Tiểu luận: Phân tích hoạt động kinh doanh của ngân hàng ACB - Pdf 13

TIỂU LUẬN

PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG KINH
DOANH CỦA NGÂN HÀNG ACB
- 2 -
MỤC LỤC
Phần 1. TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG ACB - 4 -
1.1. Giới thiệu chung - 4 -
1.2. Định hướng kinh doanh: - 5 -
- Tầm nhìn và sứ mệnh - 5 -
- Triết lý kinh doanh - 5 -
- Tham vọng và mục tiêu: - 5 -
Phần 2. PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA ACB - 6 -
2.1. Tình hình kinh doanh của ACB giai đoạn 2008-2012 - 6 -
2.2. Phân tích SWOT 10 -
a. Điểm mạnh: 10 -
b. Điểm yếu: 11 -
c. Cơ hội: 12 -
d. Thách thức: 12 -
2.3. Môi trường cạnh tranh 12 -
Vị thế ACB đối với các NH TMCP: 13 -
2.4. Xếp hạng của tổ chức quốc tế 14 -
Phần 3. PHÂN TÍCH BÁO CÁO TÀI CHÍNH 15 -
3.1. Quy mô, tốc độ tăng trưởng 15 -
3.1.1. Phân tích quy mô tài sản. 15 -

Á Châu
- Vốn điều lệ: 9.376.965.060.000 đồng (tính đến ngày 31/12/2012)

- Sản phẩm dịch vụ chính:
 Huy động vốn (nhận tiền gửi của khách hàng) bằng đồng Việt Nam, ngoại tệ và
vàng
 Sử dụng vốn (cung cấp tín dụng, đầu tư, hùn vốn liên doanh) bằng đồng Việt Nam,
ngoại tệ và vàng
 Các dịch vụ trung gian (thực hiện thanh toán trong và ngoài nước, thực hiện dịch
vụ ngân quỹ, chuyển tiền kiều hối và chuyển tiền nhanh, bảo hiểm nhân thọ qua
ngân hàng.
 Kinh doanh ngoại tệ và vàng.
 Phát hành và thanh toán thẻ tín dụng, thẻ ghi nợ.
- Tổ chức mạng lưới và hoạt động
Gồm 346 chi nhánh và phòng giao dịch tại những vùng kinh tế phát triển trên toàn quốc.
Công ty trực thuộc:
 Công ty Chứng khoán ACB (ACBS).
 Công ty Quản lý và khai thác tài sản Ngân hàng Á Châu (ACBA).
 Công ty cho thuê tài chính Ngân hàng Á Châu (ACBL).
 Công ty Quản lý Quỹ ACB (ACBC)
Công ty liên kết
 Công ty Cổ phần Dịch vụ Bảo vệ Ngân hàng Á Châu (ACBD).
- 5 -
 Công ty Cổ phần Địa ốc ACB (ACBR).
Công ty liên doanh : Công ty Cổ phần Sài Gòn Kim hoàn ACB - SJC (góp vốn thành lập
với SJC).
- Slogan: “Luôn hướng đến sự hoàn hảo để phục vụ khách hàng”
1.2. Định hướng kinh doanh:
- Tầm nhìn và sứ mệnh
ACB cần tận dụng các thời cơ trong các giai đoạn phát triển mới của Việt Nam để tiếp

