đánh giá thực trạng và hướng phát triển kinh tế trang trại vùng cát ven biển ở thừa thiên huế - Pdf 13

Khoá luận tốt nghiệp Võ Văn Chí, KN37
PHẦN 1: ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là một nước nông nghiệp với hơn 80% dân số sống ở khu vưc nông
thôn và đại bộ phận làm nông nghiệp. Cho nên, nông nghiệp góp vai trò quan
trọngvào sự nghiệp phát triển của cả nước nói chung và ngườI dân nông dân nói
riêng. Đất nước ta đã và đang thời kì thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá, sự
chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn có một vai trò đặc biệt quan
trọng. Cụ thể, sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế như là: phát triển ngành nghề tiểu thủ
công nghiệp, sản xuất cây trồng, vật nuôi theo hướng hàng hoá, chuyên canh các
vùng cây công nghiệp, trồng cây ăn quả, kinh tế trang trại, đánh bắt nuôi trồng
thuỷ hải sản… trong đó, kinh tế trang trại rất được chú trọng đầu tư và phát triển
trên cơ sơ kinh tế hộ. với xu thế phát triển của đất nước, kinh tế hộ sản xuất theo
hướng tự cung tự cấp không còn phù hợp thay vào đó là sự phát triển kinh tế trang
trai theo hướng sản xuất hàng hoá. Đặc biệt, các trang trại sản xuất và kinh doanh
nông nghiệp đã tạo ra sản phẩm với số lượng lớn, giá trị cao hơn hẳn so với kinh
tế hộ gia đình. Có thể nói rằng, kinh tế trang trại đã đáp ứng nhu cầu sản xuất nông
- lâm - ngư theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, áp dụng các tiến bộ khoa
hoc kỹ thuật công nghệ vào để nâng cao hiệu quả kinh tế, khai thác tối đa các
nguồn lực (vốn, đất đai, lao động ). Hiện nay, trong cả nước hình thành nhiều
trang trại trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ hải sản…làm ăn có
hiệu quả. Đặc biệt, các trang trại trồng cây ăn quả, cây công nghiệp ở khắp các
vùng Bắc - Trung - Nam trong cả nước.
Cùng với sự phát triển chung của cả nước, Thừa Thiên Huế cũng có nhiều trang
trại hình thành và phát triển. Đây là một tỉnh có diện tích đất cát ở khu vực nội
đồng và ven biển rất nhiều tiềm năng và chưa được đầu tư khai thác đúng hướng.
những năm trở lại đây nhiều trang trại đã hình thành nhằm khai thác các tiềm năng
trên cát này. Trong đó có những trang trại làm ăn có hiệu quả, tạo thu nhập bước
đầu cải thiện đời sống cho rất nhiều hộ glia đình trên vùng cát vốn còn nhiều khó
khăn. thực hiện chủ trương khuyến khích và tạo điều kiện cho các gia đình đi xây
dựng các vùng kinh tế mới ở vùng cát của Nhà nước và tỉnh Thừa Thiên Huế,

dân có ruộng đất, lao động và vốn, tiến lên sản xuất hàng hóa với quy mô và mức
độ khác nhau. ( trang trại gia đình).
Theo rất nhiều nhà nghiên cứu kinh tế điều cho rằng hình thức kinh tế trang
trại gia đình được hình thành và phát triển trong điều kiện của nền kinh tế thị
trường “từ khi phương thức sản xuất thay thế phương thức sản xuất phong kiến,
khi bắt đầu cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất ở một số nước Châu Âu”
2
Khoá luận tốt nghiệp Võ Văn Chí, KN37
[10]. Ở đó, kinh tế hàng hóa đã phát triển ở nức độ cao các quan hệ kinh tế điều
được thực hiện bằng tiền tệ hóa, các yếu tố sản xuất (vốn, tài sản, sức lao động,
chất xám ), các sản phẩm và dịch vụ làm ra điều có giá , mà giá cả hình thành bởi
những tác động của quy luật cung cầu trên thị trường. Vì vậy, kinh tế trang trại gia
đình trong nền kinh tế thị không thể tránh khỏi những tác động đó. Mặc dù như
vậy nhưng kinh tê trang trại vẫn phát triển tương đối mạnh mẽ và có mặt hầu hết
ở các nước và các khu vực trên thế giới với quy mô ngày càng lớn,sản xuất có hiệu
quả hơn. Chính loại hình kinh tế này là bước chuyển biến thúc đẩy nông nghiệp
hàng hóa phát triển.
Kinh tế trang trại gia đình đầu tiên trong thời kỳ cách mạng công nghiệp phải
nói đến là nước Anh. Cho đến cuối thế kỷ XVII, ở nước Anh đã hình thành các xí
nghiệp nông nghiệp tập trung với quy mô lớn giống như các xí nghiệp công
nghiệp. Để phục vụ tốt cho nền nông nghiệp hàng hóa, thời gian này họ đã tiến
hành các chủ trương thúc đẩy tập trung ruộng đất, xây dựng các xí nghiệp nông
nghiệp tư bản với quy mô lớn tạo ra sự cạnh tranh và kìm hãm các trang trại gia
đình phân tán. Tuy nhiên, trong thực tế sản xuất và phát triển của nước Anh cho
thấy việc làm này không phù hợp do đặc điểm của sản xuất nông nghiệp với đối
tương là những sinh vật sống có quy luật sinh trưởng và phát triển không thể phù
hợp hình thức sản xuất tập trung với quy mô lớn, sử dụng lao đông làm thuê tập
trung và máy móc. Kết quả các xí nghiệp nông nghiệp tập trung quy mô lớn cho
hiệu quả thấp hơn so với các trang trại gia đình còn đang phát triển ở quy mô nhỏ.
Cũng chính điều này mà lần đầu tiên Các Mác nghĩ rằng loại hình tổ chức sản xuất

