Nợ nước ngoài ở Việt Nam - Thực trạng và giải pháp - Pdf 13

1 MỤC LỤC trangPHẨN MỞ ĐẦU
1.

LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 3
2.

ĐỐI TƯỢNG VÀ MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU 4
3.

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 4
4.

KẾT CẤU CỦA ĐỀ TÀI 4 CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VIỆC QUẢN LÝ NỢ NƯỚC NGOÀI


VIỆT NAM 5
1.1.

TỔNG QUAN VỀ NỢ NƯỚC NGOÀI 5


Việc quản lý nợ nước ngoài ở Việt Nam 11
1.3.

KINH NGHIỆM QUẢN LÝ NỢ NƯỚC NGOÀI CỦA MỘT SỐ NƯỚC
TRÊN THẾ GIỚI VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM 14
1.3.1.

Kinh nghiệm quốc tế về quản lý nợ nước ngoài 14
1.3.2.

Bài học kinh nghiệm cho việc Việt Nam trong việc vay và quản lý nợ
quốc
tế
16
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 18

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VỀ VIỆC QUẢN LÝ NỢ NƯỚC NGOÀI


VIỆT NAM 19
2.1.

TÌNH HÌNH VAY NỢ VAY NƯỚC NGOÀI CỦA VIỆT NAM 19
2.1.1.

Các phương thức vay nợ chủ yếu của Việt
Nam
19
2.1.2.

CHƯƠNG 3: CÁC GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG CƯỜNG GIÁM SÁT VÀ
QUẢN LÝ NỢ NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM 38
3.1.

CÁC GIẢI PHÁP ĐẢM BẢO KHẢ NĂNG TIẾP NHẬN NỢ VAY NƯỚC
NGOÀI 38
2 3.1.1.

Đảm bảo tăng trưởng kinh tế ổn định và bền vững 38
3.1.2.

Gia tăng dự trữ ngoại hối 38
3.1.3.

Gia tăng dự trữ ngoại hối 39
3.2.

CÁC GIẢI PHÁP LÀM GIẢM CHI PHÍ VAY NỢ 40
3.2.1.

Chính sách tỷ giá hối đoái 40
3.2.2.

Ổn định lạm phát 40
3.2.3.

Thay đổi hình ảnh Việt Nam trên thị trường thế giới 41

PHỤ LỤC
1
Bản Tóm Tắt Đề Tài 1.

LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trong những năm qua nước ta liên tục đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, đó
không chỉ dựa vào yếu tố nội sinh, mà còn có sự tác động của yếu tố bên ngoài. Để đạt
được tốc độ tăng trưởng cao trong điều kiện tiết kiệm trong nước còn hạn chế, các
nước đang phát triển thường thu hút các nguồn vốn nước ngoài bằng nhiều cách khác
nhau, trong đó vay nợ là một phương thức phổ biến. Vay nợ nước ngoài bao gồm vay
nợ dưới hình thức vay vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) có tính chất ưu đãi và
vay thương mại theo các điều kiện thị trường. Chính nguồn vốn bổ sung từ bên ngoài
đã giúp nhiều quốc gia khắc phục tình trạng chậm phát triển và chuyển sang phát triển
bền vững.
Nợ nước ngoài phải được sử dụng một cách có hiệu quả để đáp ứng các nhu cầu
đầu tư, đồng thời phải thúc đẩy xuất khẩu tăng trưởng, nhằm tạo nguồn vốn trả nợ,
đảm bảo phát triển kinh tế bền vững. Tuy nhiên, cũng có không ít quốc gia không
những không cải thiện được một cách đáng kể tình hình kinh tế mà còn lâm vào tình
trạng nợ nần, khủng hoảng nợ và kinh tế suy thoái. Nguyên nhân của những thất bại
trong việc vay nợ nước ngoài cũng có rất nhiều, trong đó phải kể đến buông lỏng quản
lý nợ nước ngoài. Chính vì vậy chính sách quản lý nợ nước ngoài là một bộ phận thiết
yếu trong chính sách tài chính quốc gia.
Vấn đề quản lý nợ nước ngoài ở Việt Nam chỉ thực sự bắt đầu từ năm 1993 khi
nước ta chính thức thiết lập lại quan hệ hợp tác đa phương với các tổ chức tín dụng lớn

khủng hoảng nợ là một trong nhiều bộ phần cấu thành nên khủng hoảng kinh tế.
Để đảm bảo không rơi vào khủng hoảng nợ như các Mỹ Latinh trong thập niên
những năm 80, đòi hỏi Chính phủ phải có những biện pháp quản lý hiệu quả các nguồn
vốn vay nước ngoài. Chúng tôi nhận thấy rằng nợ nước ngoài có thể xem như là một
“con dao hai lưỡi”, vừa giúp các nước đang “thiếu vốn” tăng cường và đẩy mạnh phát
triển kinh tế, nhưng nếu các nước sử dụng không hợp lý “nguồn vốn ngoại sinh” đó sẽ
gây ra những tác động tiêu cực đến quá trình phát triển kinh tế bền vững.
Do đó, một vấn đề bức thiết đặt ra lúc này là đòi hỏi Chính phủ phải có những
“bước đi” hợp lý, đặc biệt trong việc vay, quản lý và trả nợ nước ngoài để tránh “bước
nhầm những vết xe đã đổ” của các nước đi trước. Với tính cấp thiết của vấn đề nên
chúng tôi đã chọn đề tài “Nợ nước ngoài ở Việt Nam - Thực trạng và giải pháp” làm
công trình nghiên cứu khoa học sinh viên của chính mình.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong quá trình nghiên cứu, song chúng tôi cũng
không thể nào tránh khỏi những thiếu sót. Chúng tôi rất mong nhận được được sự góp
ý chân thành của thầy cô và bạn đọc nhằm giúp cho đề tài được hoàn thiện hơn. 2.

ĐỐI TƯỢNG VÀ MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu: đề tài tập trung vào việc nghiên cứu hệ thống quản lý nợ
hiện hành và phân tích thực trạng quản lý nợ nước ngoài ở Việt Nam thông qua các chỉ
số kinh tế và chỉ số nợ nước ngoài trên giác độ vĩ mô.
Mục đích nghiên cứu: phạm vi nghiên cứu chủ yếu của đề tài tập trung vào công
tác quản lý nợ nước ngoài, các biến số và các chính sách có ảnh hưởng đến tính bền
vững của nợ nước ngoài giai đoạn 1995-2008. 3.


