nghiên cứu việc sử dụng rơm,rạ tạo ra các sản phẩm môi trường - Pdf 13



BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KỸ THUẬT CÔNG NGHỆ TP. HCM

ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP NGHIÊN CỨU VIỆC SỬ DỤNG RƠM, RẠ
TẠO RA CÁC SẢN PHẨM MÔI TRƯỜNG
Ngành: MÔI TRƯỜNG
Chuyên ngành: CHUYÊN NGÀNH KỸ THUẬT MÔI TRƯỜNG
Giảng viên hướng dẫn : GS.TS. HOÀNG HƯNG
LỜI CẢM ƠN

Tác giả luận văn xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới:
- GS. TS Hoàng Hưng đã hướng dẫn tận tình, chỉ bảo cặn kẽ tác
giả trong suốt quá trình hoàn thành luận văn này.
- Tập thể các thầy giáo, cô giáo trong Khoa môi trường và công
nghệ sinh học – Trường Đại Học Kỹ Thuật Công Nghệ TP. Hồ Chí Minh
đã trực tiếp đóng góp và tạo điều kiện thuận lợi giúp tác giả hoàn thành
luận văn.
- Cảm ơn các đồng nghiệp, những người thân đã giúp đỡ tôi tận
tình trong quá trình thực hiện luân văn.
Tuy nhiên do điều kiện nghiên cứu còn hạn chế, kiến thức còn chưa sâu, kinh
nghiệm còn chưa có cùng với thời gian có hạn nên luận văn không tránh khỏi nhiều
thiếu sót. Mong thầy cô giáo và các bạn đồng nghiệp thông cảm và giúp đỡ tác giả
để luận văn được hoàn thiện hơn.
Một lần nữa xin trân thành cảm ơn! Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Ngọc Yến
Nghiên cứu việc sử dụng rơm, rạ tạo ra các sản phẩm môi trường

phơi hong không những không có diện tích mà còn tốn nhiều công sức. Hiện tượng
đốt rơm rạ tràn lan ngày càng gây ra những ảnh hưởng không tốt.
Theo các nhà y học, khói bụi khi đốt rơm, rạ làm ô nhiễm không khí, gây tác
hại lớn đối với sức khỏe con người. Trẻ em, người già, và người có bệnh hô hấp,
bệnh mạn tính, dễ bị ảnh hưởng nhất. Sử dụng rơm, rạ đúng cách để tạo ra các thành
phẩm giảm thiểu được khối lượng lớn rác thải sau mỗi mùa màng, cũng như giảm
thiểu ô nhiễm môi trường.
Hầu hết các nước đã và đang tìm kiếm các phương pháp tận dụng rơm, rạ và
xử lý theo cách an toàn, thân thiện với môi trường. Một trong những phương pháp
tận dụng rơm, rạ là trồng nấm rơm; sản xuất phân bón từ rơm, rạ; sử dụng rơm, rạ
cho sản xuất năng lượng, gồm nhiên liệu sinh khối rắn; sử dụng làm vật liệu xây
dựng. Ở các nước trên thế giới, rơm rạ ngày càng được áp dụng phổ biến làm vật
liệu hữu ích, xây dựng nên những ngôi nhà đẹp như trong chuyện cổ tích.
Xuất phát từ thực tiễn trên tác giả chọn đề tài: “Nghiên cứu về việc sử dụng
rơm rạ tạo ra các sản phẩm môi trường”.

1.2. Lý do chọn đề tài
Nước ta là một nước nông nghiệp. Có thể nói rơm, rạ đối với nước ta là
nguồn tài nguyên quý giá. Sự lãng phí nguồn tài nguyên, cùng với ô nhiễm môi
trường do việc sử dụng rơm rạ không đúng cách như hiện nay ở nước ta đang dần
trở thành mối quan tâm của xã hội. Vì vậy, tác giả chọn đề tài: “Nghiên cứu về việc
sử dụng rơm rạ tạo ra các sản phẩm môi trường”.

1.3. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu về việc sử dụng rơm rạ tạo ra các sản
phẩm môi trường.

