PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Trong chiến lược phát triển kinh tế của Việt Nam, nông nghiệp được
coi là nền móng cho sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế, đặc biệt khi Việt
Nam thực hiện chính sách mở cửa, gia nhập tổ chức thương mại thế giới
(WTO). Thương mại nông nghiệp đã đóng góp lớn vào nguồn thu ngoại tệ,
tăng thu nhập cho khu vực nông nghiệp, cải thiện đời sống của người dân
nông thôn.
Một trong những điều kiện công nghiệp hóa – hiện đại hóa nông nghiệp
để phát triển kinh tế nông thôn là phải tích lũy tư bản để có thể tái sản xuất
mở rộng. Trong đó, tín dụng chính thống cho nông nghiệp là công cụ chủ yếu,
hiệu quả kích thích các hoạt động tạo thu nhập, giúp người nông dân có vốn
đầu tư và tái sản xuất mở rộng, từ đó giúp người nông dân vượt khỏi đói
nghèo và vươn lên làm giàu.
Tín dụng rất cấn thiết đối với các hộ nông nghiệp nhỏ ở nông thôn so
với các nghề khác bởi vì
khoảng
thời gian giữa lúc sử dụng đầu vào và mùa
thu hoạch dài, trong quá trình sản xuất gặp phải rất nhiều rủi ro. Điều đó liên
quan đến cả kinh phí
mua
đầu vào (giống, thuê làm đất,…) lẫn lao động. Đối
với các hộ nhỏ yêu cầu vốn lưu động đó rất
khó
có thể tìm thấy từ nguồn tiền
tiết kiệm và cần phải tiếp cận nguồn tín dụng ngắn hạn.
Trong những năm gần đây, tín dụng Việt Nam đặc biệt là tín dụng
chính thống cho nông nghiệp đã có những bước phát triển đáng kể về quy mô,
nguồn vốn, đối tượng vay vốn… Đạt được những thành công đó là nhờ có hệ
thống ngân hàng cùng các tổ chức tín dụng như: Ngân hàng nông nghiệp và
2
PHẦN 2
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1. Khái niệm tín dụng
Thuật ngữ tín dụng xuất phát từ chữ Latinh: Creditium có nghĩa là tin
tưởng, tín nhiệm. Trong tiếng Anh được gọi là Credit. Theo ngôn ngữ dân
gian Việt Nam tín dụng có nghĩa là sự vay mượn
Tín dụng đã xuất hiện từ khi xã hội có phân công lao động, sản xuất và
trao đổi hàng hóa. Trong quá trình trao đổi hàng hóa đã hình thành những sự
kiện nợ nần lẫn nhau, phát sinh những quan hệ vay mượn để thanh toán. Như
vậy theo nghĩa hẹp, tín dụng là một quan hệ kinh tế hình thành trong một quá
trình chuyển hóa giá trị giữa hình thái hiện vật và hình thái tiền tệ từ tổ chức
này sang tổ chức khác hay từ tay người này sang tay người khác theo nguyên
tác hoàn trả vốn và lãi trong một thời gian nhất định. Nói cách khác, tín dụng
là sự chuyên nhượng quyển sử dụng một lượng giá trị nhất định dưới hình
thức hiện vật hay tiền tệ trong một thời gian nhất định từ người sở hữu sang
người sử dụng và khi đến hạn người sử dụng phải hoàn trả lại cho người sở
hữu với một lượng giá trị lớn hơn. Khoản giá trị dôi ra này được gọi là lợi tức
tín dụng.
2.2. Phân loại tín dụng
Khi nền kinh tế càng phát triển thì quan hệ tín dụng càng đa dạng. Tùy
theo từng tiêu thức khác nhau mà có thể phann loại tín dụng ra các hình thức
tương ứng.
2.2.1. Căn cứ vào thời hạn tín dụng
- Tín dụng ngắn hạn: là tín dụng có thời hạn dưới 1 năm
- Tín dụng trung hạn: là tín dụng có thời hạn từ 1năm đến 5 năm
- Tín dụng dài hạn: là tín dụng có thời hạn trên 5 năm .
