GVHD: Th.S Nguyễn Hoàng Long SVTH: Đặng Thị Diễm Hằng
Trang 1
PHẦN MỞ ĐẦU
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trong điều kiện nên kinh tế Việt Nam hoàn toàn hội nhập vào nền kinh tế thế
giới đã đem lại nhiều cơ hội để các doanh nghiệp phát triển, nhưng cũng đặt doanh
nghiệp vào cuộc chiến khốc liệt với các đối thủ cạnh tranh đến từ toàn cầu. Đặc biệt,
đối với ngành bán lẻ trong nước đang đối mặt với sự cạnh tranh từ những nhà bán lẻ
tầm cỡ thế giới. Những nhà bán lẻ này có nguồn lực tài chính mạnh và kinh nghiệm
nhiều năm trong ngành bán lẻ. Đứng trước những nguy cơ như vậy, doanh nghiệp bán
lẻ nội địa trong đó có Công ty cổ phần đầu tư An Phong – Trung tâm thương mại
Maximark phải chiếm được niềm tin của người tiêu dùng, và điều đó chỉ có thể thực
thiện được sau khi hoàn thiện hoạt động xúc tiến và để nó phát huy hết hiệu quả.
Chính từ lý do yêu cầu thực tiễn đó nên tác giả chọn đề tài “Giải pháp hoàn thiện
hoạt động xúc tiến tại công ty cổ phần đầu tư An Phong – Trung tâm thương mại
Maximark”.
II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Đề tài với mục đích phân tích cách tổ chức cũng như hiệu quả của các hoạt
động xúc tiến tại doanh nghiệp, đồng thời đề xuất một số giải pháp có thể áp dụng
nhằm hoàn thiện hoạt động xúc tiến trong tương lai của doanh nghiệp.
III. ĐỐI TƯ ỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu: Đề tài được thực hiện tại Công ty cổ phần đầu
tư An Phong – Trung tâm thương mại Maximark 3/2 trong thời gian từ
ngày 17/09/2012 đến 09/12/2012.
Phạm vi nghiên cứu: Đề tài chỉ tập trung phân tích vào các hoạt động
xúc tiến của công ty trong năm 2010 – 2011.
GVHD: Th.S Nguyễn Hoàng Long SVTH: Đặng Thị Diễm Hằng
Trang 2
IV. VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
yêu mến thương hiệu hơn. Đối với công ty, xúc tiến có thể dùng để thể hiện, nâng cao
hình ảnh công ty, quan điểm kinh doanh, hoạt động đóng góp thiết thực cho cộng
đồng xã hội.
Những lợi ích xúc tiến mang lại cho công ty là: thông tin sản phẩm và dịch vụ,
xây dựng nhận thức về sản phẩm mới, quảng cáo và quảng bá sản phẩm hiện có, định
vị hoặc định vị lại hình ảnh bản sắc thương hiệu, hỗ trợ và thúc đẩy việc tiêu thụ sản
phẩm, xây dựng mối quan hệ khách hàng, duy trì lòng trung thành thương hiệu và đạt
được lợi thế cạnh tranh bền vững so với các đối thủ cạnh tranh khác.
1.2 NỘI DUNG CỦA HOẠT ĐỘNG XÚC TIẾN
1.2.1 Quảng cáo
1.2.1.1 Khái niệm
Quảng có là bất kỳ hình thức giới thiệu hay cổ động nào mang tính phi cá nhân
cho các ý tưởng, hàng hóa hay dịch vụ mà người muốn thực hiện chi tiền để thực hiện.
(P.Kotler)
Quảng cáo là yếu tố quan trọng của marketing mix, những quyết định liên quan
đến quảng cáo bị tác động chủ yếu bởi sự khác biệt văn hóa tại các nước. Người tiêu
dùng sẽ ph
ản ứng với thông điệp truyền quảng cáo dựa trên văn hóa, phong cách, cảm
xúc, hệ thống giá trị, thái độ và nhận thức của họ.