Ở Việt Nam, nền kinh tế chịu ảnh hưởng đáng kể từ tình hình thế giới như xuất khẩu gặp
khó khăn, nhập siêu tăng đột biến, hoạt động sản xuất kinh doanh và tiêu dùng trong
nước bị thu hẹp đáng kể, thị trường bất động sản đóng băng, thị trường chứng khoán tụt
dốc…Chính sách tiền tệ từ định hướng thắt chặt và linh hoạt nửa đầu năm 2008 chuyển
sang nới lỏng một cách thận trọng những tháng cuối năm. Cùng với đó là sự điều chỉnh
thường xuyên các công cụ điều hành chính sách tiền tệ như lãi suất, tỷ lệ dự trữ bắt buộc,
biên độ tỷ giá, lãi suất trần cho vay… Trong bối cảnh thị trường như vậy, nhưng ACB
vẫn đạt được những thành tích đáng kể: Tổng tài sản cuối năm 2008 tăng 23,3% so với
năm trước, đạt 105.305 tỷ đồng, vốn chủ sở hữu cũng tăng khá so với đầu năm từ 6.258
tỷ lên 7.766 tỷ đồng; nguồn vốn huy động vẫn tăng trưởng phù hợp so với cuối năm 2007
đạt 91.174 tỷ tăng 16.230 tỷ, trong chủ yếu vẫn là tiền huy động từ tiền gửi của khách
hàng chiếm 82% tổng vốn huy động. Hệ số an toàn vốn ở mức 12,44% cao hơn trung
bình ngành là 9,87%, tỷ lệ nợ nhóm 3 đến nhóm 5 trên tổng dư nợ cuối năm 2008 là 0,9%
tuy cao hơn năm trước nhưng vẫn thấp hơn trung bình ngành (3,5%). Cuối cùng, lợi
nhuận trước thuế năm 2008 đạt 2.561 tỷ tăng 434 tỷ so với năm 2007, trong đó thu nhập
từ hoạt động chính chiếm khoảng 64% tổng lợi nhuận trước thuế, còn các hoạt động khác
(chủ yếu là kinh doanh trái phiếu, ngoại hối và vàng trên thị trường thế giới) đây là mảng
mang tính rủi ro khá cao, cũng chính vì vậy nó đã ảnh hưởng tiêu cực tới lợi nhuận của
ACB sau này.
Qua năm 2009, nền kinh tế thế giới dần dần hồi phục sau khủng hoảng. Cùng với đó là
chủ trương kích cầu và ngăn chặn suy giảm kinh tế của chính phủ các nước trong đó có
Việt Nam. Tại Việt Nam khuyến khích tăng tín dụng đầu năm thông qua gói vay hỗ trợ
- 7 -
lãi suất 4% từ 01/01/2009 và chuyển sang kiểm soát tăng trưởng tín dụng vào cuối Quý II
và chấm dứt hỗ trợ lãi suất ngắn hạn từ cuối năm 2009; cùng với đó là quy định chấm dứt
các hoạt động kinh doanh vàng tài khoản, hoạt động của các trung tâm giao dịch vàng.
Tuy tình hình kinh tế vẫn còn nhiều khó khăn, nhưng trong 2009, ACB vẫn đạt được
thành tựu đáng khả quan. Cụ thể, tổng tài sản tăng 59% so với năm 2008, đạt 167.881 tỷ;
tổng huy động tiền gửi tăng 35% so với năm trước, trong khi đó tổng dư nợ cho vay
khách hàng tăng đến 79%, đạt 61.855 tỷ, trong khi tốc độ tăng trưởng của ngành là 38%.