1.4. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu việc sử dụng rơm, rạ tạo ra các sản phẩm môi trường
Trang 3


1.7. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung của luận văn bao gồm 4 chương:
- Chương 1: Mở đầu
- Chương 2: Giới thiệu chung về rơm
- Chương 3: Tổng quan nghiên cứu về việc sử dụng rơm, rạ tạo ra các sản
phẩm môi trường
- Chương 4: Một số quy trình sử dụng rơm, rạ làm phân hữu cơ từ các chế
phẩm sinh học

Nghiên cứu việc sử dụng rơm, rạ tạo ra các sản phẩm môi trường
Trang 5
CHƯƠNG 2. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ RƠM

2.1. Giới thiệu chung về rơm
Rơm là các loại cây lúa (lúa nước, lúa mì) hoặc là các loại cỏ, cây họ đậu hay
cây thân thảo.
Rơm rạ là nguồn phế thải trong
nông nghiệp. Rơm rạ chiếm khoảng một
nửa sản lượng của cây ngũ cốc, như lúa
mạch, lúa mì và lúa gạo.
Thông thường rơm được lấy từ
nguồn các loại cây lúa mì, lúa nước sau
khi thu hoạch phần hạt còn lại phần lá.
Hình 2.1. Hình cây rơm
(Nguồn: www.yeumoitruong.com)
Trên cánh đồng hay các ruộng lúa, sau khi thu hoạch xong phần hoa lợi của
các loại cây lương thực, phần rơm sẽ được gom và dồn lại thành từng đống rơm hay
ụ rơm để ủ rơm. Thông thường sau mỗi vụ thu hoạch sẽ có những người chuyên làm
nghề cào rơm, thu gom rơm chất đống để sử dụng gọi là cây rơm, khi sử dụng thì

chút ít P, K, Ca và Si…, nghĩa là giá trị về mặt khoáng chất cũng như chất hữu cơ
không còn giúp ích gì mấy cho cây trồng. Đấy là một sự lãng phí rất lớn. Rơm rạ là
nguồn chất hữu cơ khổng lồ, chúng chiếm đến 50% trọng lượng của cây lúa. Vì vậy
mỗi ha trồng lúa có đến 10 - 12 tấn rơm rạ. Không thể bỏ phí nguồn hữu cơ quan
trọng như vậy.
Thành phần các chất gây ô nhiễm không khí do đốt rơm, rạ, tác động đến sức
khỏe con người là hydrocacbon thơm đa vòng (viết tắt là PAH); dibenzo-p-dioxin
clo hoá (PCDDs), và dibenzofuran clo hoá (PCDFs), là các dẫn xuất của dioxin rất
độc hại, có thể là tiềm ẩn gây ung thư.
Hàm lượng tro (oxit silic) cao từ 9 đến 14%. Đó là điều gây cản trở việc xử
dụng rơm, rạ một cách kinh tế. Thành phần licnoxenlulozơ trong rơm, rạ gây khó
phân hủy sinh học.

2.3. Hiện trạng sử dụng rơm rạ tại Vi ệt Nam và các nước trên thế giới
Vài năm trở lại đây, tình trạng đốt rơm, rạ diễn ra ngày càng phổ biến sau
mùa gặt, gây ra những ảnh hưởng tiêu cực không nhỏ đến môi trường và sức khỏe
Nghiên cứu việc sử dụng rơm, rạ tạo ra các sản phẩm môi trường
Trang 7
của người dân. Ô nhiễm môi trường vì đốt rơm, rạ ngoài trời.
Với khoảng 4 triệu hecta đất trồng lúa, hàng năm lượng rơm rạ thải ra lên tới
76 triệu tấn. Con số này tương đương 20 triệu tấn dầu, nếu đốt bỏ sẽ gây lãng phí
nguồn tài nguyên quý giá.
Do đó, việc sử dụng rơm rạ đúng mục đích, không chỉ giúp cải tạo đất, nâng
cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất nông nghiệp mà còn hạn chế ô nhiễm môi
trường.
Việc đốt rơm, rạ sau mỗi vụ thu hoạch đang là hiện tượng phổ biến ở nhiều
nơi, vừa gây ô nhiễm môi trường vừa hết sức lãng phí.