GVHD: Th.S Nguyễn Hoàng Long SVTH: Đặng Thị Diễm Hằng
Trang 4
Một quảng cáo hiệu quả phải đảm bảo truyền đạt được chất lượng sản phẩm và
dịch vụ theo nhu cầu, ước muốn, khao khát của người tiêu dùng. Cách thức tiếp cận
thuyết phục tạo sức hấp dẫn về mặt tình cảm, biểu tượng nhằm kích thích việc mua
sắm và nhằm chinh phục nhóm khách hàng tiềm năng.
1.2.1.2 Mục đích và mục tiêu của quảng cáo
Mục đích của quảng cáo là để thu hút sự chú ý của khách hàng, thuyết phục họ
về lợi ích, sự hấp dẫn của sản phẩm nhằm thay đổi hoặc củng cố thái độ và lòng tin
một sản phẩm hoặc dịch vụ.
Cổ động tiêu dùng (Consumer Promotion): được thiết kế để kích thích mua
sắm, bao gồm các hình thức phát miễn phí hàng mẫu, phiếu thương, giảm giá, hòan
tiền, quà tặng, ….
Cổ động thương mại (Trade Promotion): được thiết kế để dành sự ủng hộ và nỗ
lực bán lại của nhà phân phối gồm trợ cấp mua hàng, hàng miễn phí, cuộc thi doanh
số, trưng bày, ….
Cổ động nhân viên bán hàng (Sale Promoton): được thiết kế để động viên nỗ
lực của lực lượng bán hàng hiệu quả hơn, gồm tiền thưởng, thi đua và biểu dương
doanh số.
1.2.2.2 Mục tiêu của khuyến mãi
Mục tiêu của khuyến mãi cũng phải xuất phát từ mục tiêu chiến lược marketing
của công ty và đặc thù của hình thức khuyến mãi.
Đối với cổ động tiêu dùng: nhằm kích mua sản phẩm, động viên sử dụng sản
phẩm, chuyển dịch khách hàng từ nhan hiệu của đối thủ cạnh tranh , gia tăng nhận
thức nhãn hiệu, khuyến khích mua lặp lại và ngay cả kích thích hành vi mua sắm bốc
đồng.
Đối với cổ động thương mại: kích thích mua vào và bán ra của các trung gian
phân phối, nỗ lực bán hàng của lực lượng bán hàng, chiếm lĩnh không gian trưng bày
sản phẩm, mở rộng mạng lưới khách hàng phân phối, ủng hộ sản phẩm mới.
Tó m lại, dù có nhiều công cụ khuyến mãi khác nhau nhưng tất cả đều tập trung
vào việc gây sự chú ý tiêu dùng, thuyết phục và kích thích tiêu thụ và thúc giục khách
hàng mua sản phẩm hoặc dịch vụ.
Để đánh giá kết quả của đợt khuyến mãi, người ta có thể so sánh doanh số
trước, trong và sau khi thực hiện khuyến mãi. Nếu thị phần của nhãn hiệu trở về mức
cũ như hồi chưa có chương trình khuyến mãi thì chương trình chỉ tạo sự thay đổi mức
cầu trong nhất thời chứ không phải tổng sức cầu.
GVHD: Th.S Nguyễn Hoàng Long SVTH: Đặng Thị Diễm Hằng
Trang 6
nghành công nghiệp nào đó. Cách tổ chức này thường được các công ty kinh doanh
ngành công nghiệp áp dụng.
Cấu trúc lực lượng bán hàng kiểu phúc hợp: là tổ chức kết hợp nhiều kiểu cấu
trúc khác nhau theo lãnh thổ, khách hàng, sản phẩm hay lãnh thổ và sản phẩm.