về mặt quy mô. Với sự phát triển loại hình trang trại trong nền sản xuất nông
nghiệp đã có tác động lớn đến nông nghiệp của thế giới Các trang trại, xí nghiệp
sản xuất và kinh doanh nông nghiệp tập trung đất đai, vốn, lao động, nguồn tài
nguyên của các khu vực trên thế giới. Đồng thời giá trị mà nó tạo ra chiếm phần
lớn tỷ trọng giá trị sản xuất của ngành nông nghệp. Có thể nói rằng, hiện nay trên
thế giới có khoảng 300 triệu trang trại gia đình với đủ các loại hình sản xuất đã và
đang đóng vai trò chủ đạo trong nền kinh tế nông nghiệp. Bên cạnh, tạo việc làm
cho hàng triệu lao động nông nghiệp còn tạo thu nhập cho các chủ thể sản xuất và
kinh doanh trong lĩnh vực trang trại.
Nhiều nghiên cứu trên thế giới cho thấy, kinh tế trang trại ở các nước công
nghiệp hóa Tây Âu thời gian đầu phát triển theo chiều hướng tăng về số lượng, và
đến khi công nghiệp hóa đạt trình độ cao thì số lượng trang trại giảm và tăng về
quy mô. Cụ thể, vào cuối thế kỷ 19 số lượng trang trại gia đình tiếp tục tăng nhưng
không đáng kể, trong thời gian 1882 -1892 số lượng trang trại ở Pháp tăng khoảng
4
Khoá luận tốt nghiệp Võ Văn Chí, KN37
từ 5.672.000 lên 5.703.000 và ở Đức tăng từ 5.276.000 lên 5.558.000 trang trại.
Tuy nhiên bước vào thế kỷ 20, mỗi nước có khoảng 5.500.000 trang trại với quy
mô bình quân chiếm khoảng 6 triệu ha đất. Nhưng đến cuối thế kỷ này, số trang
trại ở mỗi nước giảm xuống còn khoảng 800.000 với quy mô bình quân 20-30 ha.
(Trang trại gia đinh). Đặc biệt, ở Pháp đến năm 1989 chỉ còn khoảng 982.000
trang trại đã sản xuất ra khối lượng nông sản bình quân hàng năm gấp 2,2 lần nhu
cầu nội địa; và ở Đức chỉ còn khoảng 983.000 trang trại. Các nước Bắc Âu và
Nam Âu có quy luật phát triển giống như ở Tây Âu. Nhìn chung, loại hình trang
trại ở Châu Âu phổ biến là trang trại gia đình độc lập với quy mô nhỏ, vừa và lớn,
chủ yếu sử dụng lao động gia đình. Số laô động thuê ở ngoài không đáng kể chỉ
chiếm khoảng 5-10% trong tổng số lao động nông nghiệp với mức độ công nghiệp
hóa cao.
Ở bắc Mỹ, kinh tế trang trại gia đình cũng gắn liền với CNH, như ở Mỹ và
Canada. Trang trại gia đình ở khu vực này được hình thành và phát triển trên cơ sở

