Kinh tế phi chính thức tại các nước đang phát triển - Pdf 13

class="bi x0 y0 w1 h1"
Kinh tế phi chính thức
tại các nước đang phát triển
Kinh tế
phi chính thức
tại các nước
đang phát triển
NHÀ XUẤT BẢN TRI THỨC
NHÓM BIÊN SOẠN: JEAN-PIERRE CLING; ĐỖ HOÀI NAM; STÉPHANE LAGRÉE;
MIREILLE RAZAFINDRAKOTO; FRANÇOIS ROUBAUD
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU 7
TÓM TẮT TỔNG QUAN 11
ĐỀ DẪN - Hội thảo cầu truyền hình 27
Phỏng vấn ông François Bourguignon - Hiệu trưởng Trường Kinh tế Paris
CHƯƠNG I. PHÂN KHÚC VIỆC LÀM GIỮA KHU VỰC KINH TẾ CHÍNH THỨC VÀ
KHU VỰC KINH TẾ PHI CHÍNH THỨC
1.1 Lao động phi chính thức và nghèo đói ở châu Mỹ Latin. 39
Trường hợp của Argentina, Brazil, Chile và Peru
_____Roxana Maurizio
1.2 Làm việc trong khu vực kinh tế phi chính thức: tự nguyện hay bắt buộc? 73
Phân tích sự hài lòng về công việc tại Việt Nam
_____ Mireille Razafindrakoto, François Roubaud, Jean-Michel Wachsberger
1.3 Việc làm cho lao động di cư từ nông thôn đến thành thị: 105
các phân tích về lựa chọn công việc và thu nhập của lao động di cư so với
lao động tại chỗ ở thành thị vùng Đồng bằng sông Hồng
_____ Nguyễn Hữu Chí
1.4 Hội nhập giữa khu vực kinh tế chính thức và khu vực kinh tế 137
phi chính thức trong làng nghề
_____ Sylvie Fanchette, Nguyễn Xuân Hoản
CHƯƠNG II. NHỮNG RÀNG BUỘC VỀ KINH TẾ, THỂ CHẾ VÀ XÃ HỘI

_____ Javier Herrera, Nancy Hidalgo

CHƯƠNG IV. CHÍNH SÁCH
4.1 Toàn cầu hóa và việc làm phi chính thức tại các nước đang phát triển 441
_____ Marc Bacchetta, Ekkehard Ernst và Juana P. Bustamante
4.2 Khu vực kinh tế phi chính thức, cuộc khủng hoảng và 463
chính sách công tại Việt Nam
_____ Jean-Pierre Cling, Mireille Razafindrakoto và François Roubaud
4.3 Sự công nhận khu vực kinh tế phi chính thức trong chiến lược 491
việc làm của Việt Nam
_____ Andrea Salvini
4.4 Bảo hiểm xã hội và khu vực kinh tế phi chính thức tại Việt Nam: 513
Liệu có thể tiến tới bảo hiểm phổ quát toàn dân?
_____ Paulette Castel
DANH SÁCH CÁC TÁC GIẢ 537
7
LỜI NÓI ĐẦU
LỜI NÓI ĐẦU
Ở các nước đang phát triển, khu vực kinh tế phi chính thức có vai trò rất
quan trọng trong xóa đói giảm nghèo, tạo thêm nhiều nhất việc làm mới, tăng
thu nhập cho người dân nghèo sống ở nông thôn và thành thị, góp phần ổn
định chính trị - xã hội và hỗ trợ tích cực cho khu vực kinh tế chính thức. Để
tăng trưởng bền vững nền kinh tế, cần có chính sách phát triển bền vững khu
vực kinh tế phi chính thức.
Việt Nam là m
ột quốc gia nông nghiệp với 75% dân số sống ở nông thôn
và 63% lao động xã hội làm việc trong nông nghiệp. Quá trình chuyển đổi
sang nền kinh tế thị trường và đẩy mạnh công nghiệp hóa nông nghiệp và
nông thôn theo hướng hiện đại đã và đang tạo ra nhiều cơ hội thuận lợi cho
khu vực kinh tế phi chính thức phát triển rất mạnh mẽ. Nhưng hiện nay, khu

