1.2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA HÌNH 7
1.3 ĐẶC ĐIỂM KHÍ HẬU – KHÍ TƯNG 8
1.4 HỆ THỐNG THỦY VĂN 11
1.5 ĐẶC ĐIỂM HẢI VĂN 18
1.6 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA TẦNG 21
1.7 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA CHẤT THỦY VĂN 24
1.9 ĐẶC ĐIỂM THỔ NHƯỢNG 30
1.10 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA MẠO 32
2.3 LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN RNM CẦN GIỜ 44
2.5 HỆ THỐNG SINH THÁI KHU DỰ TRỮ SINH QUYỂN RNM CẦN
GIỜ 51
Tài liệu tham khảo
Phụ lục
MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Nước ta có đường bờ biển kéo dài hơn 3200 km, do vậy các loại hình đất
ngập nước ven bờ rất phong phú (như rừng ngập mặn, bãi triều lầy, vònh, bán đảo,
cửa sông, rạn san hô ). Tuy nhiên, những hoạt động khai thác quá mức và gây ô
nhiễm nghiêm trọng trong những năm gần đây đã làm thu hẹp đáng kể hệ sinh
thái này, mà rõ nhất là rừng ngập mặn.
Cách TPHCM 50km, Cần Giờ là huyện lớn nhất của TPHCM, và cũng là
Huyện có diện tích cây xanh lớn nhất. Về mặt vò trí đòa lý, huyện Cần Giờ –
TP.HCM như là hạt nhân của 4 tỉnh thành: Đồng Nai, Bà Ròa – Vũng Tàu, Long
An, Tiền Giang. Nếu chúng ta vượt qua được trở ngại đường thủy (các cầu, cảng
liên thông) thì Cần Giờ là trung tâm và là cầu nối phát triển kinh tế liên vùng của
các tỉnh thành phía Nam, là hướng giao thông đường bộ ngắn nhất từ các tỉnh
Long An, Tiền Giang với các tỉnh Đồng Nai, Bà Ròa – Vùng Tàu. Cần Giờ còn là
“lá phổi” của TPHCM. Với diện tích hơn 37.000 hecta, rừng ngập mặn Cần Giờ
Đánh giá hiện trạng môi trường rừng ngập mặn Cần Giờ và đề xuất biện pháp quản lýđ
đóng vai trò quan trọng trong việc điều hoà sinh thái, khí hậu, chắn sóng, chóng
xói lở,
- Đất: đất ven biển, đất ngập mặn
- Nước: nước thiên nhiên, nước sinh hoạt, nước thải
- Không khí: gió, độ ẩm, khí tượng
Đề xuất biện pháp quản lý
4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
Phương pháp tổng hợp/ biên dòch tài liệu: Là việc tổng hợp các tài liệu đã
thu thập có liên quan đến đề tài đang nghiên cứu. Đối với Việt Nam việc
nghiên cứu vùng sinh quyển cần Giờ là một đề tài mang tính địa phương nên
việc thu thập tài liệu khá khó khăn vì phải thu thập những tài liệu mang tính
địa phương còn phải thu thập những tài liệu cơ sở lí luận chung
Phương pháp khảo sát thực đòa: Nghiên cứu vùng sinh quyển cần Giờ tương
đối phức tạp, bao gồm nhiều thành phần khác nhau cùng tồn tại đan xen và
phân bố trong khơng gian rộng lớn nên q trình thực địa là hết sức quan
trọng để tìm hiểu sâu sắc về thực trạng phát triển
Phương pháp tham khảo ý kiến chuyên gia
5. Ý NGHĨA ĐỀ TÀI:
Đề tài “ Đánh giá hiện trạng môi trường rừng ngập mặn Cần Giờ và đề
xuất biện pháp quản lý “ được tiến hành nhằm đánh giá đa dạng sinh học RNM
Cần Giờ. Thực hiện mục tiêu xây dựng giải pháp bảo vệ tài nguyên và quản lý
môi trường cho tổ hợp du lòch sinh thái dựa trên các tiêu chí kinh tế, văn hoá, môi
SVTH : Huỳnh Ngọc Cẩn MSSV: 02DHMT020 3
GVHD: Th.s Vũ Hải Yến
Đánh giá hiện trạng môi trường rừng ngập mặn Cần Giờ và đề xuất biện pháp quản lýđ
trường phù hợp với đòa hình, tài nguyên thiên nhiên và bản sắc văn hoá dân tộc
đặc trưng của tổ hợp du lòch sinh thái ở Cần Giờ nhằm hạn chế, khắc phục và
giảm thiểu ô nhiễm môi trường góp phần giải quyết một cách hợp lý sự mâu
thuẫn giữa nhu cầu phát triển kinh tế xã hội và yêu cầu bảo vệ tài nguyên để tiến
đến sự phát triển bền vững.