Hoạt động bán hàng cá nhân phụ thuộc vào bản chất của sản phẩm, nhu cầu của
người tiêu dùng và các giai đoạn trong quá trình mua của khách hàng. Có rất nhiều
người tham gia vào hoạt động bán hàng từ người nhận đơn hàng, người chào hàng
trực tiếp cho đến người xử lý dịch vụ khách hàng, …
1.2.4 Marketing trực tiếp
1.2.4.1 Khái niệm
Marketing trực tiếp là một hệ thống marketing tương tác sử dụng một hay nhiều
loại phương tiện truyền thông quảng cáo để đạt được đáp ứng trực tiếp hoặc một giao
dịch với khách hàng tiêu dùng ở bất kỳ địa điểm nào.
Marketing trực tiếp phản ánh xu thế truyền thông marketing mang tính một đối
một, thông qua đó người bán có thể điều chỉnh các cống hiến marketing thật phù hợp
với nhu cầu của các phân khúc hẹp.
1.2.4.2 Các dạng marketing trực tiếp
Marketing trực tiếp tạo ra một bộ mặt mới cho truyền thông marketing bên
cạnh những công cụ ưa chuộng kinh điển như truyền hình, truyền thông báo chí, …
Marketing trực tiếp bao gồm các hình thức truyền thông chính:
- Marketing qua thư điện tử trực tiếp: là việc gửi qua bưu điện bao gồm thư,
quảng cáo, hàng mẫu, cho khách hàng tương lai theo danh sách thư gửi.
- Marketing qua catalogue: thông qua các catalogue gửi đến các khách hàng
có chọn lọc hay đặt sẵn tại cửa hàng.
- Marketing qua điện thoại: là việc sử dụng điện thoại để chào bán trực tiếp
với khách hàng. Hình thực này được sử dụng nhiều trong hoạt động
marketing doanh nghiệp với doanh nghiệp.
GVHD: Th.S Nguyễn Hoàng Long SVTH: Đặng Thị Diễm Hằng
Trang 8
được chấp nhận trên phạm vi quốc tế và quen thuộc với các chuyên gia PR:
- Theo Viên Quan hệ công chúng Anh (England Institute of Public Relations
– IPR) thì: “PR là một hoạt động liên tục được lên kế hoạch nhằm hỗ lực
thiết lập và duy trì uy tín, tình cảm, sự hiểu biết lẫn nhau giữa một tổ chức
và công chúng”.
- Theo Frank Jefkins (tác giả cuốn sách Public Relations – Frameworks do
Financial Times xuất bản) thì: “PR bao gồm tất cả các hình thức giao tiếp
được lên kế hoạch, cả trong nội bộ và bên ngoài tổ chức, giữa một tổ chức
và công chúng của nó nhằm đạt được những mục tiêu cụ thể liên quan đến
sự hiểu biết lẫn nhau”.
- Hội nghị các viện sĩ thông tấn PR tòan cầu (World Assembly of Reblic
Relations Associates) tạ
i Mexico tháng 8 năm 1978 thì nêu: “PR là một
nghệ thuật và môn khoa học xã hội, phân tích những xu hướng, dự đoán
những kết quả, tư vấn cho các nhà lãnh đạo của tổ chức và thực hiện các
chương trình hành động đã được lập kế hoạch để phục vụ quyền lợi của cả
tổ chức và của công chúng”.
1.2.5.2 Mục tiêu
Đặc trưng của quan hệ công chúng là một quá trình giao tiếp thông tin hai
chiều, mang tính khách quan cao, lượng thông tin truyền tải có tác dụng lớn, lợi ích cụ
thể cho công chúng với chi phí thấp.
Các thành phần của PR gồm 4 thành phần:
- Chủ thể: là những cá nhân hay tổ chức xây dựng và vận hành các chương
trình PR trong hoạt động của mình.
- Công chúng: có thể là cá nhân hay tập thể.