CNH đạt trình độ cao. Đặc biệt, trang trại gia đình đã trở thành một trong những
loại hình tổ chức sản xuất nông nghiệp chủ yếu của các nước công nghiệp phát
triển, nó đã trở thành lực lượng chủ lực của sản xuất nông sản hàng hóa.
Các trang trại ở các nước đang phát triển chủ yếu tập trung ở các nước Châu
Á, Châu Phi và Mỹ La Tinh. Ở các nước này kinh tế trang trại gia đình hình thành
và phát trển theo quá trình công nghiệp hóa, dần dần từng bước thay thế kinh tế
tiểu nông, tự cung tự cấp. Ban đầu, khi công nghiệp hóa diễn ra một bộ phận kinh
tế tiểu nông đã thoát khỏi sự kiểm soát của nền sản xuất tự túc tự cấp tiến lên sản
xuất nông sản hàng hóa với những mức độ khác nhau theo loại hình sản xuất kinh
tế trang trại gia đình như các nước phát triển ở Đông Nam Á. Một số nước có sự
phát triển mô hình kinh tế trang trại có số lượng và quy mô công nghiệp hóa phải
kể đến: Thái Lan, Malaisia, Indonesia Ở Thái lan, kinh tế trang trại phát trển
đồng thời ở cả vùng đồi núi, đồng bằng và ven biển với điều kiện tự nhiên thuận
lợi và nhu cầu của thị trường trong và ngoài nước tương đối phong phú. Trong khi
đó trang trại ở Malaisia và Indonesia chỉ phát triển được trên vùng đồi núi là nơi
có điều kiện đất đai thích hợp và có tập quán sản xuất cây công nghiệp như cao su,
cọ dầu, ca cao, hồ tiêu là những mặt hàng thị trường thế giới đang có nhu cầu.
Như vậy, ở các nước đang phát triển, kinh tế trang trại mới phát triển nên số lượng
chưa nhiều, tỷ trọng trong tổng số các loại hình tổ chức sản xuất nông nghiệp còn
thấp. Tuy nhiên, nó cũng đã và đang trở thành lực lượng xung kích trong sản xuất
nông sản hàng hóa và ngày càng phát triển cùng với xu thế tăng trưởng của công
nghiệp hóa.
6
Khoá luận tốt nghiệp Võ Văn Chí, KN37
Tóm lại, thông qua thực tiển phát triển kinh tế trang trại của nhiều nước trên
thế giới cho thấy rằng: Trang trại gia đình được hình thành và phát triển trong thời
kỳ đầu bước vào công nghiệp hóa tăng về số lượng vì thời kỳ này lao đông nông
thôn đang tăng mạnh với năng lực lao động còn thấp. Cho đến khi công nghiệp đã
phát triển ổn định tạo khả năng thu lao động vào các ngành công nghiệp và dịch
vụ tăng lên thì số lượng các trang trại bắt đầu có xu hướng giảm. Cụ thể, vào cuối

trang trại thời Pháp thuôc đô hộ thông qua bảng sau:
Bảng 1: Số lượng đồn điền trang trại của thực dân trong thời kỳ Pháp thuộc
Năm 1890 1900 1912 1922 1930
Số đồn điền trang trại 108 1.857 2.176 2.872 3.703
Diện tích (ha) 10.898 301.000 470.000 775.700 1.200.000
(Nguồn: Lê Trọng, phát triển và quản lý trang trong kinh tế thị trường,2000)
Từ sau khi giải phóng miền Nam (năm 1957), Nhà nước có chủ trương tịch
thu đồn đền trang trại thực dân và chuyển đổi thành các nông trường quốc doanh.
Trong giai đoạn này, hình thức sản xuất nông lâm trường và hợp tác xã sản xuất
ngày càng phổ biến và phát triển (TQ Hoàng _bg kinh tế trang trại). Như vậy,
trong thời kỳ hòa bình cả nước bắt đầu khôi phục lại nền kinh tế theo hướng quá
độ lên chủ nghĩa xã hội nhằm hàn gắn viết thương chiến tranh và đưa đất nước
ngày một ổn định. Song thời kỳ này vẫn còn áp dụng mô hình quản lý cũ, xây
dựng kinh tế mang nặng tính kế hoạch, tập trung quan liêu bao cấp nên đã bộc lộ
nhiều thiếu sót và hạn chế làm cho nền kinh tế nước ta đi đến khủng hoảng trong
những năm 1980 -1986. Mặc dù chúng ta đã thực hiện chính sách "người cày có
ruộng" từ những năm còn chiến tranh (1954-1956) đã đem lại ruộng đất thực sự
cho dân cày lao động, mỗi gia đình, mỗi khẩu lao động đã được phân chia ruộng
đất đảm bảo quyền lợi của người nông dân. Nhưng do chế độ quản lý tập trung
quan liêu bao cấp đã không khai thác được tiềm năng của đất đai và lao động phát
triển. cho nên trang trại trong thời gian này hoạt động không có hiệu quả và chưa
tạo ra biến động cụ thể trong quá trình phát triển kinh tế cả nước. Trong một thời
gian dài dù là một nước nông nghiệp nhưng chúng ta vẫn phải nhập khẩu lương
thực thực phẩm để cải thiện tình trạng đói ăn cho người dân.
Khắp phục tình trạng trì trệu của nền kinh tế, Đại hội Đảng khóaVI (12/1986)
đã chỉ rõ trong thời kỳ quá độ nước ta phải tập trung xây dựng "nền kinh tế có cơ
cấu nhiều thành phần" và theo Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị "về đổi mới cơ chế
quản lý nông nghiệp" đã khẳng định kinh tế hộ là một đơn vị thành phần kinh tế tự
chủ và nhà nước đã có nhiều chủ trương khuyến khích phát triển kinh tế trang trại.
Vì thế, ngày càng nhiều loại hình trang trại hình thành và phát triển khắp nơi trong