2.2.2. Căn cứ vào tính pháp lý của tín dụng
- Tín dụng chính thức: là hình thức tín dụng giữa một chủ thể có đăng
ký hoạt động công khai theo pháp luật, chịu sự giám sát quản lí của các cấp
xuất vào những lĩnh vực có hiệu quả kinh tế cao, tạo ra khối lượng sản phẩm
hàng hóa dồi dào, đáp ứng tốt quan hệ cung cầu trên thị trường hàng hóa, tiền
tệ. Điều này đồng nghĩa với tác động thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế
nông nghiệp nông thôn theo hướng công nghiệp hóa hiện đại hóa
4
2.3.1.2. Chức năng của tín dụng :
Mỗi một quốc gia có nền kinh tế thị trường đều cần đến một hệ thống
tài chính thực hiện chức năng chuyển vốn từ người có tiền nhàn rỗi (dư vốn)
sang người cần tiền (thiếu vốn) có cơ hội đầu tư sinh lợi. Hoạt động tài chính
đủ mạnh sẽ giúp nâng cao hiệu quả sản xuất của toàn bộ nền kinh tế cũng như
góp phần nâng cao đời sống kinh tế của các thành viên trong xã hội.
Trong nền kinh tế thị trường, tín dụng có hai chức năng chủ yếu :
Một là, chức năng phân phối lại tài nguyên : Tín dụng là sự vận động
vốn từ chủ thể có vốn tạm thời nhàn rỗi sang chủ thể cần vốn để phát triển sản
xuất hoặc chi tiêu. Đi theo sự vận động đó là sự vận động của sản phẩm xã
hội. Hay nói cách khác đi, người nhận được số vốn đi vay được phân phối lại
một bộ phận tài nguyên của xã hội
Hai là, chức năng thúc đẩy phát triển sản xuất, lưu thông hàng hóa.
Ngày nay, khối lượng tiền cung ứng cho lưu thông chủ yếu thông qua con
đường tín dụng. Đây là cơ sở đảm bảo lưu thông tiền tệ ổn định, đồng thời
đảm bảo đủ phương tiện (tiền tệ) để phục vụ cho lưu thông. Nhờ vào hoạt
động tín dụng và nâng cao hiệu quả tín dụng mà ngân hàng tạo ra tiền để phục
vụ cho sản xuất và lưu thông hàng hóa, qua đó thúc đẩy sản xuất và lưu thông
hàng hóa phát triển.
2.3.2. Một số khái niệm
2.3.2.1. Khái niệm tài chính vi mô
Tài chính vi mô là dịch vụ tài chính cho các khách hàng có thu nhập
thấp, bao gồm cả những người làm ăn cá thể.Cùng với các trung gian tài
chính, rất nhiều các tổ chức tài chính vi mô cung cấp các dịch vụ trung gian
mang tính xã hội, như hình thành tổ chức nhóm, phát triển tính tự tin, đào tạo
các ngân hàng đối tác. Chưa đáp ứng được nhu cầu vay vốn là một trong
những nguyên nhân dẫn đến việc sử dụng vốn vay không có hiệu quả và sai
mục đích. Nhiều hộ được vay vốn nhưng chỉ được đáp ứng một phần nhỏ so
với nhu cầu, do đó buộc phải thay đổi phương án sử dụng vốn hoặc là chờ
vốn vay từ các nguồn khác.
Bộ từng quốc gia, tùy theo mục tiêu chiến lược kinh tế cụ thể mà có các
chương trình tín dụng riêng biệt đặc thù trong từng lĩnh vực trong một thời
hạn nhất định.
6
2.3.2.2. Tổ chức tín dụng
Tổ chức tín dụng: là doanh nghiệp được thành lập theo quy định của
luật các tổ chức tín dụng và các quy định khác của pháp luật để hoạt động
kinh doanh tiền tệ, làm dịch vụ ngân hàng với nội dung nhận tiền gửi và sử
dụng tiền gửi để cấp tín dụng, cung ứng các dịch vụ thanh toán.
Các tổ chức tín dụng nước ta gồm có: các tổ chức tín dụng nhà nước,
các tổ chức tín dụng cổ phần của nhà nước và tư nhân, các tổ chức tín dụng
hợp tác.
