CÔNG TÁC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN
NÔNG THÔN VÀ ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2015
Hoạt động sản xuất nông nghiệp và phát triển nôn thôn diễn ra rộng
khắp trên cả nước bao gồm cả vùng lục địa và vùng chủ quyền lãnh hải của
Việt Nam với sự tham gia của hơn 70 % dân số, tạo ra tổng sản phẩm khu vực
nông, lâm nghiệp và thuỷ sản năm 2007 theo giá thực tế đạt 231.282 tỷ đồng,
chiếm 20,23% trong cơ cấu nền kinh tế quốc dân (sản xuất nông nghiệp
15,18%; lâm nghiệp 1,05% và thuỷ sản đạt 4%), xuất khẩu nông, lâm, thuỷ
sản năm 2007 tăng mạnh so với năm 2006. Tổng kim ngạch xuất khẩu cả năm
ước đạt 12,5 tỷ USD, tăng 20,6% so với năm 2006 (nông, lâm sản 8,7 tỷ
USD, thuỷ sản 3,8 tỷ USD), vượt mục tiêu đề ra cho năm 2010 là 1,5 tỷ USD.
Các hoạt động của ngành đã góp phần nâng cao thu nhập và đời sống cho
nông dân, xóa đói giảm nghèo tại nhiều địa phương.
Cùng với sự phát triển sản xuất của đất nước thì vấn đề bảo vệ môi
trường ngày càng được Nhà nước và Chính phủ quan tâm coi đó là 1 trong 3
trụ cột phát triển (Kinh tế-Xã hội-Môi trường). Nghị quyết 41/NQ-TW về
tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện
đại hóa, Chương trình nghị sự 21 của Chính phủ về Phát triển bền vững là
một trong những hành động thể hiện sự cam kết của Việt Nam trong lĩnh vực
bảo vệ môi trường. Những chính sách quan trọng của Nhà nước đã tạo điều
kiện tốt cho việc hình thành hệ thống bảo vệ môi trường quốc gia, cũng như
của ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn. Công tác bảo vệ môi trường
đã đóng vai trò gìn giữ và bảo vệ nguồn tài nguyên, bảo vệ các hệ sinh thái
phục vụ cho chiến lược phát triển của ngành. Tuy nhiên, hiện nay vấn đề môi
trường đang ngày càng trở nên bức xúc, đe dọa chính đến sự phát triển bền
vững của ngành. Một mặt, hoạt động sản xuất của ngành tác động mạnh đến
mô trường, như việc sử dụng phân bón, thuốc hóa chất chưa đúng kỹ thuật đã
gây tồn dư nhiều hóa chất độc hại trong môi trường đất và môi trường nước;
nhiều vùng chăn nuôi tập trung thiếu hệ thống thu gom và xử lý chất thải;
nhiều vùng làng nghề sản xuất thủ công chưa có hệ thống thu gom và xử lý
chất thải; việc khai thác nguồn lợi thủy sản không hợp lý đã ngày càng làm
- Các vùng chuyên canh cây nông nghiệp ngày càng được mở rộng
nhằm tạo lập thị trường cung cấp sản phẩm tập trung nhưng cũng làm gia
tăng dịch bệnh cho cây trồng. từ đó dẫn đến gia tăng sử dụng các sản phẩm
thuốc bảo vệ thực vật (trong đó có rất nhiều thuốc bảo vệ thực vật không rõ
nguồn gốc xuất sứ, trôi nổi trên thị trường. Đến tháng 8 năm 2007, lượng
thuốc bảo vệ thực vật tồn lưu phải tiêu hủy 152 tấn).