chế cho vay phi sản xuất. Lãi suất VND cao và thị trường liên ngân hàng đối mặt với
không ít khó khăn, tình trạng thiếu thanh khoản tại 1 số ngân hàng khiến lãi suất liên
ngân hàng biến động mạnh có thời điểm lên tới 35%/ năm, nợ xấu của ngân hàng tăng
cao. Đây cũng là năm tăng trưởng tín dụng ở mức 12%, mức thấp nhất trung bình trong 5
năm gần đây là 33%. Riêng với ngân hàng ACB thì cho vay khách hàng tăng ở mức 18%
so với năm 2010, cao hơn trung bình ngành. Ngoài ra, tổng tài sản và tổng huy động vốn
của ACB vẫn duy trì sự tăng trưởng, lần lượt là 281.019 tỷ và 142.218 tỷ. Thu nhập lãi
thuần tăng 59% so với năm trước, đạt 6.607 tỷ, điều này có thể do lãi suất cho vay ở mức
quá cao. Lợi nhuận sau thuế tăng 37%, ở mức 3.207 tỷ.
Trong giai đoạn 2008-2012, thì thời gian đặc biệt nhất đối với ACB phải kể đến là năm
2012. Trong thời gian này đã có nhiều biến động cực kỳ nghiêm trọng đối với hệ thống
ngân hàng nói chung và ACB nói riêng. Do hàng loạt các vấn đề bất ổn kinh tế vĩ mô,
trong đó đặc biệt là nợ xấu đã dẫn đến tình trạng các doanh nghiệp khó khăn trong việc
tiếp cận vốn, làm giảm mạnh tăng trưởng tín dụng và ảnh hưởng trực tiếp tới thu nhập lãi
thuần của hệ thống ngân hàng. Chính sách tiền tệ và hoạt động ngân hàng trong năm
2012 bị chi phối bởi những mục tiêu và sức ép chính trị - xã hội trái ngược nhau. Một mặt
phải thắc chặt hơn chính sách tiền tệ để kéo lạm phát xuống, giảm tốc độ tăng trưởng tín
dụng nóng, bảo đảm thanh khoản cho cả hệ thống ngân hàng và ngăn chặn sự đổ vỡ của
một số ngân hàng yếu kém; xử lý nợ xấu cao và ngày một tăng nhanh để tạo điều kiện cơ
cấu lại toàn diện hệ thống ngân hàng. Mặt khác, phải bơm thêm vốn tín dụng với lãi suất
hợp lý, để giảm bớt tình trạng khó khăn tài chính của nhiều doanh nghiệp đảm bảo tăng
trưởng hợp lý, hạn chế thất nghiệp và khó khăn của đời sống dân cư.
Trần lãi suất huy động được áp đặt, tuy chỉ có các khoản vốn có kỳ hạn dưới một năm.
Đồng thời kể từ giữa tháng 3, Ngân hàng Nhà Nước đã liên tục hạ lãi suất huy động và
- 9 -
tương ứng là các lãi suất điều hành như tái cấp vốn, chiết khấu với mức độ cao và tốc độ
nhanh chưa từng có so với các ngân hàng trung ương khác. Đến cuối năm 2012, lãi suất
huy động đã được điều chỉnh giảm 6 lần từ 14% xuống 8%/năm. Mặc dù, vốn huy động
của cả hệ thống tăng mạnh 24% nhưng tăng trưởng dư nợ vẫn thấp, các ngân hàng loay
hoay tìm đầu ra cho nguồn vốn. Hiện tượng xé rào huy động vượt trần lãi suất có xảy ra,

phòng 5%) theo chủ trương của NHNN, nhưng khoản cho vay này vẫn mang tính rủi ro.
- Khoản tiền gửi 710 tỷ tại Vietin Bank liên quan đến vụ án Huyền Anh chưa có kết luận
cuối cùng của cơ quan điều tra.
- Có thể nhận xét rằng năm 2012 là một năm đầy sóng gió đối với nền kinh tế Việt Nam
nói chung và hệ thống ngân hàng nói riêng. Vượt qua được sóng gió đó để bước vào năm
2013, với những kỳ vọng tốt đẹp hơn, sẽ là một thành công.
2.2. Phân tích SWOT
a. Điểm mạnh:
ACB khởi động hệ thống hiện đại hoá công nghệ thông tin ngân hàng từ rất sớm. ACB là
ngân hàng đầu tiên tiếp cận nghiệp vụ ngân hàng hiện đại theo một chương trình toàn
diện kéo dài 2 năm và do các giảng viên nước ngoài trong lĩnh vực ngân hàng thực hiện.
Vào cuối năm 2001, ACB chính thức vận hành hệ thống công nghệ ngân hàng lõi là
TCBS (The complete banking solution) cho phép tất cả chi nhánh và phòng giao dịch nối
mạng với nhau, giao dịch tức thời, dùng chung cơ sở dữ liệu tập trung. Trong các năm
tiếp theo, ACB liên tục nâng cấp hệ ngân hàng lõi, hợp tác với Microsoft và
Pricewaterhouse Coopers về áp dụng công nghệ thông tin vào vận hành và quản lý. Tại
thời điểm hiện tại, ACB sử dụng dịch vụ tài chính Reuteurs, gồm Reuteurs Monitor (cung
cấp thông tin tài chính) và Reuteurs Dealing System (công cụ mua bán ngoại tệ). Thành
tích nổi bật của ACB là xây dựng được trung tâm dữ liệu dạng module (enterprise
module data centre) theo tiêu chuẩn quốc tế đầu tiên ở Việt Nam.
ACB là ngân hàng thương mại cổ phần hàng đầu tại Việt Nam với mạng lưới kênh phân
phối trên 346 chi nhánh tại các vùng kinh tế phát triển trên toàn quốc. Các sản phẩm,
dịch vụ phong phú đặc biệt là cho khách hàng cá nhân.
- 11 -
Đội ngũ cán bộ nhân viên: Tính đến ngày 31/12/2012 tổng số nhân viên của Ngân hàng Á
Châu là 10.276 người. Cán bộ có trình độ đại học và trên đại học chiếm 93%, thường
xuyên được đào tạo chuyên môn nghiệp vụ tại trung tâm đào tạo riêng của ACB
và được công ty tài chính quốc tế IFC hỗ trợ chuyên về đào tạo nghiệp vụ
Các nghiệp vụ được chuẩn hoá theo qui trình ISO 9001:2000. Các giao dịch được trực
tuyến hoá từ năm 2001 thông qua hệ quản trị nghiệp vụ ngân hàng bán lẻ và có thể phục