PHẦN MỞ ĐẦU 1.

LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trong những năm qua nước ta liên tục đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, đó
không chỉ dựa vào yếu tố nội sinh, mà còn có sự tác động của yếu tố bên ngoài. Để đạt
được tốc độ tăng trưởng cao trong điều kiện tiết kiệm trong nước còn hạn chế, các
nước đang phát triển thường thu hút các nguồn vốn nước ngoài bằng nhiều cách khác
nhau, trong đó vay nợ là một phương thức phổ biến. Vay nợ nước ngoài bao gồm vay
nợ dưới hình thức vay vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) có tính chất ưu đãi và
vay thương mại theo các điều kiện thị trường. Chính nguồn vốn bổ sung từ bên ngoài
đã giúp nhiều quốc gia khắc phục tình trạng chậm phát triển và chuyển sang phát triển
bền vững.
Nợ nước ngoài phải được sử dụng một cách có hiệu quả để đáp ứng các nhu cầu
đầu tư, đồng thời phải thúc đẩy xuất khẩu tăng trưởng, nhằm tạo nguồn vốn trả nợ,
đảm bảo phát triển kinh tế bền vững. Tuy nhiên, cũng có không ít quốc gia không
những không cải thiện được một cách đáng kể tình hình kinh tế mà còn lâm vào tình
trạng nợ nần, khủng hoảng nợ và kinh tế suy thoái. Nguyên nhân của những thất bại
trong việc vay nợ nước ngoài cũng có rất nhiều, trong đó phải kể đến buông lỏng quản
lý nợ nước ngoài. Chính vì vậy chính sách quản lý nợ nước ngoài là một bộ phận thiết
yếu trong chính sách tài chính quốc gia.
Vấn đề quản lý nợ nước ngoài ở Việt Nam chỉ thực sự bắt đầu từ năm 1993 khi
nước ta chính thức thiết lập lại quan hệ hợp tác đa phương với các tổ chức tín dụng lớn
trên thế giới như Ngân hàng Thế giới (WB), Quỹ Tiền tệ Thế giới (IMF) và Ngân hàng
Phát triển Châu Á (ADB). Song, cũng từ đó các cam kết hỗ trợ vốn ODA của các nước
công nghiệp phát triển và các tổ chức tín dụng quốc tế cho nước ta ngày càng tăng dần
về số lượng vay, số khoản vay, tính đa dạng của hình thức vay và trả nợ, vì thế việc
theo dõi và quản lý nợ nước ngoài cũng trở nên ngày càng bức thiết.

triển kinh tế, nhưng nếu các nước sử dụng không hợp lý “nguồn vốn ngoại sinh” đó sẽ
gây ra những tác động tiêu cực đến quá trình phát triển kinh tế bền vững.
Do đó, một vấn đề bức thiết đặt ra lúc này là đòi hỏi Chính phủ phải có những
“bước đi” hợp lý, đặc biệt trong việc vay, quản lý và trả nợ nước ngoài để tránh “bước
nhầm những vết xe đã đổ” của các nước đi trước. Với tính cấp thiết của vấn đề nên
chúng tôi đã chọn đề tài “Nợ nước ngoài ở Việt Nam - Thực trạng và giải pháp” làm
công trình nghiên cứu khoa học sinh viên của chính mình.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong quá trình nghiên cứu, song chúng tôi cũng
không thể nào tránh khỏi những thiếu sót. Chúng tôi rất mong nhận được được sự góp
ý chân thành của thầy cô và bạn đọc nhằm giúp cho đề tài được hoàn thiện hơn. 2.

ĐỐI TƯỢNG VÀ MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu: đề tài tập trung vào việc nghiên cứu hệ thống quản lý nợ
hiện hành và phân tích thực trạng quản lý nợ nước ngoài ở Việt Nam thông qua các chỉ
số kinh tế và chỉ số nợ nước ngoài trên giác độ vĩ mô.
Mục đích nghiên cứu: phạm vi nghiên cứu chủ yếu của đề tài tập trung vào công
tác quản lý nợ nước ngoài, các biến số và các chính sách có ảnh hưởng đến tính bền
vững của nợ nước ngoài giai đoạn 1995-2008. 3.

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đề tài đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

Thu nhập thông tin từ các nguồn cung cấp khác nhau.



1.1.

TỔNG QUAN VỀ NỢ NƯỚC NGOÀI
1.1.1.

Định nghĩa về nợ nước ngoài
Nợ nước ngoài là một khái niệm rộng lớn, chứa đựng nhiều yếu tố khác nhau. Do
đó để hiểu được khái niệm nợ nước ngoài, chúng ta cần phải tìm hiểu một số khái
niệm cơ bản.

Nợ là lượng tiền mà một công ty hoặc một cá nhân nợ một tổ chức hoặc
một cá nhân khác. Nợ phát sinh từ việc vay tiền để mua hàng hoá, dịch vụ và các tài
sản tài chính khác. Một khoản nợ được tạo ra khi người cho vay đồng ý cho người đi
vay một lượng tài sản nhất định.

Nợ xấu là một khoản tiền cho vay mà chủ nợ xác định không thể thu hồi
lại được và bị xoá sổ khỏi danh sách các khoản nợ phải thu của chủ nợ.
Với hai khái niệm cơ bản trên chúng ta có thể đi vào tìm hiểu thế nào là nợ nước
ngoài? Vậy thì một câu hỏi đặt ra lúc này là tại sao chúng ta phải tìm hiểu khía cạnh
nợ xấu trong nợ nước ngoài. Bởi lẽ chúng tôi muốn đi sâu nghiên cứu nợ nước ngoài
dưới giác độ “nợ không an toàn”.
Lịch sử kinh tế thế giới là một minh chứng hùng hồn nhất cho tấm thảm kịch nợ
không an toàn, đó là các cuộc khủng hoảng nợ xảy ra ở một số khu vực trên thế giới.
Hơn nữa, trong những năm vừa qua thế giới đã chịu ảnh hưởng nặng nề bởi cuộc
khủng hoảng kinh tế toàn cầu. Theo nhận định của nhiều chuyên gia hàng đầu trong
lĩnh vực kinh tế, năm 2009 là một năm đầy những khó khăn và thử thách cho kinh tế
thế giới do tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu, trong đó khủng hoảng nợ
là một bộ phận cấu thành khủng hoảng kinh tế.
Theo khoản 8 điều 2 quy chế vay và trả nợ nước ngoài (Ban hành kèm theo Nghị

và nợ tư nhân.
Nợ công và nợ tư nhân được Chính phủ bảo lãnh
Nợ công được định nghĩa là các nghĩa vụ nợ của các khu vực công và bao gồm
nợ của khu vực công cùng với nợ của khu vực tư nhân được khu vực công bảo lãnh.
Nợ nước ngoài của khu vực tư nhân được công quyền bảo lãnh được xác định là
các công nợ nước ngoài của khu vực tư nhân mà dịch vụ trả nợ được bảo lãnh theo hợp
đồng bởi một đối tượng thuộc khu vực công cư trú tại cùng một nền kinh tế với bên nợ
đó.
Nợ tư nhân
Loại nợ này bao gồm nợ nước ngoài của khu vực tư nhân không được khu vực
công của nền kinh tế đó bảo lãnh theo hợp đồng. Về bản chất đây là các khoản nợ do
khu vực tư nhân tự vay, tự trả.