Bên cạnh đó, Số lượng trang trại phân bố theo những điều kiên tự nhiên sẳn
có ở các khu vực trong cả nước. Những nơi có điều kiện đất đai nhiều, mặt nước
thuận lợi là những nơi có điều kiện để mở rộng quy mô trồng trọt, chăn nuôi và
thủy sản. Chính vì vậy, ba vùng đồng bằng sông Cửu Long, Đông Nam Bộ và
9
Khoá luận tốt nghiệp Võ Văn Chí, KN37
Tây Nguyên chiếm 81,8% số trang trại cả nước, riêng trang trại cây hằng năm
chiếm 91,7%, trang trại chăn nuôi chiếm 78,6%, trang trại nuôi trồng thủy sản
chiếm 78,6%; còn vùng Đông Bắc và Bắc Trung Bộ chiếm 68,5% trong tổng số
trang trại lâm nghiệp cả nước. Nhiều thành phần kinh tế tham gia mô hình kinh tế
trang trại, nhưng chủ yếu vẫn là nông dân: 91,31% số chủ trang trại là nông dân,
5,03% là cán bộ, công nhân, viên chức, 3,68% là các thành phần khác. Các trang
trại nói chung có quy mô không lớn và có những khác biệt giữa các vùng, các tỉnh
và loại hình trang trại.
Về mặt quy mô sử dụng đất đai và nguồn vốn: Diện tích đất dành cho các
trang trại sản xuất và kinh doanh nông nghiệp trong thời gian 1989-1992 tăng từ
22.946 ha lên 58.282 ha , gấp 2,54 lần; đến năm 1999 tăng lên 396.282 ha, gấp
6,81 lần so với năm 1992 và gấp 17,29 lần so với năm 1989. Vốn đầu tư của các
trang trại trong cả nước cũng có sự gia tăng đáng kể, như năm 1989 tổng vốn đầu
tư của các trang trại khoảng chừng 513.677,5 triệu đồng thì đến năm 1999 mức
đầu tư lên đến 18.030.000 triệu đồng, nhiều gấp 35,1 lần. Vốn đầu tư bình quân
một trang trại 135,14 triệu đồng, ít nhất là các trang trại trồng cây hằng năm, chỉ
có 69,7 triệu đồng, nhiều nhất là trang trại chăn nuôi 236 triệu đồng và trang trại
trồng cây lâu năm 207 triệu đồng. Vốn đầu tư chủ yếu là của chủ trang trại chiếm
84,25% tổng vốn đầu tư, còn lại là vốn vay của ngân hàng và của các thành phần
khác. Vốn đầu tư tuy cùng loại hình sản xuất, nhưng khá cách biệt giữa các vùng,
các tỉnh. Chẳng hạn, bình quân vốn đầu tư một trang trại trồng trọt 129,1 triệu
đồng, nhiều nhất là ở TP Hồ Chí Minh 455,3 triệu đồng, Bình Dương 348,6 triệu
đồng. Ngược lại, có tới bảy tỉnh vốn đầu tư dưới 50 triệu đồng một trang trại như
Quảng Ngãi 25,9 triệu, Cà Mau 33,5 triệu, Lai Châu 24,6 triệu, Cao Bằng 39,8

các trang trại trong 10 năm qua đã dần dần tăng lên. Vì thế, mà tổng giá trị sản
phẩm bình quân của các trang trại trong những năm 1997 -1999 ước tính khoảng
chừng 9.575 tỷ đồng/năm, chiếm 7,98% giá trị tổng sản phẩm nông nghiệp. Đặc
biệt, tỷ suất hàng hóa của các trang trại năm 1992 chiếm 78,6% thì năm 1999 đã
tăng lên 86,74%. (Lê Trọng, kttt trong thị trường).
Tóm lại, sự phát triển kinh tế trang trại có những chuyển biến tích cực qua
các giai đoạn phát triển của đất nước. Tuy nhiên, trong mỗi thời kỳ nó cũng những
bứơc phát triển thăng trầm theo sự biến động của nền sản xuất nông nghiệp, đồng
thời sự phát triển của loại hình kinh tế trang trại tạo được bước chuyển biến trong
nông nghiệp phục vụ cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp
nông thôn của đất nước.
11
Khoá luận tốt nghiệp Võ Văn Chí, KN37
2.1.3. Tình hình phát triển kinh tế trang trại ở Thừa Thiên Huế
Thừa Thiên Huế là một tỉnh miền Trung, địa hình chủ yếu là núi non, gò đồi,
đầm phá. Trong những năm gần đây, sản xuất nông nghiệp của Tỉnh nói chung có
sự phát triển khởi sắc, trong đó, kinh tế trang trại đã và đang từng bước khẳng định
vai trò vị trí của nó trong nền nông nghiệp của Tỉnh. Các loại hình trang trại ở
Thừa Thiên Huế chủ yếu là các trang trại nuôi tôm, trồng rừng, nông lâm kết hợp,
chăn nuôi, trồng trọt và trang trại kinh doanh tổng hợp.
Xuất phát là một tỉnh nông nghiệp thuần nông Thừa thiên Huế có rất nhiều
tiềm năng giành cho kinh tế trang trại. Đây kinh đô phong kiến cuối cùng tồn tại ở
Việt Nam, việc phát triển sản xuất nông nghiệp rất được vua chúa nhà Nguyễn chú
trọng. Tuy không có nhiều đồn điền trang trại như các vùng miền Đông Nam Bộ
và Tây Nguyên nhưng lợi thế về diện tích đất bờ biển và đầm phá (chẳng hạn phá
Tam Giang) thuận lợi cho sự phát triển các trang trại nuôi trồng thủy hải sản. Nhìn
chung sự phát triển kinh tế trang trại Thừa Thiên Huế mang những đặc trưng
chung của kinh tế trang trại trong cả nước. Đặc biệt, từ các Nghị quyết của Đảng
và nhà nước về việc phát triển kinh tê nông nghiệp như Nghị quyết 10, Nghị quyết
TW khóa VII về việc xác định quyền tự chủ của kinh tế hộ đình và khuyến khích