- Phân bón khi sử dụng sẽ để lại một lượng không nhỏ dư lượng do
không được cây trồng hấp thụ, sẽ tác động tiêu cực đến chính hệ sinh thái
nông nghiệp cũng như làm ô nhiễm nguồn nước, ô nhiễm đất và có thể gây
đột biến gen đối với một số loại cây trồng. Theo ước tính năm 2007, có
khoảng 60-65% lượng phân đạm không được cây trồng hấp thụ (tương ứng
với 1,77 triệu tấn urê, 55 - 60% lượng lân tương đương với 2,07 triệu tấn supe
lân và 55-60% lượng kali tương đương với 344 nghìn tấn Kali Clorua (KCl)
được bón vào đất nhưng chưa được cây trồng sử dụng). Bổ sung bảng
- Thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) ngày càng được sử dụng gia tăng Từ năm
1991 đến năm 2000, khối lượng thuốc BVTV được nhập khẩu và sử dụng biến
động từ 20.000 - 30.000 tấn thành phẩm quy đổi, lượng sử dụng trên một đơn
vị diện tích từ 0,67 - 1,0 kg ai/ha. Từ năm 2000 đến nay khối lượng nhập khẩu
và sử dụng ở Việt Nam tăng từ 33.000 đến 75.000 tấn. Lạm dụng thuốc BVTV
trong phòng trừ dịch hại, tùy tiện không tuân thủ các quy trình kỹ thuật, không
đảm bảo thời gian cách ly của từng loại thuốc đã dẫn đến hậu quả nhiều trường
2
hợp ngộ độc thực phẩm, mất an toàn vệ sinh thực phẩm, đồng ruộng bị ô
nhiễm.
(bổ sung bảng)
Việc sử dụng thuốc không đúng kỹ thuật làm cho sâu bệnh quen thuốc
gây ra hiện tượng kháng thuốc BVTV, mặt khác do sử dụng nhiều loại thuốc
BVTV làm cho các loài sinh vật có ích (thiên địch) bị tiêu diệt, gây mất cân
bằng sinh thái và như vậy sâu bệnh hại càng phát triển mạnh hơn và nông dân
càng dùng thuốc nhiều hơn
suy giảm chất lượng đất, nước, giảm thiểu khả năng sản xuất nông nghiệp
trên vùng rộng lớn.
Ô nhiễm môi trường còn làm phát sinh dịch bệnh, ảnh hưởng lớn đến
hiệu quả chăn nuôi. Trong mười năm qua, từ 1997 đến nay, dịch lở mồm,
long móng trên gia súc đã hoành hành và đến nay chưa được khống chế triệt
để. Từ cuối năm 2003, dịch cúm gia cầm đã bùng phát tại Việt Nam, qua 4
năm, dịch đã tái phát 5 đợt, đã phải tiêu huỷ trên 51 triệu gia cầm các loại,
thiệt hại ước tính lên đến hàng ngàn tỷ đồng. Bệnh đã có nhiễm sang người,
đến nay đã có 100 người mắc và đã tử vong 46 người. Từ đầu năm 2007 đến
nay đã bùng phát hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản (bệnh tai xanh-PRRS)
3
trên lợn đã gây thiệt hại nặng nề cho ngành chăn nuôi lợn tại nhiều địa
phương, đến nay đã được khống chế, chỉ còn một số ít cơ sở đang tiếp tục
phải theo dõi. Tuy vậy, diễn biến của bệnh khá phức tạp, khả năng gây dịch
còn rất lớn. Dịch bệnh đã gây tổn thất lớn cho ngành chăn nuôi, gây mất an
toàn thực phẩm và còn có nguy cơ lây nhiễm sang người nguy hiểm như bệnh
cúm gia cầm, …
1.3 Nuôi trồng và khai thác thủy sản
Nuôi trồng thủy sản phát triển mạnh trong vòng 10 năm trở lại đây,
không chỉ nuôi sông hồ, đàm phá.. mà còn tiến ra biển. Năm 2007, cả nước
mở thêm 15.600 ha nuôi trồng thuỷ sản, đưa tổng diện tích đạt khoảng 1,065
triệu ha (kể cả diện tích nuôi trồng thuỷ sản kết hợp với trồng lúa khoảng
65.600 ha), đạt sản lượng 2,1 triên tấn. Do hoạt động nuôi trồng thủy sản chủ
yếu mang tính cá thể và ít có sự hỗ trợ cơ sở hạ tầng từ nhà nước, nên các khu
vực nuôi trồng thủy sản thường không có hệ thống thủy lợi phục vụ cho nuôi
trồng thủy sản dẫn người nuôi thường sử dụng kênh cấp nước và thoát nước
thải chung, nên khi dịch bệnh xẩy ra, thì ảnh hưởng đến cả vùng nuôi, gây
thiệt hại rất lớn cho người nuôi. Từ năm 1993 trở lại đây, dịch bệnh thủy sản
xẩy ra liên tục. Năm 2005 dịch bệnh đã gây thiệt hại rất lớn đến các tỉnh Nam
Trung Bộ, làm suy giảm sản lượng khu vực này từ 40-60% so với cùng kỳ
30,6%.