Phân loại theo thời hạn vay: nợ ngắn hạn và nợ dài hạn.
Nợ ngắn hạn
Nợ ngắn hạn là loại nợ có thời gian đáo hạn từ một năm trở xuống. Vì thời gian
đáo hạn ngắn, khối lượng thường không đáng kể, nợ ngắn hạn thường không thuộc đối
tượng quản lý một cách chặt chẽ như nợ dài hạn. Tuy nhiên nếu nợ ngắn hạn không trả
được sẽ gây mất ổn định cho hệ thống ngân hàng. Đặc biệt khi tỷ trọng nợ ngắn hạn
trong tổng nợ có xu hướng tăng phải hết sức thận trọng vì luồng vốn rút ra đột ngột có
thể gây bất ổn cho nền tài chính quốc gia.
Nợ dài hạn
Nợ dài hạn là những công nợ có thời gian đáo hạn gốc theo hợp đồng hoặc đã
gia hạn kéo dài trên một năm tính từ ngày ký kết vay nợ cho tới ngày đến hạn khoản
thanh toán cuối cùng. Nợ dài hạn là loại nợ được quan tâm quản lý nhiều hơn do khả
năng tác động lớn đến nền tài chính quốc gia.

Phân loại theo loại hình vay: vay hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và vay
thương mại
– Vay hỗ trợ phát triển chính thức (ODA)

và liên chính phủ. Trong khi đó, nợ song phương đến từ Chính
phủ một nước như các nước thuộc tổ chức OECD
2
và các nước khác hoặc đến từ một
tổ chức quốc tế nhân danh một Chính phủ duy nhất dưới dạng hỗ trợ tài chính, viện trợ
nhân đạo bằng hiện vật
1.1.3.

Phân loại các nước theo mức độ nợ nước ngoài
Nhiều nước trên thế giới, nhất là các nước đang phát triển, đặc biệt là các nước
nghèo phải vay của nước ngoài để có tiền trang trải cho đầu tư phát triển đất nước và
một phần để tiêu dùng, ngoài ra còn một số trường hợp đặc biệt, như phải chi dùng cho
chiến tranh.
Các khoản nợ thường từ việc vay vốn từ bên ngoài, từ cán cân thương mại quốc
gia (trị giá xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ < trị giá nhập khẩu của hàng hoá và dịch
vụ). Theo quy luật thị trường, khi vay nợ thì phải có nghĩa vụ trả nợ, gồm nợ gốc và lãi
suất của khoản nợ gốc đó. Nếu không trả được nợ, sẽ đưa đất nước đến vỡ nợ và chẳng
có nước nào hoặc các tổ chức quốc tế thích tiếp tục cho vay, tiếp tục phát triển quan hệ
buôn bán, đầu tư vào các nước có tỷ lệ nợ cao (ngoài trừ trường hợp chính trị, hoặc sự
ràng buộc của các hiệp định song phương, đa phương đã ký kết trước đây).
Để đánh giá mức độ nợ của các quốc gia, Ngân hàng Thế giới (WB) đã đưa ra một
số tiêu chuẩn để đánh giá nợ nước ngoài của các quốc gia đó:
Căn cứ vào GNI
3
bình quân đầu người, chia các nước ra thành một số nhóm:
Các nước có thu nhập thấp (dưới 761 USD/năm), các nước có thu nhập trung bình thấp
(từ 761 đến 3030 USD/năm), các nước có thu nhập trung bình cao (từ 3031 đến 9360
USD/năm), các nước có thu nhập cao (trên 9360 USD/năm). Các nước có thu nhập cao
thì khả năng trả nợ cao, hoặc không là nước đi vay mà còn là nước cho vay.
Căn cứ vào khả năng thanh toán, thì chia ra: Các nước có khả năng thanh toán


khẩu
(XK)

Chi phi
trả

nợ/XK

Chi phí trả
nợ/GNI
Lãi/XK
Nợ quá nhiều >50 >275 >30 >4 >20
Nợ vừa phải 30 - 50 165 - 275 18 - 30 4 12 - 20
Nợ ít <30 <165 <18 <4 <12
Nguồn: Tổng Cục thống kê
Việc phân loại theo mức độ nợ này có chủ ý chỉ ra rằng các nước nếu rơi vào
các
nước nợ quá nhiều thì khả năng trả nợ là rất khó khăn, thậm chí trong đó các
nước
không có khả năng trả nợ. Liên Hợp Quốc đã lập danh sách các nước nghèo, nợ
nần
quá nhiều (HIPCs) trên toàn thế giới, bao gồm 24 nước, hầu hết ở châu Phi và một
số
nước ở khu vực Mỹ Latinh. Với không ít nước thuộc nhóm nợ vừa phải, nhưng
cũng
không có khả năng thanh toán, thì các nhà tài chính và ngân hàng của các nước
này
phải thay mặt Chính phủ để đi thương lượng nhằm kéo dài thời gian trả nợ, có thể
xin

xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ là phương tiện mà một quốc gia có thể sử dụng để trả
nợ nước ngoài. Những khó khăn khi sử dụng chỉ tiêu này là: Nguồn thu xuất khẩu dễ
biến động từ năm này sang năm khác, ngoài ra cũng có những phương án khác để
nước con nợ có thể sử dụng để trả nợ nước ngoài mà không nhất thiết phải tăng xuất
khẩu.