bàn tỉnh trong những năm vừa qua cho những kết quả cụ thể sau:
Về qui mô lao động trang trại: Các trang trại có qui mô từ 6 - 10 lao động
chiếm tỷ trọng tới 50% tổng số trang trại, qui mô 10 lao động chiếm tỷ trọng rất
nhỏ. Nhìn chung các trang trại ở Thừa Thiên Huế có qui mô lao động không cao,
chủ yếu là từ 5- 10 lao động bình quân một trang trại. (Xem bảng phụ lục số 3)
Về qui mô trang trại phân theo đất đai: Các trang trại có qui mô diện tích nhỏ
dưới 3 ha chiếm tỷ lệ khá cao (44,16%), đó là các trang trại nuôi trồng thủy sản
tiếp đến là các trang trại trồng cây lâu năm và trang trại kinh doanh tổng hợp. Các
trang trại có qui mô vừa từ trên 3 ha đến dưới 10 ha chiếm tỷ trọng tương đối lớn
gần 40%, qui mô đất đai lớn trên 10 ha chiếm tỷ trọng rất nhỏ, loại trang trại này
chủ yếu là trang trại trồng cây lâm nghiệp và trang trại kinh doanh tổng hợp. (Xem
bảng phụ lục số 4)
Về qui mô trang trại phân theo vốn kinh doanh: Các trang trại có qui mô
vốn trên 100 triệu chiếm đến 46,67%, chủ yếu là các trang trại nuôi trồng thủy sản
và kinh doanh tổng hợp. Trong khi đó, các trang trại có số vốn dưới 30 triệu
chiếm tỷ trọng nhỏ, bao gồm các trang trại trồng cây hàng năm và các trang trại
chăn nuôi. (Xem bảng phụ lục số5 )
Về qui mô tổng thu trang trại: Các trang trại có qui mô tổng thu từ 100 đến
200 triệu chiếm tỷ lệ cao nhất 33,3%. Các trang trại có tổng thu trên 200 triệu
13
Khoá luận tốt nghiệp Võ Văn Chí, KN37
chiếm tỷ trọng 24,2%, chủ yếu là trang trại nuôi trồng thủy sản, kinh doanh tổng
hợp, chăn nuôi. Trong khi đó, các trang trại có qui mô tổng thu dưới 50 triệu
chiếm tỷ trọng nhỏ. Các trang trại trồng cây lâu năm có qui mô tổng thu ở mức
trung bình tương đương khoảng 50 đến 100 triệu. Các trang trại trồng cây hàng
năm có tổng thu nhỏ nhất (30 đến dưới 50 triệu) trong một năm. (Xem bảng phụ
lục số 6).
Kinh tế trang trại ở tỉnh Thừa Thiên Huế mới xuất hiện trong mấy năm gần
đây nhưng đã có những bước phát triển đáng kể cả về số lượng, quy mô và loại
hình sản xuất tại hầu hết các địa phương với những kết quả và hiệu quả to lớn về