mặt pháp lý lại chưa kịp, chẳng hạn như chữ ký điện tử, giao dịch điện tử giữa khách
hàng với ngân hàng.
c. Cơ hội:
Ngành ngân hàng đang ngày càng phát triển với thị trường bán lẻ phù hợp với mục đích
của ngân hàng
Ngân hàng luôn là ngành có được sự ưu ái đặc biệt của nền kinh tế do đây là ngành liên
quan trực tiếp đến sức khỏe của nền kinh tế.
Các ngân hàng thương mại cổ phần được thành lập ngày càng nhiều nhưng với số vồn
điều lệ không cao, trong khi cạnh tranh trên thị trường ngày càng khốc liệt, sẽ tạo cơ hội
cho ngân hàng lớn như ACB mở rộng qui mô với việc liên kết với các ngân hàng khác
d. Thách thức:
Mức độ cạnh tranh trong ngành ngân hàng ngày càng tăng khi từ năm 2008 đến nay, các
ngân hàng 100% vốn nước ngoài được thành lập tại Việt Nam theo cam kết WTO.
Chịu ảnh hưởng lớn từ thị trường vàng và chứng khoán khi 2 thị trường này ngày càng
bất ổn từ năm 2008.
Trong bối cảnh lạm phát gia tăng, các NH sẽ phải đối mặt với rủi ro thanh khoản, chi phí
vốn vay tăng cao do chịu sự ảnh hưởng của chính sách thắt chặt tiền tệ của NHNN.
2.3. Môi trường cạnh tranh
Tính tới đầu năm 2013, Hệ thống ngân hàng Việt Nam hiện có 1 NH Chính sách xã hội, 1
NH Phát triển, 5 NH Thương mại nhà nước, 34 NH Thương mại cổ phần, 50 chi nhánh
NH nước ngoài, 5 NH liên doanh, 5 NH 100% vốn nước ngoài, 31 công ty tài chính và tài
- 13 -
chính cho thuê, gần 1.100 quỹ tín dụng Số lượng như vậy có thể xem là khá nhiều so
với qui mô nền kinh tế Việt Nam. Do vậy sự cạnh tranh của các ngân hàng sẽ rất mạnh.
Khủng hoảng kinh tế làm cho tốc độ tăng trưởng chậm lại, tác động xấu tới ngành ngân
hàng nhưng thị trường Việt Nam chưa được khai phá hết, tiềm năng còn rất lớn. Ảnh
hưởng tạm thời của cuộc khủng hoảng kinh tế sẽ khiến cho các ngân hàng gặp khó khăn
trong việc tìm kiếm khách hàng mới, dẫn đến việc cường độ cạnh tranh sẽ tăng lên.
Cường độ canh tranh của các ngân hàng càng tăng cao khi có sự xuất hiện của nhóm ngân
hàng 100% vốn nước ngoài. Ngân hàng nước ngoài thường sẵn có một phân khúc khách