Đề tài là một công trình đầy đủ nhất cho đến thời điểm hiện nay, cung cấp
một cái nhìn tổng quan về môi trường của RNM Cần Giờ, giúp cho các nhà quản
Tiền Giang qua sông Nhà Bè.
• Phía Bắc giáp huyện Nhà Bè – TPHCM, ranh giới là sông Nhà Bè.
• Phía Nam giáp biển Đông, trung tâm huyện cách bờ biển Thành phố
Vũng Tàu về phía Đông Nam là 10km (theo từ chim bay).
Toàn bộ diện tích nằm gọn trong tọa độ đòa lý từ: 10
0
22
’
14
’’
đến 10
0
40
’
00
’’
vó Bắc; 106
0
16
’
12’’ đến 107
0
00
’
50 kinh Đông.
Vậy xét về mặt vò trí đòa lý, huyện Cần Giờ – TPHCM như là hạt nhân
của 4 tỉnh thành: Đồng Nai, Bà Ròa – Vũng Tàu, Long An, Tiền Giang. Nếu
chúng ta vượt qua được trở ngại đường thủy (các cầu, cảng liên thông) thì Cần
Giờ là trung tâm và là cầu nối phát triển kinh tế liên vùng của các tỉnh thành phía
Nam, là hướng giao thông đường bộ ngắn nhất từ các tỉnh Long An, Tiền Giang
Vùng ven biển (từ Cần Thạnh đến Long Hòa) đòa hình nổi cao do nền được cấu
tạo bằng các giồng cát biển cổ, vùng ven sông đòa hình cũng được nâng cao do
được hình thành từ các đê sông. Theo mức độ ngập triều, phân chia đòa hình thành
05 mức độ cao như sau:
+ Ngập hai lần trong ngày: ở độ cao từ 0.0m đến 0.5m.
+ Ngập một lần trong ngày: ở độ cao từ 0.5m đến 1.0m.
+ Ngập theo chu kỳ tháng: ở độ cao từ 1.0m đến 1.5m.
+ Ngập theo chu kỳ năm: ở độ cao từ 1.5m đến 2.0m.
+ Ngập theo chu kỳ nhiều năm: ở độ cao hơn 2.0m.
Hiện nay đòa hình tự nhiên đang biến động mạnh chủ yếu là do các hoạt
động của con người, đặc biệt là trong quá trình phát triển cơ sở hạ tầng và vùng
dân cư.
SVTH : Huỳnh Ngọc Cẩn MSSV: 02DHMT020 7
GVHD: Th.s Vũ Hải Yến
Đánh giá hiện trạng môi trường rừng ngập mặn Cần Giờ và đề xuất biện pháp quản lýđ
Do đặc điểm đòa hình thấp, bò ngập triều nên hình thành hệ sinh thái đặc
trưng là rừng ngập mặn, diện tích rừng ngập mặn Cần Giờ thuộc loại lớn ở nước
ta, là 1 trong 9 Khu dự trữ sinh quyển của Thế giới được UNESCO công nhận
năm 21/01/2000, mở ra những triển vọng tốt đẹp về du lòch sinh thái, nếu được
đầu tư đúng mức và có đònh hướng thì nguồn lợi từ ngành du lòch sinh thái là rất
đáng kể và mang tính độc đáo đặc trưng của đòa phương.