quốc tế có Cơ quan Phát triển Pháp (AFD), Cơ quan Phát triển Anh (DFID),
Ngân hàng Thế giới (WB), Tổ chức Lao động Thế giới (ILO), Chương trình Phát
triển Liên hợp quốc (UNDP), nhóm nghiên cứu DIAL-IRD và một số học giả
nước ngoài khác. (Chi tiết xin mời xem thêm tại www.tamdaoconf.com). Mục
đích của Hội thảo này là trên cơ sở những kết quả nghiên cứu mới nhất được
trình bày trong các báo cáo khoa học, các nhà nghiên cứ
u, quản lí và hoạch
định chính sách của nhiều quốc gia sẽ tọa đàm, thảo luận khoa học để tạo
sự đồng thuận khoa học về quan niệm, khái niệm; phương pháp thống kê và
những công cụ đo lường sự phát triển và đánh giá tác động của khu vực kinh
tế và việc làm phi chính thức đối với sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia
đang phát triển; về quan đ
iểm và thái độ chính sách nhằm thúc đẩy sự phát
triển của khu vực này trong bối cảnh thế giới nói chung và nhiều quốc gia nói
riêng đang chịu nhiều tác động xấu của khủng hoảng tài chính và suy thoái
kinh tế toàn cầu, khủng hoảng nợ công ở châu Âu, bất ổn chính trị ở châu
Phi và Trung Đông.
Trong tay bạn đọc là cuốn kỉ yếu tập hợp một số báo cáo khoa học của
Hội thảo, đề c
ập một sự đa dạng về chủ đề và phong phú về nội dung những
vấn đề cơ bản của khu vực kinh tế và việc làm phi chính thức ở nhiều quốc
gia đang phát triển thuộc châu Á, châu Phi và châu Mỹ Latin. Lần đầu tiên
những quan sát và nghiên cứu trực tiếp về khu vực kinh tế phi chính thức có
sử dụng định nghĩa về khái niệm “kinh tế phi chính thức” của các tổ chức
qu
ốc tế được tập hợp và giới thiệu. Các kết quả nghiên cứu điều tra 1-2-3 phục
vụ cho việc thống kê quy mô và đánh giá vai trò, tác động của khu vực kinh
tế phi chính thức do nhóm DIAL-IRD thực hiện và công bố đã được sử dụng
làm cơ sở cho các nghiên cứu về kinh tế phi chính thức ở Tây Phi, Cameroun
và Việt Nam cũng được đề cập đến.

đưa ra các chính sách phù hợp
Jean-Pierre Cling, Stéphane Lagrée,
Mireille Razafindrakoto và François Roubaud
Tại các nước đang phát triển, phần lớn công ăn việc làm được tạo ra đều
tập trung ở khu vực phi chính thức, khu vực đóng vai trò chủ chốt trong nền
kinh tế quốc gia. Thậm chí có thể nghĩ rằng, khủng hoảng kinh tế thế giới còn
làm gia tăng vai trò của khu vực phi chính thức khi rất nhiều công ăn việc
làm bị cắt giảm tại các khu vực kinh tế chính thức.
Để hiểu rõ hơn cơ chế vận
hành của nền kinh tế ở các nước đang phát triển, cần thiết phải tìm hiểu thực
tiễn của kinh tế phi chính thức. Đây cũng là việc làm cần thiết để thực hiện
công tác xóa đói giảm nghèo, một trong những quan tâm hàng đầu trong các
chính sách phát triển. Đây là một thách thức lớn về chính trị, kinh tế và xã
hội. Làn sóng “Mùa xuân Ả Rập” khởi phát tại Tunisie vào n
ăm 2011 là do
vụ tự thiêu của một người bán rong rau quả để phản kháng việc bị cảnh sát
cấm bán hàng trên đường phố. Hơn nữa, khu vực phi chính thức hiện đang
vẫn chưa được các nhà nghiên cứu quan tâm, tìm hiểu cũng như chưa được
tính đến nhiều trong các chính sách. Thậm chí khu vực này đôi khi còn bị
nhìn nhận một cách tiêu cực như những gì chúng ta đã thấy qua làn sóng
cách mạng xảy ra ở Tunisie như đ
ã nêu trên.
Bất chấp những nỗ lực từ nhiều năm nay của Tổ chức Lao động Quốc tế
(ILO), khu vực phi chính thức vẫn ít được biết đến. Đây là một trở ngại lớn
trong việc đưa các vấn đề thuộc khu vực này vào các chính sách kinh tế của
12
KINH TẾ PHI CHÍNH THỨC TẠI CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN
các quốc gia. Dựa theo khuyến cáo của các tổ chức quốc tế, trong ấn phẩm
này, khu vực kinh tế phi chính thức được hiểu là toàn bộ các doanh nghiệp tư
nhân phi nông nghiệp, không có đăng ký kinh doanh nhưng cung cấp các sản

