống cung ccáp nước, san nền phục vụ
thực hiện các dự án đầu tiên.
+ Giai doạn sau : Giai đoạn xây dựng nhà xưởng sản xuất, diện tích đất còn
lại sau khi xây dựng các công trình giao thông sẽ chia thành nhiều lô đất với quy
mô hợp lý. Từng lô đất sẽ xây dựng theo yêu cấu của nhà đầu tư, hoặc do người
đầu tư xây dựng. Chú ý với doanh nghiệp sản xuất mà ngành nghề sản xuất có ảnh
hưởng tới môi trường tự nhiên thì throng quy hoạch xây dựng tại đó chú ý tới công
trình xử lý chất thải, tránh gây ô nhiễm môi trường. Đồng thời với việc xây dựng
các nhà xưởng cần tạo quang cảnh cho KCN thông qua việc trồng cây xanh trong
KCN. Việc trròng cây xanh có tác dụng to lớn đối với KCN, nó góp phần giảm ô
nhiễm môi trường, là nơi nghỉ ngơi giải trí cho công nhân sau khi làm việc căng
thẳng, tạo cảm giác thoải mái cho cán bộ công nhân viên khi bước vào làm việc, từ
đó nâng cao hiệu quả sản xuất.
Đề án môn học : Kinh tế và quản lý công nghiệp
18
Lớp : Khoa : QTKDCN&XD .Trường : ĐHKTQD
Đi đôi với việc xây dựng cơ sở bên trong KCN là việc phát triển hạ tầng
bên ngoài KCN.
Các tuyến đường giao thông chính dẫn tới KCN : Cần được xây dựng, cải
tạo mở rộng để phục vụ tốt nhất cho KCN. Các tuyến đường này đóng vai trò rất
quan trọng.
Tạo điều kiện vận chuyển hàng hoá nhanh chóng vào KCN .
- Chính sách quản lý và sử dụng đất đai .
+ Tiền thuê đất : Đối với những KCN mà nhà đầu tư trong nước, hoặc nước
ngoài phải trả tiền thuê đất trực tiếp thì cho phép các nhà đầu tư lập tiến độ sử
dụng đất đến đâu thì nộp tiền thuê đất cho nhà nước tới đó. Phần diện tích đã đền
bù cho địa phương nếu chưa sử dụng thì có thể cho nhân dân tạm thời sản xuất để
tận thu.
+ Cơ chế thuê đất, giao đất : Có thể áp dụng cơ chế giao đất ổn định lâu dài
nhằm đảm bảo cho việc chủ động kêu gọi đầu tư giảm tiền thuê, tiền sử dụng đất
trong KCN.
+ Cần giải quyết sự bất cập : Giữa thời hạn thuê đất phát triển giữa các
công ty phát triển hạ tầng KCN và các nhà đầu tư thuê lại đất để sản xuất kinh
doanh dảm bảo cho các nhà đầu tư vào các KCN tại bất kỳ thời điểm nào cũng có
thể thuê đất tối đa không quá 50 năm hoặc 70 năm theo quy định của luật đất đai.
+ Thống nhất việc cấp giấy phép quyền sử dụng đất
Thể hiện đúng nội quy của luật đất đai sửa đổi năm 1998 cho các nhà đầu
tư thuê lại đất bình đẳng trong quyền sử dụng đất với các nhà đầu tư thuê đất lần
đầu.
+ Cần tạo ra giá thuê đất trong các KCN thấp hơn ngoài hàng rào.
+ Về quy mô sử dụng đất cho các KCN hiện nay chủ yếu dựa trên nhu cầu
đề nghị của các nhà đầu tư, hoặc khả năng quỹ đất đai có thể đáp ứng của địa
phương. Chính vì vậy mà hiện nay có KCN diện tích lên tới 1000 ha như KCN
Việt Nam – Sinh Ga Po, song lại có KCN diện tích chưa đầy 25 ha như KCN Việt
–Hương, do vậy cần đưa ra một số tiêu chí về quy mô sử dụng đất.
- Các chính sách liên quan tới việc xây dựng cơ sở hạ tầng
Đề án môn học : Kinh tế và quản lý công nghiệp
20
Lớp : Khoa : QTKDCN&XD .Trường : ĐHKTQD
Chính phủ và chính quyền địa phương phải quan tâm tới vấn đề này. Thực
tế là xảy ra nhiều KCN giải phong mặt bằng khó khăn, mặc dù đã được đền bù
nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh tại KCN.