Theo tác giả Nguyễn Phượng Vỹ: Cần quy hoạch phát triển trang trại phù
hợp với quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch phát triển nông nghiệp nông thôn. Đó
chính là việc xem xét giải quyết một cách thỏa đáng việc giao, thuê đất của chủ thể
sử dụng đất theo chính sách pháp luật về quản lý đất đai. Còn tác giả Nguyễn Sinh
Cúc: Những tiêu chuẩn do Tổng cục thống kê quy định đối với một trang trại chỉ
mang tính chất tương đối và tùy theo điều kiện đất đai, loại hình sản xuất kinh
doanh của từng vùng miền cụ thể.
Hằng năm, thông qua các kỳ đại hội của ban chấp hành TW Đảng điều đưa ra
những quy định và những định hướng phát triển kinh tế trang trại nước nhà trong
những năm tiếp theo. Chẳng hạn như: Nghị quyết 10 của Bộ chính trị (04/1998),
Nghị quyết hội nghị TW 6 (khóa VI) của BCHTW (03/1989); Luật đất đai (1993);
NQ TW 5 (khóa VII, 1993); NQ TW 4 (khóa VIII, 1997); Nghị quyết 6 của Bộ
chính trị (10/11/1998) và đặc biệt, Nghị quyết 03/2000/NQ-CP (02/02/2000) về
kinh tế trang trại. Tất cả Nghị định, Nghị quyết trên đây tạo điều kiện và tiền đề để
kinh tế trang trại nước ta khai thác, sử dụng có hiệu quả đất đai, vốn, kỹ thuật,
kinh nghiệm quản lý trang trại.
Một nghiên cứu mới đây của nhóm giáo viên, sinh viên của trường kinh tế,
nông lâm Huế đã nêu lên cơ cấu sản xuất, kinh doanh của các trang trại và đưa ra
một số giải pháp phát triển hơn nữa kinh tế trang trại trên địa bàn Huyện A Lưới
-Thừa Thiên Huế. Mặc dù đề tài đã đưa ra cơ cấu tổ chức sản xuất, kinh doanh
trang trại của một địa phương nông thôn miền núi song chưa cho thấy rõ sự khác
nhau về quy mô vốn, đất đai, lao động và lợi nhuận của các loại hình trang trại có
mặt trên địa bàn huyện.
Ngoài ra còn rất nhiều nghiên cứu khác xuất hiện trên các phương tiện thông
tin đại chúng nhưng với điều kiện thời gian cho phép, chúng tôi chỉ mới giới thiệu
một cách sơ bộ để nói lên mức độ quan tâm về kinh tế trang trại.
15
Khoá luận tốt nghiệp Võ Văn Chí, KN37
2.2. Cơ sở lý luận
2.2.1. Khái niệm trang trại và kinh tế trang trại

Khoá luận tốt nghiệp Võ Văn Chí, KN37
- Theo tạp chí nông nghiệp và phát triển nông thôn tháng 05/1998: "Kinh tế
trang trại là loại hình sản xuất nông nghiệp nói chung và đặc trưng là sản xuất
nông sản hàng hóa, nó đa dạng về loại hình quy mô, nội dung, phương thức sản
xuất và thu nhập".
- Theo PGS.TS Lê Trọng: "Kinh tế trang trại là hình thức tổ chức kinh tế cơ
sở, là doanh nghiệp trực tiếp tổ sản xuất ra nông sản hàng hóa dựa trên cơ sở hiệp
tác và phân công lao động xã hội, được các chủ trang trại đầu tư vốn, thuê mướn
hoặc hầu hết sức lao động và trang bị tư liệu sản xuất để hoạt động kinh doanh
theo yêu cầu của nền kinh tế thị trường, được Nhà nước bảo hộ theo luật định".
[27,17].
- Kinh tế trang trại có hai loại: trang trại gia đình và trang trại tư bản chủ
nghĩa. Loại hình trang trại gia đình sử dụng sức lao động trong gia đình là chính,
kết hợp thuê nhân công theo thời vụ. Còn loại hình trang trại Tư bản chủ nghĩa với
phương thức sản xuất, kinh doanh chuyên môn hóa cao và dựa hoàn toàn vào lao
động làm thuê.
- Theo Nghị quyết 03/2000 đã chỉ rõ về khái niện trang trại: "Kinh tế trang trại
là hình thức tổ chức sản xuất hàng hóa trong nông nghiệp nông thôn, chủ yếu dựa
vào hộ gia đình, nhằm mở rộng quy mô và nâng cao hiệu quả sản xuất trong lĩnh
vực trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản, trồng rừng gắn sản xuất với chế
biến và tiêu thụ nông, lâm, thủy sản”.
Hiện nay, ở trong và ngoài nước có rất nhiều khái niệm và điểm về kinh tế
trang. Mỗi tác giả đều có những quan điểm khác nhau tùy theo mục đích nghiên
cứu của mình nhưng trong phạm vi của đề tài chúng tôi chỉ nói thêm về sự phác
biệt giữa trang trại và kinh tế trang trại. Trang trại (farm) là một mảnh đất mà trên
đó nông hộ thực hiện các hoạt động sản xuất nông nghiệp phục vụ cho sinh kế của
họ (theo FAO, 1997). Đó là nơi kết hợp các yếu tố vật chất của sản xuất bao gồm
các hoạt động sản xuất và muối quan hệ giữa các hoạt động đó. Kinh tế trang trại
là tổng thể các hoạt động sản xuất, kinh doanh và quản lý của trang trại.
2.2.2. Vai trò của kinh tế trang trại.