2.3.2.3. Chương trình tín dụng, dự án tín dụng
Trong kinh tế quốc tế, ngoài tín dụng ở tầm vi mô giữa các doanh
nghiệp khác quốc tịch với nhau, còn có các chương trình tín dụng, dự án tín
dụng vĩ mô giữa các chính phủ, các chương trình tín dụng, dự án tín dụng vi
mô của các tổ chức phi chính phủ. Trong nội bộ từng quốc gia, tùy theo mục
tiêu chiến lược kinh tế cụ thể mà có các chương trình, dự án tín dụng riêng
biệt đặc thù trong từng lĩnh vực trong một thời hạn nhất định.
2.4. Khái quát chung về nông hộ
2.4.1. Khái niệm về hộ nông dân
Hộ nông dân là đối tượng nghiên cứu chủ yếu của khoa học nông
nghiệp và phát triển nông nghiệp nông thôn. Có rất nhiều định nghĩa về hộ
nông dân.
Theo giáo sư Frank Ellis Trường đại học Cambridge (1988): Hộ nông
- Nhìn chung phần lớn nông hộ có ý thức vay, trả sòng phẳng.
- Trong trường hợp bất khả kháng, không có khả năng trả nợ của các
nộng dân thường gắn liền với mùa màng thất bát, thiên tai dịch bệnh hoặc yếu
tố thị trường.
2.5. Vốn trong sản xuất nông nghiệp
2.5.1. Khái niệm và phân loại.
Vốn là nguồn lực hạn chế đối với các nền kinh tế nói chung, nông
nghiệp nói riêng. Vốn sản xuất vận động không ngừng từ phạm vi sản xuất
sang phạm vi lưu thông và trở về sản xuất. Hình thức của vốn sản xuất cũng
thay đổi từ hình thức tiền tệ sang hình thức tư liệu sản xuất và tiền lương cho
nhân công đến sản phẩm hàng hóa và trở lại hình thức tiền tệ…Như vậy, vốn
sản xuất trong nông nghiệp là biểu hiện bằng tiền của tư liệu lao động và đối
tượng lao động được sử dụng vào sản xuất nông nghiệp.
8
Tư liệu lao động là điều kiện vật chất không thể thiếu được trong hoạt
động sản xuất kinh doanh. Có nhiều loại tư liệu lao động và công dụng của
mỗi loại không giống nhau, nhưng chúng đều có tính chất chung là giữ vai trò
môi giới trong quá trình lao động, tạo nên sự kết hợp giữa người lao động và
đối tượng lao động. Để tiến hành sản xuất kinh doanh cần thiết phải ứng trước
một số tiền vốn nhất định để mua sắm tư liệu lao động. Trong quá trình sản
xuất, tư liệu lao động không thay đổi hình thái vật chất ban đầu và tham gia
vào nhiều chu kỳ sản xuất sản phẩm mới theo mức độ hao mòn. Vốn đầu tư
ban đầu thu hồi từng phần sau mỗi chu kỳ sản xuất thông qua quỹ khấu hao.
Tài sản cố định hết thời hạn sử dụng sẽ được thanh lý, đào thải. Do đặc điểm
của quá trình luân chuyển, hình thái vật chất của tư liệu lao động được gọi là
tài sản cố định và phần vốn ứng trước được gọi là vốn cố định. Tài sản cố
định phải có đủ hai điều kiện: đạt giá trị tối thiểu theo quy định và thời hạn sử
dụng phải trên một năm. Giá trị tối thiểu tùy thuộc vào từng thời kỳ và do bộ
tài chính có quy định cụ thể.
Như vậy, vốn cố định là số vốn ứng trước để mua sắm tư liệu lao động
- Chu kỳ sản xuất dài và tính thời vụ trong nông nghiệp một mặt làm
cho sự tuần hoàn và luân chuyển chậm chạp, kéo dài thời gian thu hồi vốn cố
định, tạo ra sự cần thiết phải dự trữ đáng kể trong thời gian tương đối dài của
vốn lưu động và làm cho vốn ứ động. Mặt khác sự cần thiết và có khả năng
tập trung hóa cao về phương tiện kỹ thuật trên một lao động nông nghiệp so
với lao động công nghiệp.