cao - tất nhiên không thể không có rơm, rạ.
Rơm rạ còn được dùng làm vật liệu che phủ cho cây để vừa giữ ẩm vừa giữ
ấm vào ngày lạnh, làm mát vào ngày nắng nóng; dùng lót ổ cho gia súc, gia cầm.
Trong công nghiệp
Ngày nay, với công nghệ hiện đại, rơm rạ được chế biến làm ván ép để sản
xuất đồ nội thất, làm tường ngăn thay thế cho gỗ.
Rơm rạ dùng để đun nấu thì ai cũng đã biết, nhưng nay nó còn được sử dụng
làm nhiên liệu để chạy máy phát điện (Thái Lan, Indonesia là những quốc gia đang
rất quan tâm đến việc biến rơm, rạ thành điện năng). Ở Việt Nam, đã có nghiên cứu
để xử lý rơm, rạ, trấu thành Ethanol - nguồn nhiên liệu sinh học thận thiện môi
trường thay thế cho xăng dầu (công trình nghiên cứu của Tiến sỹ Nguyễn Hoàng
Dũng - Tr ường Đại học Bách Khoa thành phố Hồ Chí Minh).
Tro rơm, rạ còn được dùng làm phụ gia cho sản xuất xi măng hay dùng xử lý
nước bị nhiễm sắt (công trình nghiên cứu của học sinh Phùng Thủy Tiên, lớp Hóa
Nghiên cứu việc sử dụng rơm, rạ tạo ra các sản phẩm môi trường
Trang 9
K19, Trường THPT chuyên Thái Nguyên đã đạt giải 3 cuộc thi quốc gia về "Cải
thiện việc sử dụng và bảo vệ nguồn nước" lần thứ 6).
Rơm lúa được sử dụng phổ biến trong chăn nuôi trâu bò ở các nước nhiệt
đới. Ở Thái Lan, 75% rơm lúa rẫy và 82% rơm lúa nước dùng cho chăn nuôi trâu bò
(Wanapat, 1990); Bangladesh tỷ lệ này là 47% (Saadullah và cs, 1991). Ở nước ta
hàng năm có khoảng 25 triệu tấn rơm (Lê Xuân Cương, 1994; Lê Viết Ly và Bùi
Văn Chính, 1996), theo ước tính khoảng 70% số hộ chăn nuôi sử dụng rơm cho trâu
bò. Vì đây là nguồn thức ăn thô quan trọng, đặc biệt là vào mùa khô ở các tỉnh
phía Nam. Đồng bằng sông Cửu Long được coi là vựa lúa lớn nhất cả nước, điều đó
có nghĩa là lượng rơm rất dồi dào. Trước đây rơm chỉ để đốt đồng hoặc phủ liếp
dưa Gần đây, rơm được nông dân tận dụng trồng nấm rơm, nấm bào ngư và hình
thành một số chợ rơm tại Chợ Mới (An Giang) và Phụng Hiệp (Cần Thơ) với số
lượng mua bán rất lớn 200 – 300 tấn rơm/ngày. Việc ứng dụng các giải pháp kỹ
thuật, nâng cao giá trị dinh dưỡng, sử dụng rơm mang lại hiệu quả trong chăn nuôi

Gần đây nông dân đốt rơm rạ khiến khói bay khắp nơi, vào cả các đô thị, gây
bất lợi nhiều mặt và ảnh hưởng xấu tới sức khỏe của nhân dân. Khi đốt rơm rạ sẽ
xảy ra sự nhiệt phân không hoàn toàn, do đó tạo ra noài các khí CO, CO
2
, NO
2
,
SO
2
, H
2
0, các chất nhựa bay hơi, các hợp chất chứa Clor, hàng trăm các hợp chất
khác, và các hợp chất của kim loại nặng do tích luỹ sinh học của cây lúa. Thành
Nghiên cứu việc sử dụng rơm, rạ tạo ra các sản phẩm môi trường
Trang 11
phần của khói càng thêm phức tạp nếu trong rơm rạ lẫn dư lượng của những loại
nông dược chưa phân huỷ hết. Các chất tạo thành còn tương tác với nhau khiến
thành phần khói càng thêm phức tạp.
Tất cả đều có hại cho sức khỏe con người và tăng mức thải khí nhà kính vào
bầu khí quyển. Khí CO (carbon monoxid) rất nguy hại vì hít thở phải một nồng độ
chỉ khoảng 0,1% CO trong không khí sẽ dẫn tới thương tổn do giảm oxygen trong
máu hay tổn thương hệ thần kinh , có thể gây tử vong.
CO là chất khí không màu, không mùi và không gây kích ứng nên người ta
không cảm nhận nên khó biết do đó dễ nguy hiểm đến tính mạng. CO có ái lực với
huyết sắc tố (Hb, hemoglobin) trong hồng cầu, mạnh gấp 230 - 270 lần so với
oxygen nên khi được hít vào phổi CO sẽ gắn chặt với Hb thành HbCO do đó máu
không thể chuyên chở oxygen đến tế bào. CO còn gây tổn thương tim do gắn kết
với myoglobin của cơ tim.
Khói rơm rạ có mùi khó chịu. Khói rơm rạ thường có tính cay, làm chảy
nước mắt, gây kích thích phản ứng ở họng, làm người ta ho, hắt hơi, lợm giọng,