Tỷ lệ nợ nước ngoài so với thu nhập quốc gia
Nợ/GNI: Đây là chỉ tiêu đánh giá khả năng trả nợ thông qua thu nhập quốc dân
được tạo ra. Hay nói cách khác, nó phản ánh khả năng hấp thụ vốn vay nước ngoài.
Thông thường các nước đang phát triển thường đánh giá cao giá trị đồng nội tệ hoặc sử
9 dụng chế độ đa tỷ giá dẫn tới làm giảm tình trạng trầm trọng của nợ. Do vậy, tình trạng
nợ có thể không được đánh giá đúng mức.

Tỷ lệ trả nợ
Tổng nợ phải trả hàng năm/Kim ngạch thu xuất khẩu: Còn gọi là tỷ lệ dịch vụ
nợ

(nợ gốc và lãi phải thanh toán so với giá trị xuất khẩu). Đây là một tiêu chí quan trọng,
phản ánh quan hệ giữa nghĩa vụ nợ phải trả so với năng lực xuất khẩu hàng hoá và
dịch vụ của quốc gia đi vay.

Tỷ lệ trả lãi
Tổng lãi phải trả hàng năm/Kim ngạch thu xuất khẩu: Còn gọi là tỷ lệ dịch vụ
lãi

hay tỷ lệ giữa tổng lãi phải trả so với kim ngạch xuất khẩu. Một quốc gia phải thanh
toán lãi với mức lãi suất được quy định trong cam kết cho vay, thông thường lãi này

nước ngoài cũng có thể làm thay đổi cơ cấu nền kinh tế bằng việc đầu tư vào các
ngành mũi nhọn, tạo đà cho nền kinh tế phát triển.
Nguồn vốn vay nước ngoài là nguồn lực bổ sung để phát triển kinh tế khi mà sản
xuất trong nước chỉ đủ duy trì ở mức tiêu dùng thấp. Với việc đi vay nước ngoài, một
quốc gia có cơ hội đầu tư phát triển ở mức cao hơn tại thời điểm hiện tại mà không
giảm tiêu dùng trong nước. Như vậy, đối với các quốc gia đang phát triển, việc sử
dụng nguồn vốn vay nước ngoài về bản chất là vấn đề cân đối giữa tiêu dùng trong
hiện tại với tiêu dùng trong tương lai. Việc vay nợ nước ngoài chỉ có thể có hiệu lực
nếu như bản thân nó đảm bảo không ảnh hưởng nghiêm trọng đến tiêu dùng của thế hệ
tương lai.
1.1.5.2.

Nợ nước ngoài góp phần chuyển giao công nghệ và nâng cao năng
lực quản lý
Bên cạnh việc dùng các nguồn lực tự có để nhập khẩu các máy móc, thiết bị kèm
theo chuyển giao công nghệ và kỹ năng quản lý, việc vay vốn nước ngoài góp phần bổ
sung thêm nguồn vốn để nhập các máy móc, thiết bị hiện đại, công nghệ tiên tiến cùng
10 với kỹ năng quản lý nước ngoài. Các dự án đã góp phần hiện đại hoá nhiều ngành, lĩnh
vực, thúc đẩy các ngành, lĩnh vực khác phát triển theo, tạo ra một lực lượng lao động
mới, lao động kỹ thuật cao và góp phần thúc đẩy hiệu quả của nền kinh tế. Cùng với
các dự án đầu tư là việc chuyển giao kỹ năng quản lý của các chuyên giá nước ngoài.
1.1.5.3.

Nợ nước ngoài ổn định tiêu dùng trong nước
Khi có những cơn sốc đột ngột giáng vào nền kinh tế, sản lượng bị thiếu hụt nặng
nề và tiêu dùng trong nước bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Chẳng hạn, những đợt thiên tai
liên tiếp dẫn đến ngành nông nghiệp bị mất mùa lớn, khủng hoảng tài chính làm ảnh

chính, các công ty bảo hiểm. Tuy nhiên, khủng hoảng nợ cũng tác động không nhỏ đến
cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu.
Ảnh hưởng rõ nét nhất của cuộc khủng hoảng nợ là nợ dưới chuẩn của các ngân
hàng và các tổ chức tài chính, chịu ảnh hưởng do tác động việc “đóng băng” thị trường
bất động sản. Theo Nghiên cứu sinh Hồ Quốc Tuấn, Đại học Manchester – Anh quốc,
thì các nước cần đặc biệt chú ý đến vần đề “bong bong ngân sách” trong cuộc khủng
hoảng kinh tế hiện nay. Bởi lẽ, các nước có thể dùng Ngân sách Nhà nước để kích
thích đầu tư, kích thích tiêu dùng giúp cho nước mình nhanh vượt qua khủng hoảng,
nhưng phải xem xét tính khả thi của các dự án đầu tư, không nên dàn trải quá nhiều mà
chỉ nên tập trung vào các dự án trọng điểm, góp phần thúc đẩy các vùng và khu vực
lân cận phát triển. Tính hiệu quả của các dự án cần đảm bảo ở yếu tố phục hồi kinh tế
nhanh, tránh để các nước sau khi vượt qua được cuộc khủng hoảng này, lại rơi vào
cuộc khủng hoảng khác, nghiêm trọng và “tàn phá” hơn nhiều.
11 Vậy khủng hoảng nợ là gì? Khủng hoảng nợ là tình trạng một quốc gia
phải đề nghị thương thảo lại về các thoả thuận vay nợ, hoãn trả lãi và vốn gốc, phải
nhận một khoản tài trợ chính thức từ Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF).
Một nghiên cứu gần đây của IMF đã định nghĩa một quốc gia được xem là lâm
vào khủng hoảng nợ khi nó bị Standard & Poor
5
xếp vào hạng “không thể chi trả”
hoặc nhận được một khoản cho vay lớn, vượt quá 100% hạn mức ấn định trước từ
IMF. Như vậy, định nghĩa này bao gồm những trường hợp “gần khủng hoảng” tức là
không có khả năng chi trả nhưng nhờ IMF vẫn trả được nợ.
1.2.2.