hạng tín nhiệm lần đầu đối với ACB vào ngày 01/11/2007.
Trong lần đánh giá tín nhiệm gần đây nhất vào ngày 28/09/2012, Moody’s hạ xếp hạng
tiền gửi nội và ngoại tệ dài hạn cũng như xếp hạng nhà phát hành nội và ngoại tệ dài hạn
từ “B2” xuống “B3” với triển vọng “ổn định”. Các mức xếp hạng tín nhiệm ngắn hạn
được giữ nguyên ở mức “Không trọng yếu”. Động thái này chấm dứt quá trình xem xét
bắt đầu hôm 24/08/2012 của Moody’s sau khi tổ chức này hạ tín nhiệm ACB. Khi đó,
Moody’s hạ xếp hạng nhà phát hành và xếp hạng tiền gửi nội tệ của ACB từ “B1” xuống
“B2” do ông Nguyễn Đức Kiên, cổ đông sáng lập của ACB, và ông Lý Xuân Hải – Tổng
giám đốc Ngân hàng đều bị bắt.
Fitch bắt đầu công bố xếp hạng tín nhiệm ACB vào từ ngày 28/02/2001 và kể từ đó đến
nay, Fitch chỉ duy nhất một lần hạ bậc ACB. Động thái này diễn ra vào ngày 31/08/2010.
Cũng vì nguyên nhân các cán bộ chủ chốt của ACB lần lượt bị bắt trên mà cùng ngày
24/08/2012, Fitch đưa xếp hạng nhà phát hành dài hạn và ngắn hạn, cũng như xếp hạng
khả năng sinh lời (VR) của ACB vào diện theo dõi hạ bậc. Trong lần xem xét định kỳ
hàng năm vào tháng 7, Fitch giữ nguyên xếp hạng nhà phát hành ngoại tệ dài hạn của
ACB ở mức “B” và xếp hạng khả năng sinh lời (VR) ở mức “b” với triển vọng “ổn định”.
Bảng 2: Chi tiết xếp hạng tín nhiệm ACB của Moody’s và Fitch
- 15 -

Fitch đã hạ mức tín nhiệm của ACB từ mức "D" (ngân hàng có nhiều điểm yếu, do
nguyên nhân bên trong hoặc bên ngoài) xuống "D/E" và loại ngân hàng này ra khỏi diện
cần xem xét (Rating Watch Negative - RWN) trong thời gian tới. Hãng này cũng xác
nhận mức xếp hạng hỗ trợ (Support Rating) của ACB là "5". Ngoài ACB còn có
Vietcombank cũng bị hạ xuống bậc D/C và Support Rating là 4.

Phần 3. PHÂN TÍCH BÁO CÁO TÀI CHÍNH
3.1. Quy mô, tốc độ tăng trưởng.
3.1.1. Phân tích quy mô tài sản.
Từ năm 2008 đến năm 2011 ACB là một trong những ngân hàng thương mại có tốc độ
tăng trưởng quy mô tài sản nhanh nhất trong hệ thống. ACB có tốc độ tăng tài sản năm

Hình 1 Hình 2
- 17 -
3.1.2. Phân tích tăng trưởng VCSH và VĐL
Nguồn vốn tự có của ACB được tăng cường qua các năm với tốc độ tăng trưởng
VCSH bình quân 5 năm đạt 61%.Từ năm 2010 -2012, ACB đã bổ sung thêm vốn điều lệ
lên 9.377 tỷ đồng cao hơn 1.563 tỷ đồng, tương đương 20% so với năm 2009, giúp cho
hệ số an toàn vốn tối thiểu CAR của Ngân hàng luôn được đảm bảo trên 9%.
Nguồn
vốn tăng thêm sẽ được lấy từ lợi nhuận chưa
phân phối, từ quỹ dự trữ bổ sung vốn điều
lệ và từ chào bán cổ phiếu ra công chúng. Trong đó, lợi nhuận chưa phân phối giảm 163
tỷ đồng tương đương 20%, các quỹ lại tăng 829 tỷ đồng tương đương 47% so với năm
2011.
Hình 3: Tỷ trọng Vốn CSH và vốn điều lệ trong Tổng vốn của ACB qua các năm