thối thân và rễ lúa cho các mùa lúa sắp đến.
Rơm rạ có thể có ích cho các nơi trồng lúa nước ở Đông Nam Á vì một tấn
rơm có thể cung cấp 9 kg N, 2 kg P và S, 25 kg K, 70 kg Si, 6 kg Ca và 2 kg Mg.
Người ta dùng men vi sinh tạo ra nguồn phân ủ, giảm được một nửa chi phí
đầu vào cho nông dân, cải tạo đất, giảm thiểu ô nhiễm môi trường; hướng tới một
thương hiệu gạo an toàn, chất lượng.

Hình 3.1: Xử lý rơm rạ làm phân hữu cơ. (Nguồn: www.yeumoitruong.com)
Nghiên cứu việc sử dụng rơm, rạ tạo ra các sản phẩm môi trường
Trang 13
Trong chế phẩm vi sinh học còn có các vi sinh vật có thể chống chọi với một
số bệnh cây trồng, và các vi sinh vật giúp cây trồng tăng trưởng tốt.
Hy vọng rơm, rạ sẽ trở thành nguồn thực phẩm bổ sung, và phân vi sinh,
nguyên liệu đưa vào sản xuất mà không còn là gánh nặng gây ô nhiễm môi trường
do đốt không kiểm soát được.

3.1.1. Ưu – nhược điểm khi sử dụng rơm rạ làm phân bón
Ưu điểm:
- Hạn chế được việc đốt rơm rạ sau khi thu hoạch.
- Tận dụng rơm rạ làm phân bón.
- Thân thiện với môi trường.
- Làm cho đất đai thêm phì nhiêu và môi trường an toàn.
- Nâng cao giá trị kinh tế, xã hội.
- Được dùng để tránh ảnh hưởng xấu trực tiếp của thành phần hữu cơ
đối với hoa màu do quá trình làm cố định chất đạm và giảm pH của đất.
- Sử dụng loại phân bón làm từ rơm, lúa đẻ nhánh tốt hơn, tập trung
hơn, rau màu tốt hơn, cây ăn quả cho trái sai và màu sắc đẹp hơn.
- Sử dụng phân bón hữu cơ đất đai sẽ trở nên tơi xốp không bị thoái hóa
như khi sử dụng phân hóa học trong một thời gian dài.
- Tiết kiệm phân hóa học, hạn chế sâu bệnh và nâng cao năng suất, chất