1.3 ĐẶC ĐIỂM KHÍ HẬU – KHÍ TƯNG
Khí hậu Cần Giờ mang đặc điểm nóng ẩm và chòu chi phối của quy luật
gió mùa cận xích đạo với hai mùa mưa nắng rõ rệt. Mùa mưa từ tháng 5 – 10,
mùa nắng từ tháng 11 – 4 năm sau. Nhiệt độ ổn đònh và cao, trung bình 25
0
C –
29
0
C. So với các khu vực khác trong TPHCM, Cần Giờ là huyện có lượng mưa
trung bình tháng nhỏ, khoảng 3 - 4
0
C cho cả vùng biển lẫn đất liền.
1.3.4 Chế độ mưa
• Mùa mưa
Vùng cửa sông ven biển Cần Giờ có hai mùa mưa và khô rõ rệt. Theo quy
đònh của Tổng cục Khí tượng Thủy văn thì mùa mưa là thời kỳ liên tục có lượng
mưa trung bình tháng vượt quá 100 mm/tháng và số ngày mưa trung bình lớn hơn
10 ngày/tháng, mùa khô là thời kỳ có lượng mưa trung bình dưới 30 mm/tháng.
Theo tiêu chuẩn này thì mùa mưa ở đây từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ
tháng 12 đến tháng 4.
• Lượng mưa
Lượng mưa trung bình năm trên đất liền có xu thế giảm dần từ Bắc vào
Nam, từ Tây sang Đông. Lượng mưa trên đất liền thấp hơn trên biển, đồng thời
mùa mưa cũng ngắn hơn trên biển khoảng một tháng.
Mùa mưa, mùa khô ở đây có sự phân hóa khá sâu sắc, lượng mưa trong 6
tháng mùa mưa chiếm tới trên 90% tổng lượng mưa trong cả năm.
SVTH : Huỳnh Ngọc Cẩn MSSV: 02DHMT020 9
GVHD: Th.s Vũ Hải Yến
Đánh giá hiện trạng môi trường rừng ngập mặn Cần Giờ và đề xuất biện pháp quản lýđ
1.3.5 Chế độ ẩm
Chế độ ẩm không khí cũng có sự khác biệt giữa hai mùa mưa và mùa khô.
Trong mùa mưa (tháng 5 - 10), độ ẩm không khí tương đối trung bình tháng dao
động trong khoảng 80 - 83% (trên đất liền), khoảng 84 - 88% (trên biển). Trong
mùa khô (tháng 11 - 4) giá trò này trên đất liền dao động trong khoảng 74 - 80%,
trên biển khoảng 80 - 85%.
1.3.6 Độ bốc hơi
Khả năng bốc hơi ở vùng cửa sông Cần Giờ được xếp vào loại lớn so với
cả nước, điều đó chứng tỏ đây là vùng đất giàu năng lượng bức xạ, nhiệt và gió.
Khả năng bốc hơi thấp nhất rơi vào tháng 9 (khoảng 60 - 80 mm/tháng). Lượng
km/km
2
. Với mạng lưới sông rạch như vậy và chế độ bán nhật triều không đều
của biển Đông đã tạo nên sự phúc tạp trong chế độ thủy văn, thủy lực vùng cửa
sông Đồng Nai-Sài Gòn. Đây là một vùng khá phức tạp, ổn đònh trong trạng thái
động và rất nhạy cảm, trong đó môi trường nước là trung tâm và tiên quyết cho
phát triển kinh tế – xã hội và bảo vệ môi trường.
Cần Giờ nằm trong vùng cửa các sông lớn là sông Đồng Nai, Sài Gòn,
Vàm Cỏ, dài 234 km. Dòng chảy các sông Sài Gòn, Đồng Nai bò các hồ Dầu
Tiếng, Trò An điều tiết nên lưu lượng đưa về Cần Giờ vào mùa khô được gia tăng
và về mùa lũ được giảm bớt so với trước khi có hồ này.Các sông chính như:
+ Sông Nhà Bè: nơi hợp lưu của sông Đồng Nai và sông Sài Gòn, sông
rộng 1300 – 1500m, sâu 10 – 18m.