tương đối (Guha-Khasnobis và Kanbur, 2006).
Ngoài việc thiếu các số liệu xác đáng, việc nhầm lẫn về khu vực phi chính
thức còn do khu vực này vốn có nhiều hình thức cũng như động lực làm việc
khác nhau. Trong các nghiên cứu kinh tế đã được thực hiện, có thể thấy có ba
1
Có nhiều định nghĩa khác nhau về khu vực kinh tế phi chính thức được đưa ra tùy theo hoàn cảnh mỗi
nước: thiếu hệ thống sổ sách kế toán, quy mô doanh nghiệp (số lượng người làm) nhỏ hơn một ngưỡng
nhất định.
13
TÓM TẮT TỔNG QUAN
phương pháp tiếp cận chủ đạo đã được sử dụng để tìm hiểu về nguồn gốc và
nguyên nhân của tính phi chính thức (Roubaud, 1994; Bacchetta và những
người khác, 2009):
• Phương pháp tiếp cận “hai mặt/kép” được sử dụng trong các nghiên
cứu của Lewis (1954) và Harris-Todaro (1970). Phương pháp này dựa trên mô
hình thị trường lao động kép, trong đó khu vực phi chính thức được coi như
một thành phần còn sót lại của thị trường lao động và không có liên hệ với
khu vự
c kinh tế chính thức; khu vực kinh tế mưu sinh này tồn tại chỉ bởi vì
khu vực kinh tế chính thức không có khả năng tạo đủ việc làm cho người lao
động;
• Phương pháp tiếp cận “cơ cấu”, khác với phương pháp thứ nhất,
phương pháp tiếp cận này nhấn mạnh quan hệ phụ thuộc qua lại giữa hai
khu vực chính thức và phi chính thức (Moser, 1978; Portes và những người
khác,1989), dựa trên tinh thần của chủ nghĩ
a Marx, theo đó, khu vực phi
chính thức tham gia vào hệ thống tư bản chủ nghĩa theo quan hệ phụ thuộc.
Khu vực này cung cấp lao động và sản phẩm giá rẻ cho các doanh nghiệp
thuộc khu vực chính thức, đồng thời làm tăng tính linh hoạt và khả năng
cạnh tranh của nền kinh tế;