Việc quản lý nợ nước ngoài ở Việt Nam
Việc quản lý nợ nước ngoài trong bối cảnh nền kinh tế thế giới có nhiều biến


Xây dựng chiến lược và kế hoạch vay trả nợ nước ngoài
Một trong những công cụ quản lý nợ nước ngoài là chiến lược và kế hoạch vay trả
nợ. Chiến lược vay trả nợ được lập trong dài hạn, trong khi kế hoạch vay trả nợ được
lập trong trung hạn.
Chiến lược vay trả nợ nước ngoài là văn kiện đưa ra mục tiêu, định hướng, các
giải pháp, chính sách đối với quản lý nợ nước ngoài của quốc gia, được xây dựng 5

Một trong những công ty đánh giá tín nhiệm nổi tiếng trên thế giới.
12 trong chiến lược tổng thể về huy động vốn đầu tư cho nền kinh tế, phù hợp với chiến
lược phát triển kinh tế - xã hội 5 năm và 10 năm của đất nước.
Chương trình quản lý nợ trung hạn là văn kiện cụ thể hoá nội dung chiến lược nợ
dài hạn cho giai đoạn từ 3 hoặc 5 năm, được cập nhật từng năm, phù hợp với khuôn
khổ chính sách kinh tế, tài chính và với mục tiêu ngân sách trung hạn và hàng năm của
Chính phủ.

Ban hành khung chể thế, xây dựng cơ chế, tổ chức bộ máy quản lý nợ nước
ngoài
Một trong những nhiệm vụ của Nhà nước trong quản lý nợ nước ngoài là xây dựng
được một khuôn khổ pháp lý và thể chế cho quản lý nợ nước ngoài, trong đó có sự
phân định rõ ràng giữa trách nhiệm và quyền hạn của các cơ quan chức năng được ủy
quyền thay mặt Chính phủ trong việc vay, trả nợ, phát hành bảo lãnh và thực hiện các
giao dịch tài chính như cho vay lại.
Khung pháp lý về quản lý nợ nước ngoài: sự phân định giữa trách nhiệm và quyền

hiệu quả. Tổng hợp các chính sách vay nợ và chính sách vĩ mô đảm bảo việc duy trì
tính bền vững của nợ nước ngoài được gọi là chính sách nợ bền vững.
13 1.2.2.3.

Các nhân tố ảnh hưởng đến nợ vay, chi phỉ sử dụng vốn
Việc vay nợ nước ngoài có tầm quan trọng nhất định đến sự phát triển của các
quốc gia đang phát triển. Tuy nhiên một yếu tố có tính quyết định đến việc sử dụng nợ
có hiệu quả hay không chính là chi phí sử dụng nợ.
Chi phí sử dụng nợ là giá mà một quốc gia phải trả cho việc sử dụng vốn vay. Giá
phải trả này ngoài tiền lãi phải trả định kỳ, quốc gia còn phải tra chi phí môi giới, chi
phí phát hành nợ (chi phí phát hành trái phiếu), hoặc những chi phí vô hình là những
ràng buộc của quốc gia cho vay (nợ ưu đãi). Nếu quản lý nguồn vốn này không hiệu
quả, một phần không nhỏ sẽ bị mất đi cho tham nhũng, lãng phí…
Chi phí sử dung nợ có thể gia tăng do những biến động của kinh tế thế giới cũng
như sự thiếu linh hoạt của cơ quan điều hành vĩ mô trong chính sách tài chính - tiền tệ,
bởi vì xét về nợ vay, thời gian là yếu tố quan trọng dẫn đến gia tăng rủi ro của khoản
vay đó, trong suốt khoản thời gian đi vay có thể xảy ra những biến cố có lợi hoặc bất
lợi đến các khoản vay đó, nhất là nợ vay nước ngoài. Những yếu tố đó là rủi ro về tỷ
giá hối đoái, lãi suất thị trường, lạm phát và những rủi ro quốc gia khác.

Tỷ giá hối đoái
Trong mô hình tiết kiệm đầu tư, tỷ giá hối đoái giữ vai trò quan trọng trong việc
giải thích các biến động trong tài khoản vãng lai. Nếu người ta dự đoán được rằng có
sự sụt giá thực sự của đồng nội tệ thì các hộ gia đình có thể rủ nhau đi mua hàng nhập
khẩu có thể dự trữ được lâu, điều này làm cho mức tiết kiệm có thể giảm đi. Còn nếu
đồng nội tệ tăng giá tạm thời có thể đánh giá sai lệch về tỷ suất sinh lợi thực của nhà
đầu tư.

London Interbank Offerring Rate – Lãi suất cho vay liên ngân hàng ở London.
7

Singapore Interbank Offerring Rate – Lãi suất cho vay liên ngân hàng ở Singapore.
14
Lạm phát
Lạm phát là vấn đề khó khăn luôn gặp phải tại các quốc gia đang phát triển. Mức
lạm phát này thường cao hơn lạm phát của các nước chủ nợ là các quốc gia đã phát
triển. Theo thuyết ngang giá lãi suất, lạm phát trong nước cao hơn so với lạm phát
nước ngoài thì tỷ giá hối đoái sẽ tăng lên để bù lại khoản chênh lệch đó và như phân
tích ở phần tỷ giá hối đoái, điều này có thể làm gia tăng mức nợ vay thực tế.

Rủi ro quốc gia
Rủi ró quốc gia là những biến cố có thể xảy ra đối với các quốc gia như thể chế
chính trị, chiến tranh, tình hình an ninh xã hội… Điều này được lượng hoá thông qua
hệ số tín nhiệm của các quốc gia này. Hiện any hầu hết các quốc gia đều thành lập cho
mình một tổ chức để xếp hạng rủi ro doanh nghiệp và rủi ro quốc gia.
1.3.

KINH NGHIỆM QUẢN LÝ NỢ NƯỚC NGOÀI CỦA MỘT SỐ NƯỚC
TRÊN THẾ GIỚI VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO
VIỆT

NAM

1.3.1.