+ Sông Sòai Rạp: là đọan hạ lưu của sông Nhà Bè (tính từ Nam Hiệp
Phước – Nhà Bè ra đến Vònh Đồng Tranh), lòng sông khá rộng (2000 – 3000m )
nhưng nông (độ sâu chỉ 6 – 8m) do vậy khả năng giao thông thủy cho tàu lớn bò
hạn chế.
+ Sông Lòng Tàu – Ngã Bảy: là tuyến dẫn nước sông Nhà Bè từ Bình
Khánh đưa ra Vònh Gành Rái, cửa sông Ngã Bảy rộng 800 – 500m, sông Lòng
Tàu hẹp (400 – 600m), uốn khúc nhưng sâu (10 – 21m), là tuyến giao thông thủy
chủ yếu nối biển Đông với cảng Sài Gòn, Đồng Nai.
SVTH : Huỳnh Ngọc Cẩn MSSV: 02DHMT020 11
GVHD: Th.s Vũ Hải Yến
Đánh giá hiện trạng môi trường rừng ngập mặn Cần Giờ và đề xuất biện pháp quản lýđ
+ Sông Thò Vải – Gò Gia: có phần lớn lưu vực thuộc tỉnh Đồng Nai và Bà
Ròa – Vũng Tàu, đây là hệ thống sông chòu khống chế mạnh của biển, cả lưu vực
sông tạo thành khu chứa nước mặn rất lớn. Lòng sông Thò Vải hẹp (400 – 600m)
nhưng rất sâu (30 – 40m) thuận tiện cho việc xây dựng các cảng nước sâu. Sông
Gò Gia là đọan nối cửa sông Thò Vải với mạng lưới sông rạch phía Đông Cần
Giờ.
Biên độ triều cực đại trong vùng từ 4,0 đến 4,2m vào loại cao nhất ở Việt
Nam, biên độ triều có xu hướng giảm dần từ phía Nam lên phía Bắc (vì phía Nam
tiếp giáp với biển Đông). Đỉnh triều cao nhất trong năm thường xuất hiện vào
tháng 10, 11 và thấp nhất vào khoảng tháng 4,5.
Thủy triều là yếu tố quan trọng đối với sự phân bố và sinh trưởng của các
quần xã cây ngập mặn, vì khơng những tác động trực tiếp lên thực vật do mức độ và
thời gian ngập, mà còn ảnh hưởng đến nhiều yếu tố khác như kết cấu, độ mặn của
đất, sự bốc hơi của nước, các sinh vật trong rừng. Mặt khác, thủy triều cũng tác động
tới gió, lượng mưa và dòng chảy trong sơng.
Vùng có chế độ bán nhật triều cây sinh trưởng tốt hơn là nhật triều, vì thời
gian cây bị ngập khơng thu được khơng khí trên mặt đất ngắn hơn, thời gian đất bị
phơi trống cũng ngắn hơn chế bớt lượng bốc hơi nước trong đất và trong cây, nhất
là thời kì nắng nóng. Nhờ vậy mà cây sinh trưởng thuận lợi hơn.
Biên độ triều ảnh hưởng rõ rệt đến sự phân bố cây ngập mặn. Các lưu vực
sơng có biên độ triều thấp,Khả năng vận chuyển trầm tích và nguồn giống kém, do
đó, rừng ngập mặn phân bố trong một phạm vi rất hẹp. Chỉ ở nhưng nơi có biên độ
triều cao trung bình (2 - 3m), địa hình ít dốc thì cây ngập mặn phân bố rộng và sâu
vào đất liền.