về chủ đề này. Trên cơ sở những kết quả nghiên cứu mới nhất, hội thảo góp
phần tiến tới xây dựng các chính sách dành cho khu vực phi chính thức cũng
như tìm ra các phương pháp tiếp cận chung trong việc đưa ra định nghĩa cũng
như các công cụ đo lường cho khu vực kinh tế và việc làm phi chính thức tại
các nước đ
ang phát triển
3
. Liên quan đến điểm cuối này, đây sẽ là ấn phẩm
đầu tiên tập hợp các quan sát và nghiên cứu trực tiếp về kinh tế phi chính
thức có sử dụng định nghĩa của các tổ chức quốc tế. Các nghiên cứu điều tra
1-2-3 phục vụ cho việc đo lường kinh tế phi chính thức do nhóm DIAL thực
hiện và công bố là cơ sở cho các nghiên cứu về Tây Phi, Cameroun, Peru và
Việt Nam cũng được giới thiệu.
Ấn phẩm bao gồm bốn phần với phỏng vấn dẫn đề của F.Bourguignon,
giới thiệu chung về các vấn đề chính liên quan đến khu vực phi chính thức.
Phần một giới thiệu các yếu tố phân bổ việc làm theo khu vực và các nguyên
nhân dẫn đến việc người lao động làm việc trong khu vực phi chính thức cũng
như mức độ hài lòng của họ về công việc. Phần hai phân tích các ràng buộc,
khó khăn về kinh t
ế, thể chế và xã hội đối với khu vực phi chính thức ở các
nước đang phát triển: tham nhũng, các yếu tố về hiệu quả sản xuất và tham
gia vào nền kinh tế. Nội dung của phần ba là sự vận động ở các cấp độ vi mô
và vĩ mô của khu vực phi chính thức, từ đó dẫn tới nghiên cứu sự chuyển dịch
giữa hai khu vực chính thức và phi chính thức, cũng như
quan hệ giữa việc
làm phi chính thức, thu nhập và nghèo đói. Phần bốn đề cập các vấn đề về
chính sách kinh tế đối với khu vực kinh tế phi chính thức và mở rộng hơn tới
quan hệ giữa toàn cầu hóa và tính phi chính thức của khu vực này.
Qua các nghiên cứu được giới thiệu trong ấn phẩm, có thể rút ra một
thông điệp chính. Đó là, những đặc điểm chính của khu vực phi chính thức

c trong khu vực phi chính thức, liệu có phải do họ chủ động
lựa chọn hay họ buộc phải làm việc trong khu vực này? Tìm ra câu trả lời cho
câu hỏi này có thể sẽ giúp kiểm chứng được tính xác đáng của các phương
pháp tiếp cận “hai mặt/kép”, “cơ cấu” và “pháp lí” đã giới thiệu ở trên.
Nghiên cứu so sánh đặc điểm của người lao động trong hai khu vực chính
thức và phi chính thức cũng như điề
u kiện làm việc và thu nhập của họ cho
thấy kinh tế phi chính thức thường tiếp nhận lao động có trình độ tay nghề ở
mức thấp nhất và lao động nhập cư, và việc làm trong khu vực này cũng có mức
thu nhập thấp nhất (ngoài nông nghiệp). Đặc điểm cuối cùng là việc làm trong
khu vực phi chính thức nhìn chung thường được coi là việc làm tạm thời trong
khi chờ tìm được việc làm khác tốt hơn trong khu vực chính thứ
c. Như vậy có
thể thấy, làm việc trong khu vực này thường là do bắt buộc chứ không phải là
16
KINH TẾ PHI CHÍNH THỨC TẠI CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN
lựa chọn tự nguyện nguyên do từ tình trạng thừa lao động ở các nước đang
phát triển. Kết quả này cho thấy cần phải nhìn nhận một cách tương đối những
kết luận của nhiều nhà nghiên cứu ưu tiên sử dụng phương pháp tiếp cận
“pháp lí” trong trường hợp của châu Mỹ Latin (de Soto, 1994; Maloney, 2004).
R. Maurizio (Phần 1.1) nghiêng về nghiên cứu mối quan hệ giữa vị thế
phi chính thức, việc làm bấ
p bênh và phân phối thu nhập, cũng như mối quan
hệ giữa tính phi chính thức trong lao động và nghèo đói. Nghiên cứu được
tác giả thực hiện tại bốn nước Mỹ Latin (Argentina, Brasil, Chile và Peru). Từ
nghiên cứu này, tác giả đã đưa ra kết luận là có mối tương quan tỉ lệ thuận
giữa phi chính thức và nghèo đói. Người lao động phi chính thức (kể cả những
người làm việc trong lĩnh vực phi chính thức và những người làm công ă
n
lương nhưng không có đăng ký) có trình độ học vấn trung bình thấp hơn