2.2.3. Những đặc trưng cơ bản của kinh tế trang trại
Tuy nhiên kinh tế trang trại được xem như là bước phát triển của kinh tế hộ
gia đình nhưng nó có những đặc trưng riêng khác hẳn so với kinh tế hộ. Theo Các
Mác chỉ ra rằng: "Chủ trang trại bán ra thi trường toàn bộ sản phẩm làm ra và mua
vào tất cả các tư liệu sản xuất, còn tiểu nông thì sản xuất tự túc là chủ yếu, không
bán sản phẩm hoặc bán không đáng kể và mua vào càng ít cang tốt và trong chừng
mực có thể anh ta còn tự chế tạo lấy công cụ lao động, quần áo".[18]
18
Khoá luận tốt nghiệp Võ Văn Chí, KN37
Kinh tế trang trại là một đơn vị kinh tế trong các thành phần kinh tế nó
mang những đặc trưng cơ bản sau đây:
Thứ nhất, kinh tế trang trại chuyên môn hóa, tập trung sản xuất hàng hóa và
dịch vụ theo nhu cầu của thị trường, có lợi nhuận cao. Khác với kinh tế hộ sản
xuất tự cấp tự túc nhỏ lẻ thì trang trại đặt chỉ tiêu giá trị tổng sản phẩm và sản
phẩm hàng hóa để đánh giá quy mô trang trại nhỏ, vừa và lớn. Vì vậy, sản xuất
hàng hóa là chức năng chính của kinh tế trang trại, tỷ suất hàng hóa cao thường
khoảng 70%. Các chỉ tiêu về ruộng đất, vốn, lao động đều lớn hơn nhiều so với
kinh tế hộ.
Thứ hai, hàng hóa của trang trại luôn gắn liền với thị trường, do đó thị trường
bán sản phẩm và mua vật tư là nhân tố có tính quyết định chiến lược phát triển sản
xuất sản phẩm hàng hóa cả về số lượng lẫn chất lượng và hiệu quả kinh doanh của
trang trại. Vì vậy, một đòi hỏi cho các chủ trang trại phải có khả năng tiếp cận thị
trường, tổ chức tôt công tác thu thập thông tin thị trường một cách kịp thời đảm
bảo đầu ra sản phẩm là vấn đề có tính quyết định.
Thứ ba, trang trại là nơi có đủ khả năng áp dụng tiến bộ kỹ thuật tốt hơn so
với kinh tế hộ. Cho nên khả năng khai thác các nguồn lực đất đai, vốn, lao động
hơn hẳn kinh tế hộ bởi được trang bị nhiều máy móc và áp dụng nhiều quy trình
công nghệ mới và sản xuất, dịch vụ theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa
nông nghiệp. Vì thế, năng suất, chất lượng sản phẩm và hiệu quả kinh doanh vượt
xa so với kinh tế hộ.

trong trang trại, nó phù thuộc vào khả năng và năng lực chủ thể của trang trại.
- Sở hữu toàn bộ: Chủ trang trại là người sở hữu hoàn taòn các tư liệu sản
xuất (đất đai, chuồng trại, kho tàng, san bãi, công cụ máy móc ) của trang trại.
- Sở hữu một phần: Chủ trang trại chỉ là người sở hữu một phần nào đó tư
liệu san xuất, còn lại phải đi thuê từ bên ngoài để phục vụ cho mục đích sản xuất
của mình.
- Chủ trang trại hoàn toàn không có tư liệu sản xuất mà phải đi thuê từ bên
ngoài, như thuê đất sản xuất, máy móc, công cụ để phục vụ cho quá trình sản
xuất.
2.2.4.3. Phân loại theo phương thức điều hành sản xuất
Đây là cách thức phân loại dựa vào các muối quan hệ về quản lý sản xuất của
trang trại:
- Chủ trang trại và gia đình ở ngay trang trại ở nông thôn và trực tiếp điều
hành cũng như trực tiếp tiến hành các hoạt động sản xuất, kinh doanh.
20
Khoá luận tốt nghiệp Võ Văn Chí, KN37
- Chủ trang trại và gia đình không ở nông thôn, không ở trang trại mà có thể
ở tại các thị trấn, thành phố, những vẫn trực tiếp điều hành trang trại, không thuê
người quản lý và nhiều khi trực tiếp lao động sản xuất thường xuyên hay định kỳ.
Loại hình trang trại này hiện nay vẫn chưa được phổ biến nhưng có xu hướng phát
triển mạnh ở một số nước công nghiệp
2.2.4.4. Phân loại theo cơ cấu sản xuất
Cơ cấu sản xuất cũng là một trong những tiêu chí giúp cho chúng ta có thể
nhận biết được các loại hình trang trại với mục tiêu sản xuất kinh doanh khác
nhau:
- Trang trại có cơ cấu sản xuất kinh doanh tổng hợp: Loại hình trang trại này
là sự kết hợp của nhiều loại sản phẩm chủ yếu như: Kết hợp trồng trọt, chăn nuôi,
nuôi trồng thủy sản; kết hợp nông nghiệp và lâm nghiệp; kết hợp nông gnhiệp với
các ngành nghề ở nông thôn. Loại hình trang trại này rất phổ biến ở nước ta và
các nước Châu Á.