SVTH : Huỳnh Ngọc Cẩn MSSV: 02DHMT020 13
GVHD: Th.s Vũ Hải Yến
Đánh giá hiện trạng môi trường rừng ngập mặn Cần Giờ và đề xuất biện pháp quản lýđ
• Mực thuỷ triều
Biên độ thuỷ triều Loại cây
4m
Chà là
4m – 3,5m
Giá
3,5m
Cóc đỏ
3m
hẳn so với hệ sông Lòng tàu do dạng dòng sông hình thành khác nhau. Sông Soài
Rạp có mặt cắt cạn hơn so với sông Lòng Tàu nên tác động từ biển Đông vào
sông Soài Rạp yếu hơn vào sông Lòng Tàu.
• Hướng chảy
Trong sông, rạch dòng chảy gồm có dòng triều, dòng sông và dòng tổng
hợp. Trong những lúc thay đổi pha triều, hướng chảy thay đổi theo mặt cắt ngang:
nước ở hai mé sông đã lớn – hướng chảy vào, trong khi đó nước ở giữa dòng vẫn
còn ròng – hướng chảy ra. Hiện tượng này quan sát thấy rất rõ trên các sông có
nguồn mạnh như Nhà Bè, Soài Rạp, Lòng Tàu, Ngã Bảy v.v
Theo phân vùng thủy văn thủy lực vùng hạ du: Nam Nhà Bè và huyện Cần
Giờ nằm trong vùng biển khống chế mạnh, nước lợ – mặn, dòng chảy triều chiếm
ưu thế.
Hướng chảy còn thay đổi theo thủy trực và phụ thuộc vào thủy triều: khi
nước mới lớn nước ở trên mặt chảy ra nhưng nước ở lớp giữa và đáy còn chảy vào
và khi mới ròng thì ngược lại. Giữa các sông lớn có sự chuyển nước từ sông này
sang sông kia hình thành các dòng chảy theo hướng từ Đông sang Tây theo tuyến
Lòng Tàu – Mũi Nai qua sông Dần Xây và từ Tây sang Đông từ Nhà Bè sang
Lòng Tàu qua Tắc An Nghóa, từ Nhà Bè sang Mũi Nai qua Vàm Sát v.v
• Hình thành các giáp nước
SVTH : Huỳnh Ngọc Cẩn MSSV: 02DHMT020 15
GVHD: Th.s Vũ Hải Yến
Đánh giá hiện trạng môi trường rừng ngập mặn Cần Giờ và đề xuất biện pháp quản lýđ
Giáp nước được hình thành trên các sông rạch có xâm nhập thủy triều từ
hai phía. Ở khu vực huyện Cần Giờ có khoảng 20 vùng giáp nước. Phạm vi giáp
nước thay đổi theo thời gian. giáp nước không phải một điểm mà một vùng hay
một đoạn sông, rạch. Nơi đây có sự giảm vận tốc dòng chảy, lắng đọng nhiều phù
sa, mùn bã hữu cơ, bò cạn – gây khó khăn cho giao thông thủy và tiêu thoát nước.
Vùng giáp nước tích đọng các chất dinh dưỡng (phospho, nitơ). Nếu hàm lượng
chất dinh dưỡng nhiều có thể gây nên hiện tượng phú dưỡng hóa. Ở các khu vực
giáp nước sinh vật đáy, động thực vật phù du phát triển với số lượng nhiều hơn
ruộng vườn.
• Thời gian truyền đỉnh triều
Từ Vũng Tàu vào các cửa sông phía Nam Cần Giờ chỉ khoảng 30-40 phút;
đến Bắc Cần Giờ từ 1 giờ đến 1 giờ 30 phút, có khi 2 giờ, tùy thuộc vào kỳ triều:
triều cường thời gian truyền đỉnh triều thường dài hơn triều trung và triều kém 20
– 30 phút ở tại một nơi quan sát theo dõi. Thời gian truyền đỉnh triều nhanh như
vậy nếu nếu có sự cố ô nhiễm nước do tràn dầu ở vònh Gành Rái hoặc Vũng Tàu
thì nước ô nhiễm chỉ trong một thời gian ngắn sẽ ảnh hưởng đến toàn bộ nước ở
Cần Giờ.