- Sản xuất nông nghiệp phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên, nên việc
sử dụng vốn gặp nhiều rủi ro, làm tổn thất hoặc giảm hiệu quả sử dụng vốn.
- Một bộ phận sản xuất nông nghiệp thông qua lĩnh vực lưu thông mà
được chuyển trực tiếp làm tư liệu sản xuất cho bản thân ngành nông nghiệp,
do vòng tuần hoàn vốn sản xuất được chia thành vòng tuần hoàn đầy đủ và
không đầy đủ. Vòng tuần hoàn không đầy đủ là vòng tuần hoàn của một bộ
phận vốn không được thực hiện ở ngoài thị trường và được tiêu dùng trong
nội bộ nông nghiệp khi vốn lưu động được khôi phục trong hình thái hiện vật
của chúng. Vòng tuần hoàn đầy đủ yêu cầu vốn lưu động phải trải qua tất cả
các giai đoạn, trong đó có giai đoạn tiêu thụ sản phẩm.
2.5.3. Vai trò của vốn sản xuất đối với sự phát triển của hộ nông dân.
Vốn sản xuất là nguồn lực có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển
của kinh tế hộ, mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của nông hộ muốn tiến
hành được thì đòi hỏi cần phải có vốn
10
Vốn là điều kiện tiên quyết cho quá trình sản xuất nông nghiệp theo
hướng sản xuất hàng hóa ở các hộ nông dân. Vì nếu có vốn sản xuất, hộ nông
dân có thể cải tiến công cụ, mua sắm nhiều máy móc hiện đại phục vụ cho sản
xuất, từ đó nâng cao năng suất lao động. Có vốn hộ nông dân có thể mở rộng
được quy mô sản xuất, áp dụng được nhiều thành tựu khoa học - kỹ thuật vào
hoạt động sản xuất của mình, đưa nhiều giống mới có năng suất, chất lượng
cao vào sản xuất, có thể đa dạng hóa cơ cấu cây trồng - vật nuôi một cách hợp
lí. Vốn sản xuất còn là điều kiện cần để giúp cho các hộ nông dân tiến hành
tái sản xuất mở rộng, giúp cho các nông hộ có thể khai thác các nguồn lực
địa bàn rộng, thị trường tiêu thụ hàng hóa khó khăn; chi phí quản lý ngân
hàng cao, thua lỗ lớn, không kích thích ngân hàng thương mại bỏ vốn vào
kinh doanh, tâm lý của người dân là vay vốn của chính phủ nên ít quan tâm
đến việc trả nợ. Để tồn tại và phát triển, trong nhưng năm gần đây, các ngân
hàng chuyên doanh đều có xu hướng chuyển sang kinh doanh tổng hợp, đa
dạng các loại hình tín dụng: lấy lãi cho vay từ ngành có lợi nhuận cao để hỗ
trợ cho ngành có hiệu quả thấp. Đại diện cho số ít các ngân hàng chuyên
doanh trong lĩnh vực nông nghiệp hoạt động tốt là ngân hàng Nông nghiệp
Ailen, ngân hàng LandBank (Phillipin), ngân hàng Nông nghiệp và hợp tác xã
nông nghiệp Thái Lan, ngân hàng Grameem (Bangladesh), ngân hàng Rakyat
(Indonesia).
- Hệ thống tiết kiệm và hợp tác xã tín dụng: dù khác nhau về tên gọi
nhưng đều có chung đặc điểm cơ bản sau: gắn bó với nông dân, do cộng đồng
dân cư sáng lập theo nguyên tắc tự nguyện, tự quản, tự chịu trách nhiệm; đáp
ứng được yêu cầu đa dạng ở nông thôn, thủ tục cho vay đơn giản, hạn chế
được rỉu ro; vốn vay thường ưu tiên cho những nhu cầu thiết yếu (xây nhà ở,
y tế, giáo dục…) hơn là đầu tư cho những chương trình, dự án sản xuất kinh
doanh. Tuy nhiên hệ thống tiết kiệm và hợp tác xã tín dụng chỉ phục vụ chủ
yếu cho các hộ từ trung bình trở lên có tiền gửi tiết kiệm, hộ nghèo bị hạn
chế.