chủ hay làm thuê – và nhất là trong trường hợp người lao động làm thuê - đều
mong muốn thay đổi công việc, và tốt nhất là tìm được các công việc an toàn
hơn trong khu vực chính thức.
Nguyễn Hữu Chí (Phần 1.3) nghiên cứu so sánh thực tế trong việc lựa
chọn lĩnh vực hoạt
động và thu nhập của người lao động ngoại tỉnh với người
lao động nội thị ở các đô thị thuộc Đồng bằng sông Hồng. Kết quả của nghiên
cứu cho thấy nhìn chung người lao động trong khu vực phi chính thức đều
chịu thiệt thòi, cho dù họ có phải là người lao động ngoại tỉnh hay không
và người lao động từ các vùng nông thôn thường chịu thiệt thòi nhiều nhất.
Ngoài ra, theo mô hình di cư xác suất của Harris và Todaro (1970), vi
ệc làm
phi chính thức thường là một lựa chọn tạm thời của người lao động nhập cư
trong khi chờ đợi tìm được một việc làm có thu nhập tốt hơn. Chiến lược lựa
chọn này được khẳng định qua câu trả lời của họ đối với các câu hỏi tìm hiểu
về vấn đề này. Cuối cùng và theo phân tích ở phần trước về người lao động
trong khu vực phi chính thức nói chung, thu nh
ập mỗi tháng càng cao, người
lao động ngoại tỉnh càng ít muốn thay đổi công việc.
Sự tham gia của khu vực phi chính thức trong kinh tế chính thức được
hai tác giả S. Fanchette và Nguyễn Xuân Hoản nghiên cứu thông qua trường
hợp các làng nghề truyền thống ở Đồng bằng sông Hồng (thuộc khu vực Hà
Nội) (Phần 1.4). Sử dụng phương pháp tiếp cận địa lí, chủ yếu mang tính định
tính, hai tác giả nhấn mạnh đặc điể
m ranh giới không rõ ràng giữa hai khu
vực chính thức và phi chính thức do có sự liên kết chặt chẽ các doanh nghiệp
siêu nhỏ ở các làng nghề. Mối liên kết này giúp cho các doanh nghiệp nhỏ,
thông qua hoạt động gia công thuê, tham gia vào hoạt động xuất khẩu sản
phẩm thủ công nghiệp (dệt may, đồ gỗ, gốm sứ, v.v.). Đây là trường hợp điển
hình cho việc áp dụng phương pháp tiếp cận mang tính “cơ cấu”. Tuy nhiên,

tế vẫn còn ít nghiên cứu đến. Các mối liên hệ về mặt xã hội cũng có thể có
tác động tích cực (nếu các mạng lưới quan hệ giúp bổ sung cho những gì còn
chưa hoàn thiện của thị trường lao động và thị trườ
ng vốn) hoặc tiêu cực –
nếu xét trong trường hợp có sự đoàn kết bắt buộc và áp đặt chứ không phải tự
nguyện giữa các thành viên trong gia đình. Chương hai này phân tích tính đa
dạng của khu vực phi chính thức trong mối liên hệ với các ràng buộc về kinh
tế, thể chế và xã hội. Địa bàn thực hiện các nghiên cứu giới thiệu trong phần
này là khu vực châu Phi cận Sahara.
Nghiên cứu về hiệu quả kỹ thu
ật trong khu vực phi chính thức tại
Madagascar do F. H. Rakotomanana thực hiện (Phần 2.1) dựa trên phương
trình hồi quy phân vị cho thấy các cơ sở sản xuất phi chính thức thường có
hiệu quả thấp: cùng một nguồn lực như nhau, có thể tăng gấp ba sản lượng
với điều kiện gỡ bỏ các ràng buộc liên quan đến cung (khả năng tiếp cận vốn,
có cơ sở nhà xưởng sản xuất phù h
ợp, v.v ) và đào tạo nghề. Các cơ sở kinh
doanh và cơ sở do phụ nữ làm chủ thường có hiệu suất kinh tế thấp nhất. Kết
quả kinh doanh có vẻ rất ổn định trong hai năm nghiên cứu (2001 và 2004).
19
TÓM TẮT TỔNG QUAN
P. Nguetse Tegoum (Phần 2.2) tập trung nghiên cứu vào điểm cuối này, thông
qua việc đánh giá hiệu quả đóng góp của giáo dục trong khu vực phi chính
thức ở Cameroun với phương pháp đối sánh và mô hình lựa chọn có tính đến
các đặc điểm không thể quan sát được. Các đánh giá của nghiên cứu này cho
thấy tác động quan trọng của giáo dục tới thu nhập của người lao động trong
khu vực phi chính thức. Hoàn thành tốt chương trình giáo dục cơ sở (trướ
c khi
tham gia thị trường lao động hoặc sau khi quay lại trường học) giúp tăng thu
nhập cho người lao động từ 20% - 33%. Hơn nữa, xác suất phải làm việc trong