Thời gian xuất hiện đỉnh và chân triều chuyển dòch dần dần, cách nhau chỉ
30 phút đến một giờ trong một kỳ triều, do đó thuận tiện cho việc lập kế hoạch đi
lại bằng đường thủy, đi biển đánh cá hoặc thu hoạch thủy sản trong rừng ngập
mặn.
SVTH : Huỳnh Ngọc Cẩn MSSV: 02DHMT020 17
GVHD: Th.s Vũ Hải Yến
Đánh giá hiện trạng môi trường rừng ngập mặn Cần Giờ và đề xuất biện pháp quản lýđ
1.5 ĐẶC ĐIỂM HẢI VĂN
Vùng cửa sông ven biển Cần Giờ chòu sự chi phối quyết đònh của các quá
trình động lực của Biển Đông, vì vậy dòng chảy trong khu vực mang tính chất
không thống nhất và là tổ hợp của nhiều thành phần dòng chảy. Hai thành phần
chính của dòng chảy ven bờ là dòng triều và dòng chảy do gió.
+ Dòng chảy do gió do tác động của gió mùa Đông Bắc và Tây Nam. Thời
kỳ gió mùa Đông Bắc (tháng 11 – 4 năm sau), dòng chảy có hướng về phía mũi
Cần Giờ, trong thời kỳ gió mùa Tây Nam (tháng 5 – 10), dòng chải có xu thế di ra
xa bờ theo hướng Tây Bắc – Đông Nam, tốc độ dòng chảy trung bình là 10cm/s.
+ Dòng chảy triều gồm dòng bán nhật triều và nhật triều, trong đó dòng
bán nhật trìêu đóng vai trò chủ yếu. Khi triều lên dòng chảy có hướng về phía
mũi Cần Giờ và khi triều xuống dòng chảy có hướng về phía Sòai Rạp. Ở khu vực
biển ven bờ và lân cận cửa sông, mực nước triều biến thiên phức tạp, biên độ
giảm dần từ cửa sông lên phía thượng lưu, từ sông chính vào các kênh rạch.
trong khu vực này tồn tại một dòng chảy Gradient do ảnh hưởng của nước sông đổ
vào vònh, sau khi ra khỏi vònh luôn có xu hướng ổn đònh chảy dọc theo bờ Cần
Giờ về phía Soài Rạp.
1.5.2. Dòng triều
Dòng triều ở đây mang tính chất bán nhật triều không đều: trong chu kỳ
một ngày đêm đổi chiều 4 lần: 2 lần khi triều lên và 2 lần khi triều xuống.
Nói chung thành phần bán nhật triều phân bố dọc theo bãi lớn hơn thành
phần nhật triều từ 2,6 đến 4,2 lần. Tốc độ dòng triều nói chung chiếm 90% dòng
tổng hợp, thường có giá trò trong khoảng 20cm/s đến 50cm/s. Khi triều lên, dòng
chảy có hướng song song với bờ và đi về phía Cần Giờ và khi triều xuống dòng
chảy có hướng về phía Đông Hòa. Dòng triều rút lớn hơn dòng triều dâng. Dòng
chảy vào và dòng chảy ra không hoàn toàn thuận nghòch mà có một độ lệch nhất
đònh.
5.3 Nguồn chuyển động bùn cát
Bãi biển Cần Giờ có 2 nguồn bùn cát chủ yếu:
SVTH : Huỳnh Ngọc Cẩn MSSV: 02DHMT020 19
GVHD: Th.s Vũ Hải Yến
Đánh giá hiện trạng môi trường rừng ngập mặn Cần Giờ và đề xuất biện pháp quản lýđ
Bùn cát từ các sông đưa ra: từ các sông Ngã Bảy, Cái Mép, sông Chà Và,
sông Dinh đổ vào Gành Rái và theo dòng chảy đi về phía Cần Giờ, hoặc từ các
sông Vàm Cỏû Đông, sông Đồng Tranh… đổ vào cửa Soài Rạp rồi theo dòng triều
đi lên, hoặc các sông trong huyện đổ trực tiếp ra các cửa Rạch Lở, cửa Hà Thanh.