- Các tổ chức tự phát cho vay vốn: loại hình tín dụng này rất phổ biến
trên thế giới, thường nảy sinh ở những nơi chưa tổ chức được hoạt động tín
dụng hoặc các tổ chức tín dụng hoạt động chưa đủ mạnh, chưa đáp ứng được
hết nhu cầu vay vốn của người dân, khiến cho nhu cầu về vốn căng thẳng. Tổ
chức hoạt động tín dụng tự phát thường áp dụng hình thức cho vay ngắn hạn,
12
lãi suất cho vay cao, thủ tục đơn giản, giải quyết cho vay nhanh. Đặc điểm
cho vay phù hợp với những đối tượng có nhu cầu cấp bách về vốn.
2.6.2. Tình hình tín dụng nông thôn ở Việt Nam
Chủ trương chính sách của Đảng và nhà nước về tín dụng nông thôn.
Diêm nghiệp và điều chỉnh cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn. Các Tổ
chức tín dụng hoạt động dưới nhiều hình thức đa dạng ở nông thôn với lãi
suất thỏa thuận; tăng mức cho vay và tạo thuận lợi về thủ tục cho vay đối với
người sản xuất và các tổ chức kinh tế ở nông thôn. Nếu sản xuất, các tổ chức
kinh tế ở nông thôn được thế chấp bằng tài sản hình thành từ nguồn vốn vay
để vay vốn ngân hàng, được vay vốn tín chấp và vay vốn theo dự án sản xuất
kinh doanh có hiệu qủa…
Tình hình tín dụng ở nông thôn Việt Nam.
Từ chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về vấn đề tín dụng
phát triển nông nghiệp, nông thôn, thị trường vốn tín dụng lĩnh vực nông
nghiệp, nông thôn nước ta ngày một phát triển. Việc huy động nguồn vố tín
dụng nói chung, tín dụng cho phát triển nông nghiệp, nông thôn nói riêng
không ngừng được tích cực thực hiện, nhằm đáp ứng tốt nhu cầu về vốn sản
xuất nông nghiệp ngày một lớn. Hiện nay, nguồn vốn cho phát triển nông
nghiệp, nông thôn nước ta bao gồm:
- Vốn do các ngân hàng huy động
- Vốn ngân sách nhà nước
- Vốn vay từ các tổ chức tài chính quốc tế, các tổ chức tín dụng nước
ngoài.
Ngoài các nguồn vốn do các ngân hàng huy động, hàng năm nhà nước
dành một phần vốn từ ngân sách chuyển sang để cho vay thực hiện các
chương trình kinh tế theo chính sách nhà nước. Đồng thời, nhà nước cũng
tranh thủ huy động các nguồn vốn từ nước ngoài kể cả vốn ODA và vốn vay
thương mại.
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, sự thông thoáng của
chủ trương, chính sách, hệ thống tín dụng nông thôn nước ta ngày càng đa
dạng, với nhiều loại hình Tổ chức tín dụng, chính thức hoặc không chính
thức, hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động chính sách. Hiện nay tham gia vào
hệ thống tín dụng nông thôn Việt Nam bao gồm các tổ chức tín dụng chính
thức (Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn, Ngân hàng công
Ninhvà Tân Ninh của huyện Quảng Ninh - tỉnh Quảng Bình, phạm vi nghiên
cứu là từ lúc bắt đầu triển khai dự án tại hai xã này (năm 2005) cho đến tháng
5/2011. Những số liệu có từ phỏng vấn người am hiểu và thành viên nhóm tiết
kiệm - tín dụng được thu thập trong năm 2011.
* Đối tượng nghiên cứu.
- Nghiên cứu các hội, tổ chức, nhóm tiết kiệm tín dụng do dự án phân
cấp giảm nghèo xây dựng đã và đang hoạt động tại huyện Quảng Ninh (điểm
nghiên cứu là hai xã Duy Ninh và Tân Ninh).
- Nghiên cứu những hộ tham gia ( những hộ đó là thành viên của nhóm
tiết kiệm và tín dụng của dự án).
3.2. Nội dung nghiên cứu
-Nghiên cứu hợp phần dịch vụ tài chính nông thôn thuộc Dự án Phân
cấp giảm nghèo Quảng Bình.