GVHD: Th.S Nguyễn Hoàng Long SVTH: Đặng Thị Diễm Hằng
Trang 10
- Thông điệp: rất đa dạng, phong phú, được chủ thể mong muốn chuyển tải
tới công chúng. Có thể là khẩu hiệu, logo, thương hiệu, kế hoạch, tuyên bố,
của khách hàng đối với hoạt động của doanh nghiệp.
Các hoạt động tài trợ cộng đồng trước hết cần xuất phát từ mục đích mang lại
lợi ích cho cộng đồng, bên cạnh đó là quảng báo thương hiệu. Các chương trình cho
hoạt động này cần thiết thực, phù hợp với hoàn cảnh thực tế và không quá lạm dụng
quảng cáo vì rất có thể sẽ tạo ra tác dụng ngược, gây khó chịu cho đối tượng được
tuyên truyền.
Các hoạt động phi thương mại trực tiếp với khách hàng như hội nghị khách
hàng, tổ chức triễn lãm, … là nhóm hoạt động có chi phí đôi khi không quá cao nhưng
hiệu quả thường rất lớn. Đây là cơ hội tốt nhất để người tiêu dùng tiếp xúc trực tiếp
với hàng hóa của doanh nghiệp và được tư vấn đầy đủ, chính thức từ doanh nghiệp.
Làm tốt các hoạt động này, thương hiệu của doanh nghiệp sẽ có nhiều cơ hội được
người tiêu dùng nhớ đến.
GVHD: Th.S Nguyễn Hoàng Long SVTH: Đặng Thị Diễm Hằng
Trang 12 KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Trong bối cảnh toàn cầu hóa như hiện nay thì việc cạnh tranh giữa các doanh
nghiệp trong và ngoài nước diễn ra rất quyết liệt, người tiêu dùng có được nhiều sự
lựa chọn hơn trong việc mua sắm. Vì vậy để tăng hiệu quả cạnh tranh thì doanh
của người tiêu dùng, đó là ngày nay người ta đến siêu thị, trung tâm thương mại ngoài
nhu cầu mua sắm còn để hưởng các dịch vụ khác như: vui chơi giải trí, ăn uống, làm
đẹp, …. Vì vậy, công ty luôn nghiên cứu tìm hiểu để đáp ứng tốt hơn nhu cầu khách
hàng. Cùng với nỗ lực của ban lãnh đạo và toàn thể công ty, cho đến nay nguồn vốn
của công ty đã tăng hơn gấp 300 lần số vốn điều lệ ban đầu.
2.1.2 Lịch sử hình thành
Công ty cổ phần đầu tư An Phong được thành lập theo quyết định số 176/CP-
UB do UBND TP.HCM cấp ngày 25/04/1992 theo giấy phép kinh doanh số 406918.
Ban đầu là Công ty TNHH – DN An Phong. Đến tháng 12/2007 công ty đổi tên thành
Công ty CP đầu tư An Phong.
GVHD: Th.S Nguyễn Hoàng Long SVTH: Đặng Thị Diễm Hằng
Trang 14
Tên Doanh nghiệp: Công ty Cổ phần Đầu tư An Phong
Trụ sở chính: Số 3, Đường 3/2, Phường 11, Q.10, TP.HCM
Điện thoại: (84.8) 38342002 – 38342085 Fax: (84.8) 38342001
Mã số thuế: 0300992066
Email: ,
Logo: Hình 2.1 - Logo của Trung tâm thương mại Maximark
Ngành nghề kinh doanh: bách hóa, công nghệ thực phẩm, hàng gia dụng, hàng
lưu niệm, vàng bạc đá quý, trang sức, sành sứ, vải, may mặc, mỹ phẩm, lương thực –
thực phẩm, thủy hải sản, nông sản, trang trí nội thất, kim khí điện máy, ăn uống giải
khát, vui chơi giải trí, thủ công mỹ nghệ, …
2.1.3 Quá trình phát triển
Năm 1995, công ty An Phong xây dựng Maximark đầu tiên tại số 3 đường 3/2 -
và đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người dân nơi đây cũng như khách du lịch.