Hiện tượng vi phạm các quy định của Nhà nước trong khai thác thuỷ sản
vẫn còn xẩy ra ở nhiều nơi. Đáng kể là dùng ánh sáng đèn có cường độ quá
lớn, xung điện, chất độc, chất nổ, lưới cào “tầu bay”…để đánh bắt cá; khai
thác vào mùa vụ cấm, không tuân thủ đúng quy định về mắt lưới và loại nghề
cho phép dẫn đến tình trạng nguồn lợi hải sản bị giảm sút, một số loài hải sản
quý hiếm có nguy cơ cạn kiệt và tuyệt chủng.
Nguy hiểm hơn, còn biểu hiện rộng khắp và chưa có khả năng ngăn chặn
hành động tàn phá môi trường sống và nơi sinh cư tự nhiên của các loài sinh
vật biển. Một số HST biển tiêu biểu, nơi sinh cư của trên 3000 loài hải sản và
chim nước như RSH, cỏ biển, cũng bị phá huỷ nghiêm trọng, vượt quá khả
năng phục hồi hoặc sẽ phục hồi chậm. Theo Viện Tài nguyên Thế giới (2000,
2002) thì 80% rạn san hô và thảm cỏ biển Việt Nam nằm trong tình trạng rủi
ro, trong đó 50% ở tình trạng rủi ro cao.
Công tác bảo vệ nguồn lợi thủy sản gặp rất nhiều khó khăn do số lượng
cán bộ và phương tiện có hạn, mặt khác các hình thức xử phạt vi phạm hành
chính còn nhẹ chưa có tính răng đe. Công tác phục hồi và bảo tồn nguồn lợi
mới ở bước mức đầu, hiện chưa có một khu bảo tồn mang tính quốc gia nào
được thiết lập, kể cả các khu bảo tồn biển.
Cảng cá, bến cá
Chế biến thủy sản
1.4 Lâm nghiệp
- Phá rừng
- Khô hạn, sa mạc hoá và thoái hoá vật lý đất: Số liệu của văn phòng điều
phối công ước chống sa mạc hóa (Bộ Nông nghiệp và PTNT) cho biết nước ta
hiện có khoảng 7.055.000 ha đang chịu tác động mạnh bởi quá trình hoang
mạc hóa bao gồm đất trống bị thoái hóa mạnh, đất bị đá ong hóa, đụn cát và
bãi cát di động tập trung ở các tỉnh miền Trung. Do hậu quả của việc chặt phá
rừng, đốt rừng bừa bãi, sử dụng đất không bền vững qua nhiều thế hệ nên đất
đai bị thoái hoá về mặt vật lý (đất chai lỳ, khô cứng, tầng mặt bị bóc mòn
ngoài nước cho việc xử lý ô nhiễm làng nghề, bảo đảm vệ sinh môi trường
vùng nông thôn nhưng thực tế ô nhiễm vẫn ngày càng trở lên nghiêm trọng
với diện ngày càng rộng. Cả nước hiện có hơn 1450 làng nghề, trong đó riêng
đồng bằng sông Hồng có 800 làng nghề. Đa số các làng nghề bị ô nhiễm bởi
chất thải sản xuất, bụi, khí độc, cặn bã, nước thải xả ra trong quá trình sản
xuất được thải trực tiếp ra môi trường gây ô nhễm cục bộ, làm ảnh hưởng
trực tiếp đến sức khỏe người dân.
Bảo đảm vệ sinh môi trường trong nông thôn còn yếu, chưa kiểm soát
được vấn đề ô nhiễm trong nông thôn. Tình hình xả chất thải trong sinh hoạt
nông thôn và sản xuất nông nghiệp còn bừa bãi, hiện chưa có hệ thống thu
gom chất thải để xử lý. Cả nước còn gần 30% dân số nông thôn chưa được
tiếp cận nguồn nước hợp vệ sinh. Số lượng làng ung thư bị phát hiện ngày
càng lớn gây nhiều bức xúc trong dự luận.
6