Vì không đăng ký nên các cơ sở phi chính thức không đóng thuế lợi nhuận hoặc thuế doanh thu. Ngược
lại, họ lại đóng các loại thuế địa phương (trong trường hợp hoạt động ổn định ở một địa phương).
20
KINH TẾ PHI CHÍNH THỨC TẠI CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN
L. Pasquier-Doumer (Phần 2.5.) bổ sung việc phân tích các yếu tố có tác
động quyết định tới quyết định lựa chọn công việc trong khu vực phi chính
thức bằng yếu tố quan hệ liên thế hệ. Tác giả xuất phát từ thực tế là có tồn
tại mối tương quan chặt chẽ về vị thế phi chính thức giữa các thành viên liên
thế hệ. Nghiên cứu này chỉ ra rằng, trái với kết quả quan sát được ở các nướ
c
phát triển, yếu tố lí giải cho sự tồn tại của mối tương quan này không phải
là do cha mẹ truyền lại cho con cái các năng lực về quản lí, về vốn con người
hoặc vốn kinh doanh. Do vậy, có bố làm kinh doanh cũng không mang lại lợi
thế so sánh cho con cái, xét về hiệu suất kinh tế. Ngược lại, nếu các chủ cơ
sở phi chính thức kế nghiệp gia đình thì lại có lợi thế so sánh. Có thể suy ra
r
ằng, việc tham gia vào khu vực phi chính thức là lựa chọn tự nguyện của các
chủ doanh nghiệp, những người được thừa hưởng từ các thế hệ trước hoặc có
thể dựa vào truyền thống của gia đình.
Sự năng động vi mô – vĩ mô và nghèo đói
Về dài hạn, điều này cũng được F. Bourguignon nhận định trong phần
dẫn nhập. Có thể dự báo là mức độ phát triển c
ủa đất nước sẽ dẫn đến giảm
dần tỉ trọng của kinh tế phi chính thức trong nền kinh tế quốc dân. Trường
hợp của các nước phát triển với việc kinh tế phi chính thức chiếm vị trí không
đáng kể, là một minh họa cho nhận định này. Câu hỏi đầu tiên mang tính
chất kinh tế vĩ mô liên quan đến mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và
sự vận động củ
a khu vực phi chính thức. Việc phân tích thị trường lao động
hoàn toàn có thể mở rộng sang phân tích tính năng động của việc làm, từ đó

kinh tế đang dần phục hồi sau cuộc khủng hoảng nghiêm trọng xảy ra vào
đầu thập kỷ. Tỉ trọng việc làm trong khu vực chính thức (chiếm gần 40 % tổng
số việc làm) vẫn giữ nguyên mức từ đầ
u những năm 1990. Ngược lại, tỉ trọng
việc làm của khu vực phi chính thức (khoảng 55 % tổng số việc làm) lại tăng
lên dưới tác động kết hợp của các chương trình cải cách cơ cấu và sau đó là
khủng hoảng kinh tế. Sau đó tỉ trọng này lại giảm nhờ kinh tế phục hồi, đồng
thời tỉ lệ nghèo tuyệt đối vốn trước đây tăng lên m
ức hơn 50% trong giai đoạn
ngay sau khủng hoảng cũng đã giảm. Tuy nhiên, các hộ gia đình thuộc nhóm
nghèo nhất ít được hưởng lợi từ tăng trưởng, trong khi tình trạng bất bình
đẳng không thay đổi: ít tiếp cận với việc làm, nếu có thì thường là việc làm
chất lượng thấp ở trong khu vực kinh tế phi chính thức; việc làm và thu nhập
thường bấp bênh với mức độ cao hơn mức độ bấp bênh trung bình, do vậ
y họ
thường là những đối tượng dễ bị tổn thương ở mức cao.
X. Oudin (Phần 3.3) phân tích sự vận động của thị trường lao động Thái
Lan trong giai đoạn dài 35 năm từ năm 1970 đến năm 2005. Trong suốt giai
đoạn tăng trưởng và công nghiệp hóa mạnh – giai đoạn bị ngắt quãng do
cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính năm 1997–, việc làm trong khu vực phi
chính thức có xu hướng giảm. Kể
từ khi xảy ra khủng hoảng, tỉ trọng tương
đối của khu vực phi chính thức trong tổng số việc làm có xu hướng ổn định,
mà nguyên nhân có liên quan tới tình trạng suy giảm tăng trưởng. Mối tương
quan giữa tăng trưởng kinh tế và việc làm trong khu vực phi chính thức phù
22
KINH TẾ PHI CHÍNH THỨC TẠI CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN
hợp với kết quả nghiên cứu thực hiện tại khu vực châu Mỹ Latin cũng được
giới thiệu trong phần này. Tuy nhiên, các điều tra tiểu sử do tác giả thực hiện
cũng cho thấy có hiện tượng di cư lao động rất mạnh (đặc biệt là lao động