3.2. Cơ cấu tài sản và chất lượng đầu tư.
3.2.1. Tỷ lệ cho vay / tổng tài sản (LAR)
Tỷ lệ cho vay/Tổng tài sản (LAR) của ACB trung bình đạt 41% trong 5 năm qua, thấp
nhất vào năm 2008 với 33,1% và cao nhất vào năm 2012 với 57%. Đây cũng là mức an
toàn so với hệ thống, khi đảm bảo tài sản có tính lỏng thấp như các khoản vay không
chiếm tỷ trọng quá cao trong tổng tài sản.
So với một số NHTM, LAR của ACB năm 2012 cũng ở mức cao thứ 3 với 57%, xếp
sau BIDV và CTG, ngang bằng VCB. BIDV là ngân hàng có tỷ lệ LAR cao nhất với tỷ
trọng cho vay chiếm tới 69% tổng tài sản, cao hơn trung bình ngành 54%. Việc để LAR
ở mức quá cao gây ra rủi ro thanh khoản tiềm ẩn cho ngân hàng do các khoản tín
dụng có tính lỏng rất thấp.

- 18 -
Hình 4: Tỷ lệ LAR của ACB từ năm 2008 đến năm 2012


Đặc biệt trong năm 2011, khoản phải thu từ khách hàng tăng đột biến 280% so với năm
2010, chủ yếu liên quan đến hoạt động kinh doanh vàng, bao gồm: khoản phải thu từ
các đối tác trong và ngoài nước tăng từ 3.139 tỷ đồng năm 2010 lên 16.559 tỷ đồng
năm 2011; khoản ký quỹ cho các đối tác trong nước đảm bảo thực hiện hợp đồng giao
dịch vàng kỳ hạn phát sinh trong năm 2011 (23 nghìn tỷ đồng). Bên cạnh khoản phải
thu từ khách hàng, khoản mục chi phí chờ phân bổ trong Tài sản Có khác của ACB
cũng tăng mạnh, từ 928 tỷ đồng năm 2010 lên 2.208 tỷ đồng năm 2011.
- 20 -
Mặc dù tài sản có khác của ACB năm 2011 tăng đột biến, nhưng sang năm 2012 lại
có xu hướng giảm, từ 51.390 tỷ đồng năm 2011 xuống còn 12.150 tỷ đồng.Nguyên
nhân do nền kinh tế gặp khó khăn, hoạt động kinh doanh vàng bị thu hẹp nên các
khoản phải thu từ khách hàng liên quan đến hoạt động vàng bị ảnh hưởng.
Hình 7: Cơ cấu tài sản Có khác qua các năm

3.3. Chỉ tiêu phản ánh tình hình tín dụng
3.3.1. Phân tích cơ cấu cho vay
Ngành nghề cho vay chính của ACB là Thương mại và Dịch vụ cá nhân. Dư nợ cho vay
chiếm khoảng 70% tổng dư nợ của Ngân hàng. Trong giai đoạn 2008 – 2012, tỷ trọng các
khoản vay cá nhân và cộng đồng có chiều hướng giảm và tín dụng thương mại có xu
hướng tăng nhẹ. Tuy nhiên, bước qua năm 2012, chiều hướng này có sự đảo ngược. ACB
tập trung nhiều hơn vào khu vực dịch vụ cá nhân và cộng đồng, giảm nhẹ ở khu vực
thương mại.
Một lĩnh vực chiếm tỷ trọng lớn khác là sản xuất và gia công chế biến, chiếm tỷ lệ ổn
định và giảm nhẹ qua các năm. Hai lĩnh vực liên quan đến bất động sản là Xây dựng và
Tư vấn kinh doanh BĐS chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ từ 4 – 6%, do đó rủi ro nợ xấu tiềm ẩn từ
khu vực BĐS không phải là mối lo lớn.
Bảng 3: Cơ cấu cho vay theo ngành qua các năm
2008 2009 2010 2011 2012
Thương mại 23% 32% 32% 36% 32%
- 21 -