+Các căn cứ, mục tiêu, đối tượng, phạm vi và phương pháp tiếp cận
của chương trình dịch vụ tài chính nông thôn.
+ Các hoạt động của hợp phần tài chính nông thôn.
+Tiến trình xây dựng chương trình dịch vụ tài chính nông thôn của dự
án phân cấp giảm nghèo trên địa bàn nghiên cứu.
- Tìm hiểu thực trạng hoạt động của các nhóm tiết kiệm - tín dụng trên
địa bàn hai xã Duy Ninh và Tân Ninh bao gồm:
+ Đặc điểm của các nhóm tiết kiệm-tín dụng tại vùng nghiên cứu.
+ Hoạt động tiết kiệm và vay vốn của các nhóm TK-TD.
+ Đánh giá các hoạt động của nhóm tiết kiệm tín dụng tại điểm nghiên
cứu : bao gồm nhu cầu gửi tiết kiệm, nhu cầu vay vốn và mức độ đáp ứng vốn
vay cho các thành viên, tình hình thực hiện các quy chế của thành viên.
16
- Nghiên cứu sự tác động của vốn tín dụng đến kết quả và hiệu quả sản
xuất của nông hộ, mức thu nhập,mức độ tham gia vào các hoạt động xã hội.
-Đề xuất một số giải pháp nhằm mở rộng hoạt động tín dụng, đặc biệt
là các tổ nhóm TK-TD trên địa bàn nghiên cứu nhằm nâng cao hiệu quả giảm
+ Thông tin chung về các thành viên nhóm TKTD, như trình độ văn
hóa, tuổi, số nhân khẩu, số lao động, nguồn thu nhập hộ, mức thu nhập bình
quân hộ.
+Tiến trình tham gia nhóm tiết kiệm-tín dụng của hộ.
+ Mức đóng góp vào quỹ vốn của nhóm.
+ Những hiểu biết về tổ chức tín dụng của dự án phân cấp giảm nghèo.
+Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định vay vốn, cách tiếp cận nguồn
vốn tín dụng của hộ.
+ Khoản tiết kiệm đóng góp của hộ, định kỳ đóng góp.
+ Khoảng chênh lệch giữa thực tế và nhu cầu về: mức vay, thời hạn
vay, cách thức hoàn trả…
+ Sự thay đổi mức độ tham gia vào các hoạt động xã hội.
+Những lợi ích và ràng buộc, năng lực quản lí và sử dụng vốn của hộ.
- Thảo luận nhóm: Thu thập thông tin điều tra của người dân về tầm
quan trọng, sự thành công cũng như thất bại của hợp phần tín dụng, xác định
sự tham gia của người dân vào các nhóm tiết kiệm tín dụng.
3.3.3. Phân tích và xử lý số liệu
+ Nghiên cứu này sử dụng hai phương pháp phân tích: Phân tích định
tính và phân tích định lượng, nhằm tìm hiểu, đánh giá các hoạt động của
nhóm tiết kiệm - tín dụng của hợp phần tín dụng do dự án phân cấp giảm
nghèo xây dựng.
+ Số liệu được xử lý bằng phần mềm Excel.
+ Hệ thống các chỉ tiêu được phân tích, đánh giá thông qua sử dụng các
phương pháp so sánh, số bình quân các chỉ số so sánh, phân tích một cách có
hệ thống, xây dựng hệ thống bảng biểu để từ đó rút ra kết luận và xu hướng
phát triển của hiện tượng. Phân tích so sánh giữa các nhóm hộ nhằm rút
ra các kết luận về sự thành công hay thất bại của các nhóm TKTD trong
hợp phần dịch vụ tài chính nông thôn, và kết quả xóa đói giảm nghèo của
các hộ nông dân.