học như sau: Chế phẩm: 0,2kg/tấn; phân hoá học NPK: 3kg/tấn.
+ Quy trình thực hiện:
* Chế phẩm: Tiến hành pha chế phẩm ở dạng dung dịch hoà tan.
* Trải rơm, rạ sau khi thu hoạch trên địa điểm lựa chọn, mỗi lớp rơm, rạ dày
30cm thì tưới một lượt dung dịch chế phẩm hòa tan (nồng độ của dung dịch tùy
thuộc vào độ ẩm của rơm, rạ sao cho khi ủ rơm, rạ có độ ẩm đạt trên 80%) và rắc
mỏng phân hoá học NPK. Nếu gia đình có phân chuồng, phân gà thì bổ sung thêm.
Nghiên cứu việc sử dụng rơm, rạ tạo ra các sản phẩm môi trường
Trang 15
* Sau khi đã tiến hành xong, đống ủ phải được che đậy bằng nilon để đảm
bảo vệ sinh môi trường và kiểm tra nhiệt độ, độ ẩm của đống ủ để bổ sung nước đạt
độ ẩm cần thiết, duy trì nhiệt độ đống ủ luôn ở mức 40
o
C. Màng nilon che đậy đống
ủ được sử dụng nhiều lần đến khi hỏng thì thu gom bán cho người thu mua phế liệu
để tránh gây ô nhiễm môi trường.
+ Đảo trộn đống ủ: để cho rơm, rạ vụn thêm và làm cho các loại vi sinh vật
phân bố đều, tưới bổ sung duy trì ẩm độ, trộn đều giữa chỗ phân huỷ tốt và chưa tốt,
để đảm bảo cần đảo trộn 2 lần; lần 1 sau ủ 15 – 20 ngày, lần 2 cách lần 1 là 10 – 15
ngày, (cách kiểm tra độ ẩm: cầm nắm rơm, rạ vắt đều thấy nước rỉ ra theo kẽ tay là
được).
+ Sau 30 ngày trở đi ta kiểm tra chất lượng phân đảm bảo đưa đi bón lót gối
vụ hoặc đánh gọn bảo quản để bón cho cây rau màu.
Dùng phân này bón lót, sẽ giảm tới 30% lượng phân hóa học, và tăng năng
suất cây trồng lên đến 7%. Khi sử dụng phân hữu cơ này thì lượng phân bón hóa
học sẽ giảm trên 30%, năng suất lúa tăng 10-15% so với ruộng không sử dụng, giá
thành chế phẩm rất rẻ.
Một phương pháp nữa là chuyển rơm rạ xuống các hầm khí sinh học
(biogas). Qua sự phân giải và tổng hợp của các vi sinh vật thì toàn bộ chất hữu cơ
trong rơm rạ sẽ biến thành khí đốt (chủ yếu là khí mêtan) dùng để đun nấu, thắp

rơm rạ được nấu trong vòng 36 giờ, vật liệu sau khi nấu được rửa sạch bằng nước
lạnh tại dòng suối gần đó, sau khi nấu và rửa, rơm rạ tiếp tục được đập dập trong
khoảng 12 giờ và được đánh tơi kỹ lưỡng, lúc này bột đã sẵn sàng cho quá trình làm
giấy,

bột
được trải lên một khung lưới rộng ngâm trong nước và được san đều ra
bằng

tay,
sau khi bột được trải đều dùng một thanh mỏng cán ngang bề mặt lưới để
loại bỏ các bọt khí, quá trình này diễn ra trong khoảng từ một đến hai phút, sau đó
khung lưới được nhấc ra khỏi nước để khô và cắt nhỏ khung giấy theo kích thước
mong muốn.
Nghiên cứu việc sử dụng rơm, rạ tạo ra các sản phẩm môi trường
Trang 17
Giấy cứng bằng sợi được sản xuất ở Nhật Bản. Quá trình chế tạo giấy cứng
gồm cắt rơm thành những đoạn ngắn, khử trùng bằng nhiệt độ cao. Tất cả rơm cắt
nhỏ này được đổ vào một ống rộng 1,2 m và cao 50 cm dưới sức ép 14 kg/cm2 ở
150 - 250
o
C. Không cần dùng đến các chất dính nhờ có chất sáp, lignin và
pentosans hiện diện trong rơm rạ.
Hình 3.3: Giấy làm từ rơm rạ chưa qua xử lý
(Nguồn: www.yeumoitruong.com)
3.2.1. Ưu – nhược điểm khi sử dụng rơm rạ làm giấy
Ưu điểm:
- Hàm lượng lignin thấp hơn cây gỗ do đó tiêu tốn ít năng lượng hơn.
- Tiêu tốn ít hóa chất và năng lượng trong quá trình nấu.
- Xơ sợi rơm rạ dai đem lại độ bền cơ lý cho bột.