được quan tâm trong các chính sách công, đây là chủ đề
được phân tích sâu
hơn trong chương cuối của ấn phẩm.
Chính sách nào cần được đưa ra?
Chính do cách nhìn đơn giản hóa được nhắc đến ở trên còn rất phổ biến,
theo đó sự phát triển kinh tế sẽ xóa bỏ dần kinh tế phi chính thức, mà các
23
TÓM TẮT TỔNG QUAN
chính sách kinh tế ở đa số các nước đang phát triển còn chưa chú ý đến khu
vực phi chính thức.
Chính cách nhìn như vậy đã dẫn đến tình trạng chú trọng nhiều đến tăng
trưởng và hiện đại hóa kinh tế hơn là đến việc tìm cách giúp đỡ, hỗ trợ cho
một khu vực đang có nguy cơ biến mất khỏi nền kinh tế. Ngoài ra, các chính
sách dành cho khu vực phi chính thức hiện đang phải đối mặt vớ
i một mâu
thuẫn khó giải quyết, ít nhất là xét theo biểu hiện bề ngoài: liệu có nên hỗ trợ
cho khu vực phi chính thức khi mà sự hỗ trợ đó có nguy cơ khiến cho khu vực
này càng phình ra hay không? Hoặc có nên thúc đẩy việc chuyển dịch khu vực
phi chính thức sang khu vực chính thức để cải thiện năng suất và thu nhập
(và đánh thuế các thu nhập đó). Lưu ý là quá trình chuyển đổi như vậy là
một quá trình dài hơi (vì những lí do mang t
ầm kinh tế vĩ mô và vi mô được
tranh luận trong suốt phần dẫn nhập này). Cuối cùng, xác định chính sách
nào sẽ được áp dụng cũng phụ thuộc vào kết quả chẩn đoán đâu là các yếu
tố quyết định tới việc làm trong khu vực phi chính thức. Theo phương pháp
tiếp cận kép, cần phải khuyến khích việc thành lập và phát triển các doanh
nghiệp chính thức. Theo phương pháp tiếp cận mang tính cơ cấu, chính sách
cần áp dụ
ng lại là cải thiện việc tuân thủ hệ thống các quy định pháp luật.
Còn phương pháp tiếp cận mang tính pháp lí lại đề xuất giảm bớt các quy định