2.1.4 Quyền hạn, chức năng và nhiệm vụ
2.1.4.1 Quyền hạn
Công ty An Phong là đơn vị hoạt động độc lập, có con dấu và mã số thuế riêng,
có tư cách pháp nhân. Công ty được quyền mở tài khoản giao dịch ở ngân hàng, được
quyền tự chủ về tài chính, tham gia tạo dựng mối quan hệ với tất cả các tổ chức –
doanh nghiệp – thành phần kinh tế trong và ngoài nước (theo pháp luật Viêt Nam) để
mở rộng mạng lưới cũng như thị trường kinh doanh của mình.
Công ty được quyền phát hành các loại chứng khoán để huy động vốn. Trong
tương lai có thể phát hành cổ phiếu ra công chúng và niêm yết cổ phiếu trên thị trường
chứng khoán.
GVHD: Th.S Nguyễn Hoàng Long SVTH: Đặng Thị Diễm Hằng
Trang 16
2.1.4.2 Chức năng
- Kinh doanh thương mại, bán sỉ, bán lẻ hàng tiêu dùng, vải sợi, hàng kim khí
điện máy, thủ công mỹ nghệ, đồ gỗ, hàng gia dụng, vật liệu xây dựng, …
- Đại lý kí gửi hàng hóa và các loại xe có động cơ (xe ôtô, xe gắn máy, xe cơ
giới, )
- Dịch vụ vui chơi giải trí, mua bán lương thực – thực phẩm, bách hóa, đồ
chơi, đồ dùng trẻ em, trang trí nội thất, đồ dùng gia đình, …
- Mua bán thiết bị văn phòng, văn phòng phẩm.
- Cho thuê mặt bằng kinh doanh khu vui chơi giải trí, hoạt động thể thao
- Tổ chức biểu diễn nghệ thuật chuyên nghiệp (chỉ hoạt động khi có đủ điều
kiện kinh doanh theo quy định pháp luật)
2.1.4.3 Nhiệm vụ
- Có nhiệm vụ tổ chức và cung ứng các loại vật tư, hàng hóa, máy móc, thiết
nhân viên. Tham mưu cho Ban giám đốc về xét duyệt tuyển dụng, thôi việc; sắp xếp
và quản lý nhân sự; nghiên cứu xây dựng cơ cấu tổ chức của công ty; xây dựng nội
quy và quy chế quản lý lao động; xây dựng và thực hiện chính sách lương cũng như
khen thưởng đối với cán bộ nhân viên theo đúng quy định của nhà nước.
Phòng Quảng cáo – Tiếp thị
Nghiên cứu thị trường, chủ động tìm ra nguồn hàng, mở rộng giao dịch, phối
hợp với các phòng ban để xem xét các hình thức thanh toán về hoạt động mua bán -
nhập khẩu. Tổ chức tiếp thị, cung cấp thông tin tham mưu cho Ban giám đốc về chủ
trương chính sách kinh tế, về hiệu quả của tình hình hoạt động, nhu cầu hàng hóa trên
thị trường.
Tổ chức thực hiện các chương trình khuyến mãi, các chương trình quảng cáo để
xây dựng hình ảnh thương hiệu trong lòng người tiêu dùng.
Thực hiện các chức năng tư vấn về nhu cầu thị trường về các mặt hàng kinh
doanh của công ty. Tiếp nhận ý kiến khách hàng về chất lượng hàng hóa, thái độ phục
GVHD: Th.S Nguyễn Hoàng Long SVTH: Đặng Thị Diễm Hằng
Trang 18
vụ của nhân viên công ty nhằm nhanh chóng tìm ra giải pháp khắc phục và hoàn thiện
hơn.