Nhưng kết quả nghiên cứu cho thấy: bùn cát từ các sông đổ vào vònh Gành
Rái đều được đưa về bồi đắp phía Đông của vònh trong vùng cửa Chà Và và sông
Dinh. Bùn cát từ cửa Soài Rạp đi ngược lên rất yếu. Lượng bùn đi ra cửa Rạch Lở
và Hà Thanh không đáng kể.
Bùn cát nguồn gốc biển: từ bãi Thùy Vân (Vũng Tàu) vượt qua vònh Gành
Rái để sang Cần Giờ. Tại mũi Nghinh Phong dãi bùn cát này rộng 5km. Theo kết
quả xử lý số liệu trên máy tính sử dụng băng từ tổng hợp mẫu kênh 1, 2 và 4
thông qua lượng bùn cát từ Vũng Tàu sang Cần Giờ khoảng 4,6 triệu m
Lỗ khoan 827 nông trường quận Gò Vấp, xã An Thới Đông đến lỗ khoan 822 ấp
Miễu Ba, xã Cần Thạnh, huyện Cần Giờ, hệ tầng Bình Trưng phân bố ở độ sâu từ
240m đến 272m. Thành phần gồm có: sét bột kết, cát bột kết, sạn sỏi kết màu
xám phân lớp mỏng chứa di tích thực vật hóa than.
1.6.3 Hệ tầng Nhà Bè
Hệ tầng Nhà Bè không lộ ra trên bề mặt đất. Theo mặt cắt chi tiết tại lỗ
khoan 822 ấp Ba, xã Cần Thạnh, huyện Cần Giờ, hệ tầng Nhà Bè phân bố ở độ
sâu từ 168m đến 208m. Thành phần gồm có: cuội kết, cát kết màu xám, xám
xanh xen kẽ các lớp sét bột kết phân lớp mỏng.
1.6.4 Hệ tầng Bà Miêu
Hệ tầng Bà Miêu không thấy lộ ra trên bề mặt đất. Theo mặt cắt chi tiết
tại lỗ khoan 822 ấp Ba, xã Cần Thạnh, huyện Cần Giờ, hệ tầng Bà Miêu phân bố
ở độ sâu từ 120m đến 168m. Thành phần gồm có: sét bột pha cát màu nâu đỏ
nhạt, vàng xám, đáy có cát bột lẫn cuội sỏi.
SVTH : Huỳnh Ngọc Cẩn MSSV: 02DHMT020 21
GVHD: Th.s Vũ Hải Yến
Đánh giá hiện trạng môi trường rừng ngập mặn Cần Giờ và đề xuất biện pháp quản lýđ
1.6.5 Hệ tầng Trảng Bom
Hệ tầng Trảng Bom không lộ ra trên bề mặt đất. Theo mặt cắt đòa chất lỗ
khoan 822 ấp Ba, xã Cần Thạnh, huyện Cần Giờ, hệ tầng Trảng Bom phân bố từ
độ sâu 86m đến 120m, từ trên xuống dưới gồm 3 tập như sau:
Tập trên: sét bột, cát màu loang lổ, vàng nâu, bề dày 9m.
Tập giữa: cát bột màu xám trắng chứa sạn sỏi thạch anh, dày 16m.
Tập dưới: sỏi sạn cát thạch anh, bột sét màu xám vàng chứa mảnh thực
vật hóa than màu đen. Ở đáy là cuội thạch anh mài tròn tốt.
1.6.6 Hệ tầng Thủ Đức
Ở Cần Giờ, hệ tầng Thủ Đức cũng không thấy lộ ra trên bề mặt đất. Theo
mặt cắt chi tiết tại lỗ khoan 822 ấp Ba, xã Cần Thạnh - Cần Giờ, hệ tầng Thủ
Đức phân bố ở độ sâu từ 53m đến 86m.
1.6.7 Hệ tầng Củ Chi
gồm hai tập:
Tập trên: cát mòn chứa ít sét màu xám, xám vàng, dày 3m. Cát 75 - 80%,
khoáng vật nặng chủ yếu là tourmalin, zircon.