kinh tế Việt Nam tăng trưởng nhanh, nhưng khu vực phi chính thức v
ẫn tiếp tục
tồn tại trong nền kinh tế. Đây là nguồn việc làm phi nông nghiệp quan trọng. Tỉ
trọng của khu vực này còn có xu hướng tăng lên cùng với quá trình chuyển đổi
nông nghiệp. Các tác giả cũng nêu lên thực tế là kinh tế phi chính thức rất dễ bị
tác động từ các cú sốc kinh tế vĩ mô do tác động của khủng hoảng kinh tế thế
giới. Khu vực phi chính thức đóng vai trò giải tỏa c
ăng thẳng trên thị trường lao
động, đặc biệt nhờ số lượng việc làm tạo ra trong khu vực này tăng lên, ngoài
ra tỉ lệ người lao động kết hợp làm nhiều công việc cũng tăng lên.
Mặc dù gặp nhiều khó khăn nhưng khu vực này đã không được chú trọng
trong các chính sách hỗ trợ kinh tế được đưa ra sau khủng hoảng. Các tác giả
khuyến cáo cần phải chính thức công nhận sự tồn tạ
i và vai trò của khu vực phi
chính thức (điều này đòi hỏi phải đưa ra được một định nghĩa đồng nhất về khu
vực này), tăng cường sự minh bạch và đơn giản hỏa thủ tục đăng ký và áp dụng
các chính sách phù hợp dành riêng cho khu vực này, và các chính sách hiệu
quả nhất phải được xây dựng trên cơ sở các thông tin dữ liệu chính xác, cụ thể.
Hai phần cuối của ấn phẩm quan tâm đế
n việc thực hiện cụ thể các chiến
lược đó tại Việt Nam. A. Salvini (Phần 4.3) nhất mạnh một điểm là lần đầu
tiên chiến lược quốc gia về việc làm giai đoạn 2011-2020 được Chính phủ
Việt Nam thông qua đã tính đến những thách thức trong lĩnh vực việc làm phi
chính thức, trên cơ sở các nghiên cứu phân tích của ILO và các tác giả của các
nghiên cứu giới thiệu trong ấn phẩm. Qua các nghiên cứ
u của mình, các nhà
nghiên cứu đều nỗ lực để làm sao hướng tới được mục tiêu này. Cụ thể, Chiến
lược quốc gia về việc làm của Việt Nam đặt mục tiêu giảm tỉ trọng việc làm
phi chính thức và cải thiện các dịch vụ bảo hiểm xã hội cho người lao động.
25

Bacchetta, M., E. Ernst et J.P. Bustamante (2009), Globalization and
Informal Jobs in Developping Countries, ILO et OMC, Genève.
Banerjee, A. et E. Duflo (2012), Repenser la pauvreté, Le Seuil, Paris.
Cling, J.P., T.T.H. Nguyen, H.C. Nguyen, T.N.T. Phan, M. Razafindrakoto et
F. Roubaud (2010), The Informal Sector in Vietnam ; A focus on Hanoi and
Ho Chi Minh City, The Gioi Publisher, Hanoï.
5
Những độc giả quan tâm đến các phương pháp luận trong nghiên cứu về kinh tế phi chính thức có thể tìm đọc
các tham luận trình bày tại phiên toàn thể và lớp học chuyên đề về chủ đề này trong khuôn khổ của Khoá học
mùa hè Tam Đảo được tổ chức thường niên từ năm 2007 (Xem website: www.tamdaoconf.com).
26
KINH TẾ PHI CHÍNH THỨC TẠI CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN
Guha-Khasnobis, B. Kanbur Et R. Kanbur (Dir.) (2006), Informal Labor
Markets and Development, Palgrave McMillan, Londres.
Harris, J.R. et M.P. Todaro (1970), “Migration, Unemployment and
Development: a Two-Sector Analysis”, American Economic Review 60(1) pp.
126-142.
Jutting, P. et J.R. De Laiglesia (Dir.) (2009), L’emploi informel dans les
pays en développement ; une normalité indépassable ? OCDE, Centre de
développement, Paris.
Lewis, W. A. (1954), “Economic Development with Unlimited Supplies of
Labour”, Manchester School 28(2), pp. 139-191.
Maloney, W. (2004), “Informality Revisited”, World Development 32 (7),
pp. 1159-1178.
Moser, C. O. (1978), “Informal Sector or Petty Commodity Production:
Dualism or Dependence in Urban Development”, World Development 6(9/10),
pp. 1041-1064.
ILO (2003), “Guidelines Concerning a Statistical Definition of Informal
Employment”, Seventeenth International Conference of Labour Statisticians,
ILO, Genève, 24 novembre – 3 décembre.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status