Năm 1982, khủng hoảng nợ bùng nổ, bắt đầu bằng việc Mexico tuyên bố không
thể thực hiện nghĩa vụ thanh toán. Trong khoảng từ năm 1976 đến năm 1981, doanh
thu từ xuất khẩu dầu mỏ hàng năm của Mexico tăng từ 600 triệu đôla lên 14 tỷ đôla.
15 Tuy nhiên, cùng lúc đó nhập khẩu tăng 30%/năm, tạo nên lượng thâm hụt cán cân
thanh toán 12,5 tỷ đôla vào năm 1981. Để tài trợ cho thâm hụt này, cả khu vực công
lẫn khu vực tư nhân ở Mexico đều đi vay nợ nước ngoài, phần lớn là vay ngắn hạn.
Tình trạng nợ càng trở nên trầm trọng khi các nước Mỹ Latinh lại bị “chảy máu
vốn”, khi dòng vốn chảy ra nước ngoài của các nước này lên đến 151 tỷ đôla trong giai
đoạn 1973 - 1985, bằng 40% tổng nợ của các nước này. Như vậy, một thực tế nghịch
lý xảy ra khi các nước không sử dụng lượng vốn nước ngoài để đầu tư phát triển trong
nước và tạo ra nhiều công ăn việc làm cho người dân trong nước mình. Chính sự vô lý
này đã khiến các nước châu Mỹ Latinh rơi vào tình trạng “rối loạn” hơn, do không thể
tạo được một “lượng cân bằng”, đủ bù đắp cho lượng vốn vay nước ngoài, làm cho
tình trang thâm hụt ngân sách ngày càng trầm trọng hơn.
Dòng vốn chảy ra nước ngoài đã khiến tỷ giá hối đoái giảm ở một số nước trong
khu vực, do đó làm tăng lãi suất lãi suất thực ở các nước này. Các ngân hàng bắt đầu
đòi nợ. Số lãi nợ không trả được lại được các ngân hàng cộng vào vốn gốc. Cứ như
vậy, lượng lãi phải thanh toán của các nước Mỹ Latinh tăng vọt. Vào năm 1984, lãi nợ
phải trả bằng 5% GNP của toàn khu vực.
Khủng hoảng nợ ở các nước Mỹ Latinh để lại những bài học đắt giá về sử dụng
nguồn vốn vay nước ngoài, trong đó có nguồn vốn ODA. Khủng hoảng là đỉnh cao của
những mất cân đối tích tụ trong nhiều năm, do chính sách kinh tế dựa quá nhiều vào
nguồn vốn vay nước ngoài và buông lỏng quản lý nguồn vốn này. Trên thực tế, tăng
trưởng kinh tế ở các nước Mỹ Latinh giai đoạn 1960 - 1970 được tài trợ bằng cách đi
vay, một nửa là vay ODA. Đồng thời, quá nhiều vốn vay đã được sử dụng để bù đắp
cho các khoản tiêu dùng và đầu tư kém hiệu quả của Chính phủ và khối kinh tế công
cộng. Các Chính phủ cũng thiếu sự quan tâm cần thiết đối với sự ổn định kinh tế vĩ

“yếu tố dẫn đầu”, đã gây ra tác động “tâm lý lan truyền” sang các nước khác. Cộng
thêm nạn quan liêu, tham nhũng… đã đẩy các nhà đầu tư nước ngoài “ra xa”.
Bên cạnh đó, một vần đề làm cho yếu tố nợ nước ngoài ở các nước châu Á trở nên
trầm trọng thêm là vấn đề tỷ giá hối đoái. Theo Giáo sư Paul A. Samuelson, “bàn tay
vô hình” là một chính sách thích hợp cho mọi nền kinh tế, nhất là các nước có khuynh
hướng theo tư bản tài chính. Thị trường là một “công cụ” giúp điều chỉnh các chính
sách vĩ mô một cách hợp lý nhất. Và trong bối cảnh kinh tế thế giới đầy biến động,
Nhà nước chỉ được xem như một “thực thể” quản lý xã hội, hơn là tham gia điều chỉnh
nền kinh tế tài chính của quốc gia mình.
Vấn đề tỷ giá hối đoái ở các nước châu Á vào thời điểm 1997 - 1998 đã “thực
hiện đầy đủ sứ mạng” của mình khi quá tôn sùng vào lý thuyết “bàn tay vô hình”.
Chính việc để cho tỷ giá tự động điều chỉnh theo thị trường, không có sự can thiệp của
Chính phủ, đã đẩy tỷ giá hối đoái là “món mòi ngon” cho các nhà đầu cơ - đặc biệt là
các nhà đầu cơ chuyên nghiệp, mang tầm cỡ quốc tế. Chính các nhà đầu cơ này đã
thao túng thị trường tài chính của các nước trong một thời gian dài, làm cho thị trường
hối đối của các nước mất cân bằng giữa cung và cầu. Khi Chính phủ kịp nhận ra và
điều chỉnh bằng cả chính sách và lượng – ý đề cập đến lượng ngoại tệ Chính phủ “tung
ra” để điều tiết thị trường – thì mọi chuyện đã quá trễ. Tỷ giá liên tục leo thang, khiến
cho Chính phủ các nước không thể kìm giữ được, buộc phải phá giá đồng tiền quốc gia
mình.
Chính sách tài khoá và chính sách tiền tệ cần được Chính phủ thực hiện đồng bộ
trong ngắn hạn cũng như trong dài hạn. Chính việc để cho hai chính sách này lệch pha
trong thời gian dài đã đẩy tình hình nợ của các nước thêm trầm trọng. Sự chênh lệch
giữa lãi suất quốc gia của các nước và lãi suất quốc tế đã đưa các nước vào vòng xoáy
“lãi suất”. Yếu tố lãi suất có sự chênh lệch lớn cũng là một nguyên nhân khiến các nhà
đầu tư nước ngoài tham gia vào thị trường của các nước, bên cạnh các yếu tố khác như
tài nguyên thiên nhiên, nguồn nhân lực dồi dào với chi phí rẻ. Khi lãi suất không còn
là “mãnh đất màu mỡ” cho các nhà đầu tư và cả nhà đầu cơ thực hiện chênh lệch lãi
suất, thì theo quy luật thị trường họ sẽ rút vốn ra khỏi các nước, không chỉ một phần,
mà thậm chí là toàn bộ.

quốc tư bản như Mỹ, Anh, Pháp, Nhật… nhưng hiện nay các nước này cũng đang chịu
tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế - tài chính toàn cầu nên lượng vốn nước ngoài
đổ vào các nước có phần hạn chế.
Bên cạnh đó, vần đề quản lý nợ nước ngoài được đặt ra như một vấn đề cấp thiết
trong “cơn lốc” khủng hoảng hiện nay. Nợ nước ngoài dường như luôn ẩn chứa trong
nó là một “con dao hai lưỡi”, vừa giúp các nước phát triển kinh tế, khắc phục tình
trạng thiếu “tư bản”, nhưng đồng thồi cũng đặt ra yêu cầu cấp bách của việc quản lý
nợ nước ngoài, bởi lẽ khác với yếu tố “nội sinh”, “ngoại sinh” luôn hàm chứa nhiều
“tính hệ lụy bất tương xứng” - giữa nước đầu tư và nước nhận đầu tư.