18
% 1.3 0.8
- Tỷ lệ hộ nghèo
% 9,6 7,4
(Nguồn: Báo cáo tình hình kinh tế xã hội xã Duy Ninh và xã Tân Ninh năm 2010)
19
Qua bảng trên ta thấy các hộ chủ yếu là hoạt động trong lĩnh vực nông
nghiệp. Xã Duy Ninh có 975 hộ với 3.643 khẩu, trong đó có 851 hộ nông
nghiệp (chiếm 87,2%) và 161 hộ phi nông nghiệp (chiếm 12,8%). Tổng số
2.897 lao động, Lao động nông nghiệp của xã Duy Ninh là 2.325 người chiếm
80,2%. Số lao động tham gia vào các ngành nghề, dịch vụ khác là 572, chiếm 19,8%.
Tân Ninh có 1.147 hộ với 5.361khẩu, trong đó hộ nông nghiệp có 906
hộ chiếm 78,9% và 241 hộ phi nông nghiệp chiếm 21,1%. Trong tổng số
4.176 lao động có đến 3.547 lao động nông nghiệp chiếm 84,9; 629 lao động
còn lại thuộc các ngành nghề, dịch vụ khác chiếm 16,1 %
Với phần lớn dân cư hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, nhìn chung
điều kiện kinh tế của các hộ gia đình ở hai xã Duy Ninh và Tân Ninh không
có sự chênh lệch lớn và cũng còn nhiều khó khăn. Năm 2010, tỉ lệ hộ nghèo
của xã Duy Ninh là 9,6 %; xã Tân Ninh là 7,4%. Tốc độ gia tăng dân số của
hai xã năm 2010 vẫn còn khá cao, xã Duy Ninh là 1,3% và Tân Ninh là 0,8%. Chính
tỉ lệ hộ nghèo và tốc độ gia tăng dân số cao là một trở ngại không nhỏ đối với hai xã
trong quá trình phát triển kinh tế đi lên trong xu thế hội nhập hiện nay.
4.1.3. Tình hình sử dụng đất đai
Bảng 2. Hiện trạng sử dụng đất của xã Duy Ninh và Tân Ninh năm 2010.
Chỉ tiêu Duy Ninh Tân Ninh
Diện tích
(ha)
Cơ cấu
(%)
Diện tích
(ha)
Hai xã là xã đồng bằng nên diện tích đất lâm nghiệp khá thấp.Ở Duy
Ninh chỉ 16,5 ha (chiếm 2,56) còn thì nhiều hơn ở Tân Ninh nhưng cũng chỉ
57ha (8,14 %).
4.1.4 Khái quát về hoạt động kinh tế của vùng nghiên cứu
Hoạt động kinh tế của hai xã Duy Ninh và Tân Ninh cũng có những nét
thể hiện ở bảng sau đây:
Bảng 3: Cơ cấu thu nhập của xã Duy Ninh và Tân Ninh năm 2010
Lĩnh vực sản xuất
Duy Ninh Tân Ninh
Quy mô
(tỷ đồng)
Cơ cấu
(%)
Quy mô
(tỷ đồng)
Cơ cấu
(%)
- Nông nghiệp
29,65 72,5 31,14 62,52
+ Trồng trọt
16,6 40,12 16,45 35,76
+ Chăn nuôi
9,45 23,11 12,32 26,78
+ Lâm nghiêp
1.3 93,18 1,23 2,67
+ Nuôi trồng thuỷ sản
2,3 2,5 1,14 2,48
- Phi nông nghiệp
10,23 27,5 15,67 37,48
+ Thương mại dịch vụ
trường vốn tín dụng, sự khác biệt này xuất phát từ đặc điểm, phương thức
hoạt động của các tổ chức cá nhân đó.
- NHNo& PTNT huyện Quảng Ninh: có trụ sợ đặt tại thị trấn Quán
Hàu, huyện Quảng Ninh. Ngân hàng NN&PTNT huyện Quảng Ninh có chức
năng như một ngân hàng thương mại, chuyên kinh doanh trong khu vực nông
nghiệp, nông thôn huyện. Đối tượng phục vụ ban đầu của ngân hàng ban đầu
là doanh nghiệp Nhà nước, nhưng do sự phát triển kinh tế của nền kinh tế thị
trường và sự tham gia của ngân hàng cổ phần tư nhân nên NHNo&PTNT bắt
22
đầu chuyển cho các hộ vay với số vốn quy mô nhỏ. Ngoài ra, ngân hàng còn
phối hợp với các tổ chức quần chúng như hội phụ nữ, hội nông dân để cung
cấp dịch vụ tài chính cho những người là hội viên của tổ chức quần chúng đó.