Sơ đồ 3.1: Quy trình làm giấy từ rơm rạ
Thành phẩm
Cán ép

Xeo giấy thành cuộn

Lắng lọc
Nghiền bột
Rửa
Nước
Nấu
Ngâm
Xác định thành phần hóa học

Cắt khúc, xác định độ ẩm

Nguyên liệu

lọc rửa bột tiến hành rửa bột 5 lần. Lượng nước thải tách ra sau mỗi lần lọc được lọc
lại bằng một tấm vải để thu hồi các hạt mịn tránh thất thoát bột, phần nước thải sau
khi lọc hạt mịn này sẽ thải bỏ. Bột sau khi rửa đã sạch loại bỏ hầu hết kiềm, lignin
và các hợp chất hữu cơ khác.
Nghiên cứu việc sử dụng rơm, rạ tạo ra các sản phẩm môi trường
Trang 20
Bột sau khi đã được rửa sạch bằng nước lạnh, cân khối lượng và xác định độ
ẩm bằng phương pháp phân tích khối lượng. Tiếp tục tiến hành xác định độ tro
nhằm tính trọng lượng vật liệu còn lại sau khi nung trong điều kiện tiêu chuẩn của
phương pháp thử.
Hiệu suất bột sau nấu được xác định thông qua xác định độ khô của bột theo
tiêu chuẩn SCAN – C 3:61. Xác định chỉ số Kappa của bột theo tiêu chuẩn SCAN –
C 1:77. Xác định độ tro của bột theo tiêu chuẩn SCAN – C 6:627. Bột được nghiền
trong máy nghiền theo tiêu chuẩn SCAN C 24:6. Độ nghiền của bột được xác định
ở máy đo độ nghiền Schopper-Riegler theo tiêu chuẩn SCAN-C19:6. Với mỗi chế
độ nghiền đo độ nghiền và làm giấy handsheet với định lượng mỗi tờ để đo độ trắng
là 80g/m2, để đo các chỉ tiêu còn lại là 60g/m
2
. Khảo sát độ nghiền ảnh hưởng đến
các tính chất của giấy, chọn ra được chế độ nghiền phù hợp để ứng dụng rơm rạ cho
sản xuất giấy in báo và giấy viết.
Nghiền bột: Là một trong những công đoạn đặc biệt quan trọng trong công
nghệ sản xuất giấy. Đó là quá trình xử lý bột bằng lực cơ học nhằm phát triển bột
đến mức tốt nhất tính chất tạo thành tờ giấy của xơ sợi. Rất nhiều các tính chất cơ
học, tính chất vật lý và tính thẩm mỹ của tờ giấy phụ thuộc vào giai đoạn này. Nó
làm thay đổi đáng kể tính chất của xơ sợi, tạo cho xơ sợi có độ đồng nhất, độ mềm
mại và có khả năng liên kết với nhau rất tốt trong cấu trúc của tờ giấy. Đi
ều chỉnh
quá trình nghiền bột có thể tạo ra được các loại sản phẩm khác nhau từ một loại
nguyên liệu ban đầu, từ đó các nhà sản xuất có thể tạo ra các sản phẩm phù hợp với

Dung dịch bột chuẩn bị cho xeo tờ giấy mẫu có nồng độ là 0,2% (sau khi đo
độ nghiền). Khuấy đều dung dịch bột trong vòng 5 phút bằng máy khuấy. Trong
hầu hết các trường hợp thì xơ sợi sẽ bị thất thoát qua lưới xeo nên khi lấy bột giấy
cũng phải tính toán lượng bù đắp để đạt được định lượng mong muốn.
Xeo giấy:
Cho

huyền
phù bột giấy vào máy xeo, bổ sung nước có nhiệt độ
27
0
C ± 1
0
C
,

khuấy
trộn bột bằng một trong hai cách sau: Khuấy trộn bằng cách
cho chuyển động lên và xuống, sau đó nhẹ nhàng nhấc dụng cụ ra. Hoặc,
mở nút
sục khí của máy xeo.
Trong cả hai cách, sau khi khuấy trộn, ấn và giữ công tắc thoát
nước cho đến khi nước rút hết để lại tờ giấy ướt trên lưới.
Ép giấy: Sau khi lấy mẫu giấy ra khỏi lưới xeo, giấy sẽ được ép trong máy
Nghiên cứu việc sử dụng rơm, rạ tạo ra các sản phẩm môi trường
Trang 22
ép để nâng độ khô của giấy lên.
Về các tính chất của giấy làm từ rơm rạ cho thấy giấy làm từ rơm rạ cho độ
bền cơ lý cao, thích hợp để sản xuất các loại giấy yêu cầu về độ bền cơ lý cao như
giấy in, giấy in báo, giấy viết. Hàm lượng lignin thấp tiêu tốn ít hóa chất, năng

năng lượng hơn là gỗ trong giai đoạn biến chế thành bột giấy, vì ít chất lignin


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status