Phòng kế toán
- Kế tóan trưởng: chịu trách nhiệm tổ chức bộ máy kế toán, điều hành hoạt
động kế toán của công ty. Hướng dẫn các chế độ quản lý kinh tế, tài chính,
hỗ trợ Ban giám đốc trong việc tổ chức kiểm tra, kiểm kê, phân tích các hoạt
động kinh doanh, ký duyệt các chứng từ kế toán và các tài liệu liên quan đến
thanh tóan hợp đồng. Có trách nhiệm phân công trách nhiệm và kiểm tra
thực hiện đối với các kế toán viên.
- Kế toán tổng hợp: cùng với kế toán trưởng theo dõi vào giám sát công việc
của các kế toán viên trong việc thực hiện các công việc được giao, tập hợp
các số liệu phát sinh từ các chi nhánh, hạch tóan lên các biểu kế toán.
Ngoài ra còn có kế toán thanh toán, kế toán tài sản cố định, thủ quỷ nhằm thực
2.1.5 Tình hình hoạt động kinh doanh của công ty trong 2 năm qua
2.1.5.1 Cơ sở vật chất – công nghệ
Hiện nay ở tại hệ thống siêu thị Maximark đều được trang bị các hệ thống tính
tiền laser, cầu thang cuốn, các kệ hàng trưng bày hàng hóa, kệ gỗ trưng bày rượu, hệ
thống làm lạnh thực phẩm và quy trình chế biến thức ăn theo tiêu chuẩn vệ sinh an
toàn thực phẩm.
BP
QL
M
TỔNG
GIÁM ĐỐC
GĐ ĐIỀU HÀNH
PHÓ TỔNG
GIÁM ĐỐC
GĐ
Siêu Thị
Nha Trang
GĐ TÀI CHÍNH
Phòng
Kế tóan
Phòng
nhân sự
Phòng
Kỹ thuật
Phòng
QC-TT
GĐ
Siêu Thị
3/2
Hệ thống đèn chiếu sang cũng được quan tâm bởi hệ thống siêu thị Maximark
đang hướng tới loại hình trung tâm thương mại như Parkson, Lottemark,…
2.1.5.2 Nguồn hàng
An Phong là công ty thương mại có chức năng làm kênh phân phối. Phần lớn
hàng hóa trưng bày trong Trung tân thương mại Maximark là do các nhà sản xuất từ
bên ngoài cung cấp. Những hàng hóa này do nhân viên công ty đi mua, ký hợp đồng
với các nhà sản xuất hoặc do các nhà sản xuất tự mang đến chào hàng. Hàng hóa chủ
yếu được công ty thu mua theo phương thức gối đầu, một số ít là bán thưởng hoa hồng
từ nhà cung cấp.
Vì là một đơn vị bán lẻ nên các mặt hàng bán ra chủ yếu phục phụ cho sinh
hoạt hàng ngày. Có thể thấy các nhãn hiệu nổi tiếng của các nhà sản xuất trong và
ngoài nước như: Unilever, P&G, Pepsi, Vissan, Việt Tiến, Lancome, Bossini, …
Trong đó hàng Việt Nam chiếm hơn 80%.
Công ty An Phong còn là nhà phân phối độc quyền tại Việt Nam cho nhãn hiệu
sữa bột dinh dưỡng Maeli của Hàn Quốc như: bột cá, bột rau quả, …
2.1.5.3 Cơ cấu mặt hàng
So với các trung tâm bán lẻ khác, chủng loại hàng hóa được bày bán trong
Trung tâm thương mại Maximark đa dạng vượt trội hơn nhiều từ nhóm hàng, ngành
hàng và phân nhóm hàng trong ngành hàng đó, sự phong phú từ kiểu dáng, mẫu mã,
nguồn gốc của hàng hóa. Đây chính là điểm nổi bật của trung tâm so với các hệ thống
siêu thị khác như Coopmart, Big C, Citimart, …
Hiện nay, trung tâm thương mại Maximark có hơn 30.000 mặt hàng khác nhau
chia thành hai nhóm cơ bản được bày bán trong siêu thị: ngành hàng thực phẩm và
ngành hàng bách hóa.