Chính nhờ những biện pháp này mà đối tượng khác hàng của NHNo&PTNT
không ngừng được phát triển
- NHCSXH huyện Quảng Ninh: Ngày 04/10/2002 Chính phủ ban
hành nghị định số 78/2002/NĐ- CP về tín dụng đối với người nghèo và các
đối tượng chính sách khác. Thủ tướng chính phủ ra quyết định số 131/QĐ-
TTg ngày 21/10/2002 thành lập ngân hàng chính sách xã hội. Đánh dấu sự ra
đời của loại hình ngân hàng chính sách hoạt động phi lợi nhuận, chuyên tâm
về thực hiện chính sách tín dụng ưu đãi của chính phủ đối với hộ nghèo và
các đối tượng chính sách khác.
Thực hiện quyết định số 560/QĐ- HĐQT ngày 10/5/2003 của chủ tịch
hồi đồng quản trị Ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam. Ngân hàng CSXH
huyện Quảng Ninh chính thức được thành lập và đi vào hoạt động. Từ thời
điểm đó NHCSXH huyện Quảng Ninh chính thức trở thành TCTD duy nhất
trên địa bàn thực hiện mục tiêu quốc gia - cho các hộ nghèo và các đối tượng
chính sách vay vốn. Chức năng của ngân hàng là tạo ra kênh tín dụng cho các
đối tượng là hộ nghèo với lãi suất ưu đãi nhằm tạo công ăn việc làm, phát
triển kinh tế hộ nhằm thực hiện mục tiêu xóa đói giảm nghèo
- Tổ chức tín dụng phi chính thức: các hình thức cho vay nóng, vay
4.3. Hợp phần Dịch vụ tài chính nông thôn của dự án Phân cấp giảm
nghèo tỉnh Quảng Bình
4.3.1. Các căn cứ, mục tiêu, đối tượng, phạm vi và phương pháp tiếp cận
* Căn cứ:
- Quảng Bình là địa phương mà nông nghiệp đóng vai trò chủ đạo trong
cơ cấu kinh tế. Đa phần dân cư hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, lao
động nông nghiệp chiếm %. Quảng Bình cũng là địa phương có nhiều xã
nghèo, xã miền núi, vùng sâu vùng xa. Các hộ gia đình nghèo và trung bình,
đặc biệt là nhân dân miền núi, vùng sâu vùng xa khó có cơ hội tiếp cận với
các dịch vụ tài chính của ngân hàng để phát triển kinh tế hộ bởi nhiều nguyên
nhân như: điều kiện giao thông, thông tin liên lạc khó khăn; các hộ nghèo
thường không có khả năng bảo lãnh thế chấp để bảo đảm cho khoản vay của
mình ở các ngân hàng.
24
- Ý thức về tiết kiệm hay dự trữ tài chính và tác dụng của nó chưa được
người dân cũng như các cấp chú trọng; trong khi nó có thể là công cụ có tác
động mạnh chống đói nghèo và là một phương tiện dịch vụ tài chính bền
vững, giúp người dân tăng thu nhập, gây dựng vốn liếng, giảm bớt những tổn
thương do tác động ngoại cảnh mang lại…
- Nhiều nhóm TK - TD ở các địa phương khác đã thành công trong việc
cung cấp các dịch vụ tài chính và phi tài chính cho các thành viên, giải quyết
được các khó khăn về thể chế.
Hợp phần dịch vụ tài chính nông thôn này được triển khai nhằm giúp cho
nhóm đối tượng nghèo được hưởng lợi ích từ các dịch vụ tài chính cơ bản qua
các nhóm TK-TD. Trong đó, mạng lưới các nhà cung cấp dịch vụ tài chính được
thực hiện trên cơ sở các tổ chức đoàn thể, năng lực của họ sẽ được tăng cường
để họ hỗ trợ một cách có hiệu quả và đầy đủ cho các nhóm TK-TD.
* Mục tiêu:
Dự án có 4 mục tiêu:
- Hỗ trợ nhóm dân số mục tiêu ở khu vực nông thôn miền núi nâng cao