xuất; công nghiệp chế biến sản phẩm.
- Hình thành các vùng nông nghiệp chuyên môn hóa cây trồng, vật nuôi với
quy mô lớn.
- Hình thành được các hình thức liện kết, hợp tác sản xuất trong nông
nghiệp
- Kinh tế trang trại phải được hình thành trên những cơ sơ hạ tầng nông thôn
nhất. Đặc biệt là giao thông và thủy lợi rất quan trọng vì nó phục vụ cho các hoạt
động sản xuất kinh doanh của trang trại.
- Thị trường và nhu cầu thị trường phải lớn để đẩy mạnh các hoạt động sản
xuất trang trại. Do đó, kinh tế thị trường được hình thành tạo ra môi trường kinh tế
phù hợp với hoạt động sản xuất kinh doanh của trang trại.
• Đối với trang trại và chủ trang trại:
- Trong xã tồn tại một bộ phận dân cư có nguyện vọng làm giàu chính đáng
bằng sản xuất nông nghiệp thành lập các trang trại, có sở thích hoạt động sản xuất
nông sản hàng hóa vừa thỏa mãn nhu cầu gia đình vừa đáp ứng nhu cầu của xã
hội.
- Đối với chủ trang trại phải là người có ý chí và quyết tâm làm giàu từ nông
nghiệp. Đồng thời là người hiểu biết và tích lũy được những kinh nghiệm sản xuất,
có khả năng tổ chức và quản lý các hoạt động sản xuất kinh doanh. Chẳng hạn,
22
Khoá luận tốt nghiệp Võ Văn Chí, KN37
phải có ý đồ kinh doanh: sản xuất những sản phẩm gì? Sản xuất như thế nào? Sản
xuất cho ai? Lợi ít ra sao?
- Trang trai phải có khả năng tập trung các nguồn lực phục vụ cho sản xuất
như: nguồn vốn và đất đài nhất định.
- Quá trình sản xuất kinh doanh trang trại phải có sự quản lý theo dõi, ghi
chép để hoạch toán kinh tế và phân tích đầu tư kinh doanh như thế nào để mang lại
lợi nhuận cao nhất trên một đồng vốn bỏ ra.
2.3. Cơ sở thực tiển
2.3.1. Một số vấn đề phát triển kinh tế trang trại trên thế giới

lượng. Thông qua các chủ trương, chính sách, Nghị định, Nghị quyết chỉ đạo thiết
thực của Đảng và Nhà nước kinh tế trang trại nước ngày càng phát triển mạnh mẽ.
Đặc biệt, tư khi Luật đất đai ra đời năm 1993 thì kinh tế trang trại mới thực sự
phát triển nhanh, mạnh. Nó không chỉ dừng lại ở thành phần kinh tế hộ mà còn
phát triển trong các thành phần kinh tế khác (Kinh tế Nhà nước, tập thể, hợp tác
xã, tư bản tư nhân ). Cụ thể, trong cả nước có khoảng 91,31% số chủ trang trại là
nông dân; 5,03% là cán bộ, công nhân, viên chức; 3,68% là các thành phần khác.
Sự phát triển kinh tế trang trại góp phần thúc đẩy và phát triển kinh tế nông nghiệp
nông thôn, đồng thời nó cũng tác động rất lớn đến quá trình công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước là không thể phủ nhận. Sự phát triển mô hình kinh tế này tại Việt
Nam trong thời gian qua đã phát huy khả năng sản xuất của các nông-lâm trường,
các hợp tác xã, các hộ nông dân nông nghiệp. Một mặt khai thác có hiệu quả các
nguồn lực về đất đai, lao động và nguồn vốn tại chổ của các chủ thể kinh tế; mặt
khác thúc đẩy sự liên doanh liên kết với các đơn vị kinh tế khác bằng cách tập
trung sản xuất với quy mô lớn, áp dụng khoa học công nghệ vào sản xuất, kết hợp
sản xuất với công nghiệp chế biến, sản xuất với tiêu dùng, nông sản là hàng hóa
Kinh tế trang trại nước ta phát triển đã thúc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông
nghiệp, nông thôn. Hiện nay, nước ta có rất nhiều vùng tập trung, chuyên canh,
sản xuất hàng hóa (vùng chuyên canh cà phê, chè, cao su, hồ tiêu, mía, vải
thiều,cây ăn quả ) làm tiền đề cho công nghiệp chế biến nông sản, thực phẩm; tạo
thuận lợi cho việc đưa công nghiệp- dịch vụ vào nông thôn. Bên cạnh đó, các
trang trại đã tạo thêm việc làm góp phần giải quyết số lao động dư thừa trong nông
thôn, tăng thu nhập cho một bộ phận dân cư, góp phần thúc đẩy việc nâng cao dân
trí và đời sống văn hóa ở nông thôn, đặc biệt là ở vùng trung du, miền núi, vùng
đồng bào dân tộc thiểu số, phủ xanh đất trống đồi núi trọc, cải tao môi trường sinh
thái.
24
Khoá luận tốt nghiệp Võ Văn Chí, KN37
Như vậy, Trong những năm trở lại đây Đảng và Nhà nước đã có những chủ
trương, chính sách và biện pháp để phát triển nông nghiệp nói chung, trang trại nói

25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status