Tập dưới: sét bột màu xám phủ trực tiếp trên các trầm tích hệ Bình
Chánh, dày 2,5m.
Các thành tạo đất giồng tập trung chủ yếu ở xã Cần Thạnh và Long Hòa.
SVTH : Huỳnh Ngọc Cẩn MSSV: 02DHMT020 23
GVHD: Th.s Vũ Hải Yến
Đánh giá hiện trạng môi trường rừng ngập mặn Cần Giờ và đề xuất biện pháp quản lýđ
1.6.10 Các trầm tích bãi bồi hiện đại
Trầm tích bãi bồi hiện đại nguồn gốc đầm lầy – biển
Phân bố hầu khắp khu vực huyện Cần Giờ, tập trung nhiều ở xã Cần
Thạnh, Long Hòa, và Lý Nhơn. Mực đòa hình có cao độ từ 0,8 – 1,4m. Nguồn vật
liệu trầm tích là do dòng nước biển mang vào các đầm lầy và tại đây đã diễn ra
quá trình trầm tích vật liệu. Thành phần chủ yếu là: sét có chứa thực vật phân
hủy màu xám đen.
Trầm tích bãi bồi hiện đại nguồn gốc sông - biển
Phân bố hầu hết ở xã Lý Nhơn và Cần Thạnh. Mực đòa hình có cao độ từ
0,8 – 1,2m. Nguồn vật liệu trầm tích là hỗn hợp vật liệu được mang theo dòng
chảy của sông và của dòng nước biển đưa vào. Thường xuyên bò ngập nước khi
triều lên. Thành phần chủ yếu: bùn cát màu xám đen.
Trầm tích bãi bồi hiện đại nguồn gốc biển
Trầm tích bãi bồi hiện đại nguồn gốc biển có diện phân bố không rộng, bề
dày không lớn, tập trung chủ yếu ở vùng cửa sông Cần Giờ, Soài Rạp và Đồng
Tranh; thường xuyên bò ngập nước và chòu tác động mạnh của thủy triều. Thành
phần: cát hạt mòn, mùn thực vật màu xám đen.
1.7 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA CHẤT THỦY VĂN
Gồm 5 phân vò đòa tầng đòa chất thủy văn theo thứ tự sau:
- Tầng chứa nước lỗ hổng các trầm tích Holocen
- Tầng chứa nước lỗ hổng các trầm tích Pleistocen
+ Đới chứa nước khe nứt trong đá trầm tích phun trào và xâm nhập
Mezozoi thượng:
Phân bố ở độ sâu dưới 240 m, đây là đới chứa nước nghèo, tỷ lưu lượng chỉ
đạt 0,06 l/Sm. Nước có thành phần Natri Bicacbonat, Clorua, độ khoáng hóa 0,9
g/l và độ pH = 8,5. Xét về lưu lượng thì đới này không có triển vọng nhưng đối
với vùng hiếm nước như Cần Giờ thì đây vẫn là đới chứa nước cần nghiên cứu
thêm.
+ Tầng chứa nước lỗ hổng-khe nứt-vỉa trong trầm tích rời và bở gắn kết
yếu Plixcen dưới:
Phân bố ở độ sâu khoảng từ 160m đến 220m, là tầng chúa nước nghèo và
rất nghèo, tỷ lưu lượng < 0,2 l/Sm. Nước bò nhiễm mặn. Nước thuộc loại hình
Natri clorua, với ưu thế tuyệt đối của anion clorua và cation natri, độ khoáng hóa
từ 3 – 10 g/l.
+ Tầng chứa nước vỉa lỗ hổng trong trầm tích bở rời Plioxen phần trên:
Phân bố ở độ sâu khoảng từ 120m đến 160m, được giới hạn bởi hai lớp
cách nước (lớp trên là lớp sét có chiều dày thay đổi từ vài mét đến 10m - 20m,
SVTH : Huỳnh Ngọc Cẩn MSSV: 02DHMT020 25
GVHD: Th.s Vũ Hải Yến
Bảng 1.1: Các phân vò đòa chất thủy văn