Ngành hàng thực phẩm
- Thực phẩm tươi sống và hàng đông lạnh: chủ yếu từ các nhà sản xuất trong
thành phố như: Vissan, Cầu Tre, Sao Việt, …
GVHD: Th.S Nguyễn Hoàng Long SVTH: Đặng Thị Diễm Hằng
Trang 21
Trang 22
Bảng 2.1: Cơ cấu lao động của công ty
Bộ phận
Số lượng
Đại học
Cao đẳng
Trung học PT
Độ tuổi
Tiếp tân
21
0
21
18 – 25
Bán hàng
249
0
249
18 – 30
Thâu ngân
183
0
183
20 – 25
Kho
111
0
111
20 – 40
Tạp vụ
Chỉ tiêu 2011 2010
So sánh 2011 - 2010
Số tuyệt đối
Số tương
đối (%)
Doanh thu bán hàng và
cung cấp dịch vụ
753,408,483,358 758,332,805,043 -4,924,321,685 99.35
Giá vốn hàng bán
617,230,412,320
620,200,345,000
-2,696,932,680
99.52
Lợi nhuận gộp
136,178,071,038
138,132,406,043
-1,954,389,005
98.59
Doanh thu từ hoạt
động tài chính
4,837,908,553 4,783,456,732 54,451,821 101.14
Chi phí tài chính
4,257,314,030
4,203,920,458
53,393,572
101.27
Chi phí bán hàng 6,216,473,385 6,634,832,341 -418,358,956 93.69
Chi phí quản lý DN
83,839,264,910
84,031,743,243
GVHD: Th.S Nguyễn Hoàng Long SVTH: Đặng Thị Diễm Hằng
Trang 24
hiện hành
Lợi nhuận sau thuế
33,852,436,263
34,889,922,852
-1,037,486,588
97.03
Tổng doanh thu
758,661,209,636
763,529,067,225
-4,867,857,589
99.36
Tổng chi phí
711,643,937,048
715,070,841,042
-3,426,903,994
99.52
Tổng lợi nhuận
47,017,272,588
48,458,226,183
-1,440,953,595
97.03
( Nguồn: Phòng kế toán – công ty An Phong)
Nhận xét về doanh thu, chi phí và lợi nhuận 2011 – 2010
Về tổng doanh thu, năm 2011 giảm so với năm 2010 là 4,867,857,589 đồng, chỉ
đạt 99.36% so với năm 2010. Trong đó doanh thu đóng góp chiếm tỷ lệ cao nhất là
doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ.
Về tổng chi phí, năm 2011 giảm so với năm 2010 là 3,426,903,994 đồng, đạt
với trung tâm sau mỗi chương trình quảng cáo.
Các phương tiện quảng cáo mà công ty thường hay sử dụng như báo chí (giấy –
điện tử), tạp chí, truyền hình, truyền thanh, phương tiện ngoài trời, …
Phương tiện báo chí được sử dụng cho những chương trình quảng cáo lớn và
công ty chủ động luân phiên quảng cáo trên nhiều mặt báo khác nhau. Để đảm bảo
hiệu quả cũng như chi phí hợp lý, công ty chỉ ưu tiên quảng cáo trên các báo có phạm
vi phát hành rộng rãi như Tuổi Trẻ, Thanh Niên, Sài Gòn Tiếp Thị, … với tần suất 1
đến 2 kỳ trên một đầu báo.
Quảng cáo trên truyền hình và truyền thanh được công ty thực hiện với số
lượng tương đối hạn chế vì chi phí rất cao. Quảng cáo trên truyền hình chỉ được thực
hiện trong những sự kiện lớn của công ty như khai trương chi nhánh mới tại các tỉnh
thành trong nước.