Phối hợp thực hiện các chính sách vĩ mô đảm bảo cho chính sách nợ bền
vững
Việc hoạch định và thực thi các chính sách vĩ mô như chính sách tài khoá, chính
sách tiền tệ để tạo sự ổn định kinh tế vĩ mô là một việc làm vô cùng quan trọng để đảm
bảo chính sách nợ bền vững.
Duy trì tỷ giá hối đoái ở mức cạnh tranh cũng là một vấn đề căn bản để khuyến
khích xuất khẩu, giảm lệ thuộc quá nhiều vào nhập khẩu.
Bài học về chính sách phát triển cộng đồng giữa khối công cộng và khối tư nhân
cũng là một vấn đề đáng được tranh luận. Doanh nghiệp nhà nước dường như là một
yếu tố chủ đạo cho phát triển kinh tế ở các nước theo khuynh hướng tả khuynh. Nhưng
một thực tế đã chỉ ra rằng không phải doanh nghiệp nhà nước nào cũng thành công
trong việc kinh doanh, việc bảo tồn nguồn vốn ban đầu đã là một yêu cầu dường như
quá sức với các doanh nghiệp nhà nước, chứ đừng nói chi là làm tăng nguồn vốn đó.
Yếu tố tư nhân nổi lên như một cú cánh cho sự phát triển của các nước, góp phần tạo
ra nhiều việc làm cho người lao động, góp phần làm giảm đáng kể các tệ nạn xã hội,
tạo nên một màu sắc riêng có trong sự hài hoà của nhiều gam màu khác, “gam màu
nóng” của kinh tế nhà nước.
Bài học rút ra từ nguyên nhân của cuộc khủng hoảng cho thấy vai trò của Chính
phủ trong việc điều hành kinh tế vĩ mô trong việc định hướng phát tirển kinh tế vĩ mô,
không chỉ trong ngắn hạn, mà còn trong trung và dài hạn. Những sai lầm trong việc

Chương 1 đã tổng kết những vấn đề khái quát về vấn đề nợ nước ngoài. Nợ nước
ngoài là một bộ phận quan trọng có vai trò to lớn trong sự phát triển kinh tế của yếu tố
nợ. Chúng ta nhận thấy rằng nợ nước ngoài là một “chất xúc tác” quan trọng đối với
các nhất, nhất là các nước đang phát triển. Yếu tố nợ nước ngoài hoà chung trong tổng
thể sự phát triển kinh tế của các nước. Để đảm bảo yếu tố nợ nước ngoài phát huy tác
dụng, Chính phủ các nước cần có các chính sách vay và quản lý nợ một cách thích
hợp.
Phải nhìn nhận thực tế là nợ nước ngoài nếu được quản lý tốt sẽ góp phần kích
thích nền kinh tế của các nước phát triển hơn. Nhưng nếu không được quản lý tốt hoặc
buông lỏng quản lý thì nợ nước ngoài sẽ sinh ra những tác động tiêu cực, ảnh hưởng
đến yếu tố bền vững của nền kinh tế, thậm chí có thể gây ra khủng hoảng nợ. Khủng
hoảng nợ nằm trong khủng hoảng kinh tế, nhưng bản thân khủng hoảng nợ có những
dấu hiệu riêng, tầm ảnh hưởng riêng đến nền kinh tế của các nước.
Thực tế lịch sử kinh tế của các nước, đặc biệt là các nước Mỹ Latinh và cuộc
khủng hoảng kinh tế tài chính ở châu Á năm 1997-1998, là một bài học “thương đau”
cho sự buông lỏng quản lý nợ nước ngoài của Chính phủ các nước. Không phải không
có những nước sử dụng tốt nợ nước ngoài - ví dụ như Trung Quốc, Malaysia. Đây là
những nước có chính sách quản lý nợ nước ngoài hợp lý, đặc biệt là rất mạnh tay với
nạn tham nhũng, nên đã hạn chế thấp nhất những tiêu cực có thể xảy ra.
Quản lý nợ nói riêng hay quản lý vĩ mô nền kinh tế là những đòi hỏi khách
quan

của Chính phủ các nước. Vấn đề quản lý nổi lên như một yêu cầu cấp bách trong thời
điểm hiện nay - thời điểm của “cơn bão” khủng hoảng kinh tế tài chính – đang hoành
hành trên thế giới. Quản lý chỉ thực sự phát huy tác dụng khi công tác dự báo tốt đi
kèm đó là tầm nhìn chiến lược trong dài hạn của các nhà đạo cấp cao.
19 Chương 2: THỰC TRẠNG VỀ VIỆC QUẢN LÝ NỢ NƯỚC

được Chính phủ áp dụng)

NỢ ODA
Quan hệ hợp tác phát triển giữa Chính phủ Việt Nam với các tổ chức tài chính thế
giới và Chính phủ các nước được xây dựng và phát triển từ rất sớm. Việt Nam nhận
được nhiều khoản hỗ trợ phục vụ cho quá trình ổn định và phát triển kinh tế - xã hội,
thực hiện các mục tiêu mà Quốc hội đã đặt ra trong các giai đoạn khác nhau. Trong các
khoản hỗ trợ đó, nợ ODA là khoản nợ vay nước ngoài chủ yếu của Chính phủ trong
suốt một thời gian dài.
Trong tổng số vốn ODA cam kết mà chúng ta nhận được giai đoạn 1993 - 2007,
khoảng 15 – 20% là viện trợ không hoàn lại, còn phần lớn là vốn cho vay ưu đãi đối
với Chính phủ. Nguồn vốn ODA huy động được sử dụng để bổ sung cho đầu tư phát
triển kinh tế - xã hội, chiếm khoảng 12% tổng đầu tư toàn xã hội, bằng 28% tổng vốn
đầu tư từ Ngân sách Nhà nước (NSNN), bằng 50,5% vốn tín dụng đầu tư phát triển của
Nhà nước.
Trong số 51 nhà tài trợ thường xuyên cho Việt Nam, có 28 nhà tài trợ song
phương và 23 nhà tài trợ đa phương, có 3 nhà tài trợ cung cấp chủ yếu là Nhật Bản,
Ngân hàng Thế giới (WB) và Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB), chiếm khoảng 80%
tổng giá trị ODA đã ký kết.
Mức cam kết ODA hàng năm điều tăng, năm sau cao hơn năm trước. Điều này thể
hiện sự tin tưởng, ủng hộ mạnh mẽ của cộng đồng quốc tế đối với quá trình xây dựng
và phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam. Đó vừa là thuận lợi nhưng cũng đầy thử
thách cho các nhà hoạch định chính sách vĩ mô, đặc biệt là Chính phủ, đòi hỏi các vị
lãnh đạo phải có một kế hoạch đúng đắn và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn này.
Yêu cấp đối với việc sử dụng nguồn vốn ODA là phải phát huy hiệu quả không chỉ
trong ngắn hạn mà còn phải hữu hiệu trong trung và dài hạn, nghĩa là thế hệ mai sau
phải được hưởng những thành quả do nguồn vốn ODA này mang lại. Điều đó càng
làm cho nguồn vốn ODA càng có giá trị cho các nước đang phát triển – các nước cần
một lượng lớn vốn nhưng thiếu đi nguồn lực này, do việc “tích tụ tư bản” trong nước
còn thấp.