+ Chính sách thuế
Hiện nay, các doanh nghiệp tập trung trong các KCN được ưu đãi về thuế.
Tuy nhiên, ưu đãi phần lớn chỉ dành cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài, còn doanh nghiệp trong nước chưa được hưởng mức ưu đãi cao hon so với
các doanh nghiệp cùng ngành nghề. Vì thế, trong thời gian sắp tới cần có ưu đãi
thoả đáng hơn với doanh nghiệp trong nước hoạt động trong KCN ( Thuế suất ưu
đãi, kỳ miễn giảm thuế, thuế thu nhập doanh nghiệp nếu dùng lợi nhuận để tái đầu
tư …), các ưu đãi về thuế hiện nay trong công nghiệp chưa có tác dụng kích thích
mạnh, vì thế hướng đổi mới sau :
Không ưu đãi bằng thuế gián thu mà bằng thuế trực thu
Các ưu đãi phải đơn giản, dễ thực hiện, không nên ưu đãi nhiều về thuế suất
mà nên ưu đãi về thời hạn ưu đãi thuế.
Về thuế thu nhập doanh nghiệp : Theo quy định của các công ty xây dựng
cơ sở hạ tầng đều phải nộp thuế thu nhập doanh nghiệp nên hầu hết gặp khó khăn
về vốn, do phần lớn các công ty xây dựng cơ sở hạ tầng đều bỏ vốn kinh doanh
theo hình thức cuốn chiếu. Mặt khác khi xây dựng song và cho thuê cơ sở hạ tầng
thì hàng năm các công ty vẫn phải bỏ chi phí để duy trì vì lý do trên cần xem xét
quy định sửa đổi về việc xác định doanh thu để tính thuế thu nhập doanh nghiệp
của các công ty phát triển cơ sở hạ tầng theo hướng : Cho phép các công ty này
được tính doanh thu chịu thuế thu nhập doanh nghiệp theo từng năm đối với số
tiền thu trước tiền cho thuê cơ sở hạ tầng dịch vụ nhiều năm .
- Các thủ tục hành chính rườm rà không cần thiết
Biện pháp đề ra thực hiện cơ chế mở cửa tại chỗ thông qua việc uỷ quyền
cho các ban quản lý KCN cấp tỉnh thực hiện một số nhiệm vụ quản lý nhà nước
mà tại đó các bộ ngành trung ương nắm giữ.
Đề án môn học : Kinh tế và quản lý công nghiệp
22
Lớp : Khoa : QTKDCN&XD .Trường : ĐHKTQD
Lớp : Khoa : QTKDCN&XD .Trường : ĐHKTQD
Vấn đè tiếp theo là phải xây dựng một mối quan hệ với các công ty tư vấn
đầu tư hoạt động mạnh, hiệp hội tổ chức đàu tư trong nước và quốc tế.
Đề án môn học : Kinh tế và quản lý công nghiệp
24
Lớp : Khoa : QTKDCN&XD .Trường : ĐHKTQD
KẾT LUẬN
Có thể nói, bức tranh toàn cảnh của các KCN Việt Nam tới nay còn nhiều
khoảng sáng tối khác nhau. Những gì mà KCN gặt hái được chỉ là bước đầu và
còn quá khiêm tốn, chưa phản ánh đầy đủ tiềm năng, thế mạnh của nó, trong khi
đó những khó khăn tồn tại vẫn rất nhiều, nhưng suy cho đến cùng hiện tượng đó là
khó tránh khỏi.
Vấn đề đặt ra hiện nay là trên cơ sở đánh giá đúng thực trạng và dự báo
triển vộng năm tới cần tiến hành rà soát điều chỉnh lại quy hoạch phát triển các
KCN hiện có cũng như sẽ xây dựng mới sao cho thật thiết thực và hiệu quả với
phương châm là không lên hướng vào tăng số lượng mà chủ yeéu là phải thu hút
được các nhà đầu tư kể cả trong và ngoài nước vào KCN đã có, nhanh chóng lấp
đầy diện tích đã xây dựng. Việc thực hiện phương châm trên không phải chỉ ngày
một ngày hai mà nó là cả quá trình rất dài. Đồng thời phải thực sự ủng hộ, phối
hợp tham gia tích cực của Đảng, Chính Phủ, của các cấp các ngành có liên quan
nhằm đưa KCN phát triển lên tầm cao mới. Trong tương lai không xa KCN sẽ góp
phần xứng đáng trong việc phát triển công nghiệp, đáp ứng sự nghiệp công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nước.
Đề án môn học : Kinh tế và quản lý công nghiệp
25