2009 83%

17%

2008 71%

29% - 22 -
Về địa lý, ACB chủ trương phát triển ở khu vực truyền thống là ở TP HCM và Hà Nội,
sau đó từng bước tăng sự hiện diện ra các khu vực đô thị dọc theo trục giao thông Bắc –
Nam và một số đô thị lớn ở khu vực miền Đông và miền Tây Nam Bộ. TP Hồ Chí Minh
vẫn là địa bàn cho vay chính của Ngân hàng, song tỷ trọng cho vay đã giảm dần từ 71%
năm 2008 xuống còn 62% năm 2012. Cùng với việc gia tăng số lượng chi nhánh tại Hà
Nội, tỷ trọng cho vay ở khu vực miền Bắc tăng đáng kể từ 16% năm 2008 lên 23% năm
2011 và đạt 20% vào năm 2012. Tỷ trọng cho vay tại khu vực Đồng bằng sông Cửu
Long, miền Trung và miền Đông có xu hướng tăng dần qua các năm, tuy mức tăng tương
đối chậm. Tính đến năm 2012, tỷ trọng cho vay tại những khuc vực này vào khoảng 19%
tổng dư nợ của ACB.
Bảng 5: Cơ cấu cho vay phân bổ theo địa lý
2008 2009 2010 2011 2012
T

n
h
p
h




ng sông
C

u

L
o
n
g4%4%4%5%5%

M
i

n

21%20%23%20%

M
i

n
Đ
ô
n
g
5%5%6%


Xếp hạngtín dụng BBB, BB, B Nhóm 2: Nợ cần chú ý
Xếp hạngtín dụng CCC, CC Nhóm 3: Nợ dưới tiêu chuẩn
Xếp hạngtín dụng C Nhóm 4: Nợ nghi ngờ
Xếp hạngtín dụng D

Nhóm 5: Nợ có khảnăng mất vốn

ACB là một trong những ngân hàng quản lý chất lượng tài sản tốt nhất khi NPL luôn
được duy trì dưới 1% từ năm 2008 đến năm 2011. Tại thời điểm 2009 khi Chính phủ tung
gói kích cầu hỗ trợ doanh nghiệp, tỷ lệ nợ xấu của ACB chỉ ở mức 0,41%, nhưng NPL
tăng gấp đôi trong năm 2011 lên 0,94%. Tuy nhiên, trong năm 2012 tỷ lệ nợ xấu của
ACB đã vượt 1%, lên tới mức 2,5%. Mức tỷ lệ nợ xấu tăng đột biến một phần do những
khó khăn trong nội bộ ngân hàng, một phần do ảnh hưởng chung của bối cảnh nợ xấu
trong hệ thống Ngân hàng hiện nay.
Bảng 6: Tình hình biến động nợ Ngân hàng ACB qua các năm
2008 2009 2010 2011 2012
Nợ đủ tiêu chuẩn 97.97% 99.01% 99.42% 98.80% 92.35%

Nợ cần chú ý (Nhóm 2) 1.14% 0.58% 0.24% 0.32% 5.19%
Nợ xấu (Nhóm 3-4-5) 0.89% 0.41% 0.34% 0.88% 2.46%

- 24 -
Hình 8: Tình hình nợ xấu Ngân hàng ACB qua các năm

3.4. Chỉ tiêu phân tích khả năng thanh khoản
3.4.1. Phân tích cơ cấu tiền gửi
Cơ cấu tiền gửi theo loại hình doanh nghiệp:
Hình 9: Cơ cấu tiền gửi theo loại hình doanh nghiệp

Không chỉ ở lĩnh vực cho vay, tiền gửi cá nhân cũng giảm mạnh từ 87% năm 2008 xuống

Trích đoạn Thị giá cổ phần phổ thông 36
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status