nó được kết hợp hiệu quả với các nguồn lực trong nước khác để đạt được mục tiêu
quốc gia trong từng thời kỳ nhất định. Đối với các nhà tài trợ, ODA sẽ trở thành nguồn
vốn viện trợ thật sự nếu nó được chuyển giao cho nước tiếp nhận để gián tiếp hay trực
tiếp tạo ra các điều kiện cho phát triển. Từ những tác động của nguồn vốn này trong
thời gian qua, có thể khẳng định ODA ở Việt Nam đã trở thành một nguồn vốn thực sự
và hiệu quả trong tiến trình đổi mới đất nước. Tuy nhiên, bên cạnh những thành công
trong thu hút và sử dụng vốn ODA, còn tồn tại nhiều vấn đề mà Việt Nam cần phải
giải quyết để sử dụng nguốn vốn này có hiệu quả hơn trong tương lai.
21 Hình 2.2: Cơ cấu ODA theo ngành và lĩnh vực (Thời kỳ 1993 – 2008)

VAY THƯƠNG MẠI

Chính phủ vay nợ nước ngoài về cho vay lại
Để đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế - xã hội và chuyển dịch cơ cấu kinh tế,
trong thời gian qua Chính phủ đã sử dụng một phần vốn ODA vay nợ nước ngoài để
cho vay lại đối với các dự án, các chương trình đầu tư có khả năng hoàn vốn của các
Bộ, các địa phương. Tỷ lệ cho vay lại chiếm khoảng 45% tổng số vốn vay ODA của
Chính phủ.
Bên cạnh vốn vay ODA, Chính phủ còn cho vay lại bằng khoản vay thương mại
đối với các doanh nghiệp nhằm thực hiện các chiến lược phát triển kinh tế.
Cho vay lại của Chính phủ được thực hiện chủ yếu thông qua 2 công cụ, Quỹ Hỗ
trợ Phát triển (nay là Ngân hàng Phát triển Việt Nam) và các ngân hàng thương mại.
Một số dự án được thực hiện nhờ hoạt động cho vay lại của Chính phủ là dự án phát
triển ngành công nghiệp đóng tàu của Vinashin (750 triệu USD), dự án nâng cao hiệu

của các cơ quan trung ương thực hiện trên địa bàn.
Nhìn hình 2.3, ta thấy vốn vay của chính quyền địa phương chủ yếu là ở khu vực
đồng bằng Bắc bộ (34,4%). Điều này cũng phù hợp với quy hoạch phát triển vùng,
miền trên địa bàn cả nước vì khu vực này có tiềm năng kinh tế rất lớn nhưng chưa
được khai thác hiệu quả.
Hình 2.3: Vốn vay nước ngoài của các vùng,
miền
PHÁT HÀNH TRÁI PHIẾU QUỐC TẾ
Sau một giai đoạn chuẩn bị, ngày 27/10/2005, Chính phủ đã chính thức phát hành
trái phiếu trên thị trường chứng khoán New York với tổng số vốn huy động được là
750 triệu USD, lãi suất 7,125%/năm, thời hạn 10 năm. Đợt phát hành trái phiếu chính
phủ (TPCP) lần đầu tiên ra thị trường vốn quốc tế đã giúp Việt Nam đa dạng hoá

lượng nợ nước ngoài.
Trong cơ cấu nợ nước ngoài, chủ yếu là nợ trung và dài hạn nhằm đáp ứng nhu
cầu đầu tư dài hạn vào cơ sở hạ tầng. Các khoản nợ do Chính phủ bảo lãnh cũng chiếm
tỷ trọng không đáng kể trong tổng số nợ nước ngoài của Chính phủ (trung bình nợ
Chính phủ bảo lãnh chiếm khoảng 7%).
2.1.2.

Tình hình vay nợ nước ngoài của Việt Nam
Với nền tảng của một nước nông nghiệp, lạc hậu tiến lên xây dựng xã hội chủ
nghĩa (XHCN), xuất phát điểm trong nước còn thấp, mất cân đối giữa tiết kiệm - đầu
tư. Việt Nam với xuất điểm của một nước nghèo nàn, thiếu nhiều về tư bản cũng như
yếu tố trình độ khoa học công nghệ còn lạc hậu nhưng Việt Nam luôn phải đối mặt với
những vấn đề tham nhũng, thâm hụt tài khoản vãng lai, cán cân thanh toán. Do đó,
chúng ta phải tìm các nguồn tài trợ từ bên ngoài để bù đắp cho vấn đề thâm hụt và phát
triển kinh tế đất nước.
Năm 1991 là một năm đầy biến động cho tình hình chính trị thế giới. Với việc sụp
đổ hệ thống XHCN ở Liên Xô và kéo theo là các nước Đông Âu cũng lần lượt tuyên
bố xây dựng đất nước theo con đường tư bản chủ nghĩa (TBCN). Và với việc Liên Xô
sụp đổ - một trong những chủ nợ lớn nhất của Việt Nam – đã có những tác động to lớn
đến tình hình nợ nước ngoài của Việt Nam. Do đó, khi phân tích tình hình vay nợ nước
ngoài của Việt Nam, chúng tôi sẽ lấy mốc năm 1991 làm nền tảng cho việc phân tích
tình hình nợ nước ngoài của Việt Nam trong những năm qua.

Tình hình vay nợ của Việt Nam trước năm 1991
Trước năm 1991, khi Hội đồng tương trợ kinh tế (CMEA) chưa tan rã, thì nợ Việt
Nam là rất lớn do được hưởng nhiều ưu đãi của tổ chức này, chủ yếu vay từ Liên Xô
và các nước Đông Âu với lãi suất ưu đãi. Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới
(WB), riêng năm 1991, nợ nước ngoài của Việt Nam ở mức 23 tỷ USD, đây là mức nợ
đáng báo động trong tình trạng nền kinh tế quốc gia còn nghèo, mức thu nhập nội địa
còn thấp.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status