PHẦN 1
MỞ ĐẦU, MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Rau xanh là thực phẩm không thể thiếu được trong bữa ăn hằng ngày của
mọi gia đình. Ở nước ta trong giai đoạn hiện nay, khi mà sản xuất nông nghiệp đã
đạt được những thành tựu nổi bật; trong cơ cấu bữa ăn hàng ngày đã đảm bảo
được lương thực và thức ăn giàu đạm thì yêu cầu về số lượng và chất lượng rau
lại càng gia tăng. Điều đó có ý nghĩa như một nhân tố tích cực trong cân bằng dinh
dưỡng và kéo dài tuổi thọ của con người. Rau cung cấp cho cơ thể con người các
chất dinh dưỡng quan trọng như các loại vitamin, muối khoáng, axit hữu cơ, các
hợp chất thơm, cũng như protein, lipit, chất xơ…Vai trò của cây rau được khẳng
định qua câu tục ngữ: “ cơm không rau như đau không thuốc”. Giá trị cây rau
được thể hiện nhiều mặt trong cuộc sống [3].
Sản xuất rau là một ngành sản xuất truyền thống của nông nghiệp
Việt Nam. Nhân dân ta đã đúc rút nhiều kinh nghiệm trong việc chăm sóc,
huấn luyện cây con, chống nóng, chống rét, trồng rau rải vụ, trái vụ… Tuy
nhiên, trong xu thế của một nền nông nghiệp sản xuất thâm canh, bên cạnh
gia tăng về khối lượng, chủng loại, ngành trồng rau đang bộc lộ mặt trái
của nó: việc ứng dụng ồ ạt, thiếu chọn lọc các tiến bộ kỹ thuật về hóa học,
nông hóa thổ nhưỡng, công nghệ sinh học, gia tăng về nước thải công
nghiệp đã làm gia tăng mức độ ô nhiễm các sản phẩm rau xanh.
Do đặc điểm của rau chứa nhiều nước, tế bào mỏng, quá trình sản
xuất phải thâm canh cao, bón nhiều phân, rau lại là đối tượng cho nhiều
loại sâu, bệnh gây hại. Mặt khác, nông dân một phần do hiểu biết hạn chế,
một phần do thiếu ý thức, chạy theo lợi nhuận, không quan tâm đến an toàn
rau cho người tiêu dùng. Trong quá trình sản xuất, người nông dân đã dùng
các biện pháp hóa học để phòng trừ không đúng quy định, tiêu chuẩn của
thuốc hóa học, dùng phân hóa học quá liều lượng, sử dụng phân tươi… đã
1
làm cho rau xanh ngày càng bị ô nhiễm ảnh hưởng đến sức khỏe con người
và môi trường sinh thái.
nhu cầu rau an toàn của người dân thành phố.
- Xác định các giải pháp phát triển thị trường rau xanh đáp ứng nhu
cầu người tiêu dùng.
3
PHẦN 2
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1. Giới thiệu về cây rau
2.1.1. Nguồn gốc và sự phân bố
Việt Nam nằm ở vùng Đông Nam châu Á, với chiều dài khoảng 15
vĩ độ, có bờ biển dài khoảng 3.000 km; thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió
mùa, có mùa đông lạnh; vị trí địa lý, khí hậu có nhiều thuận lợi cho việc
trồng nhiều loại rau nhiệt đới và một số rau ôn đới; mùa vụ thu hoạch kế
tiếp nhau nhiều tháng trong năm. Tuy vậy, cũng có nhiều bất lợi về khí hậu
như mưa lũ, bão, hạn hán xảy ra thất thường. Đặc biệt do ảnh hưởng của
biến đổi khí hậu, các hiện tượng này xảy ra cường độ ngày càng mạnh và
tần suất càng lớn.
Rau rất đa dạng và phong phú về chủng loại, theo ước tính có 10.000
loài thực vật được dùng làm rau trên khắp thế giới, nhưng chỉ có 50 loài có
giá trị thương mại, khoảng 70 – 80 loại rau trong sản xuất[3]. Theo nhiều
nguồn tài liệu khác nhau, hiện có khoảng 70 loài rau ôn đới, á nhiệt đới,
cận nhiệt đới và nhiệt đới đã trồng ở Việt Nam[1].
Các vùng trồng rau của cả nước bao gồm các tỉnh phía Bắc thuộc
vùng đồng bằng sông Hồng. Phía Nam, các huyện ngoại thành TP. Hồ Chí
Minh, đồng bằng sông Cửu Long như Tân Hiệp – Tiền Giang, Châu
Thành- Cần Thơ, Vĩnh Châu – Sóc Trăng. Miền Trung và Tây Nguyên
gồm vùng rau truyền thống như Đà Lạt, Đơn Dương, Đức Trọng (Lâm
Đồng), các tỉnh duyên hải miền Trung[3].
Ở nước ta hiện nay có 2 vùng trồng rau chủ yếu:
- Vùng rau tập trung chuyên canh ven thành phố và khu công nghiệp
với khoảng 40 % diện tích, 38% sản lượng. Chủng loại rau rất phong
ứng nhu cầu xuất khẩu. Đặc điểm của rau là có thời gian sinh trưởng ngắn
nên trong một năm có thể bố trí nhiều vụ rau khác nhau. Trồng rau góp
phần làm tăng hệ số sử dụng đất, tăng phẩm chất đất. Bên cạnh đó, sản xuất
5
rau còn làm tăng thu nhập của kinh tế hộ gia đình, hạn chế thời gian nhàn
rỗi của người dân ven thành phố, tăng thêm thu nhập trên đơn vị sử dụng
đất…
Bảng 2.1: So sánh hiệu quả sản xuất một số loại rau với các cây trồng
khác:
Loại cây Lúa Ngô Bắp cải
Cà
chua
Dưa
chuột
Năng suất( tạ/ hạ) 44.4 25 444.4 278.8 250
Giá bán bình quân
(đồng)
2.000 2.300 400 700 1.200
Tổng chi phí
- Chi phí vật chất
( 1000đ/ha)
5.050 2.417 6.028,3 5.157,1 6.447,8
- Chi phí lao
động(công/ha)
194,4 222 556 695 834
Tổng thu nhập
(1000đ/ha)
3.830 3.333 11.749,3 14.302,9 23.552,2
Thu nhập/công
(đồng/công)
so với tháng 1/2008. Dự kiến, kim ngạch xuất khẩu rau quả của ViệtNam
năm 2008 đạt 350 triệu USD, tăng 16,7% so với năm 2007.
Nước ta có tiềm năng lớn về sản xuất và xuất khẩu rau quả. Đến nay,
diện tích rau quả đạt trên 1,4 triệu ha, sản lượng trên 16 triệu tấn. Rau quả
Việt Nam đã được xuất khẩu sang hơn 50 quốc gia và khu vực trên thế giới
trong đó có nhiều thị trường có yêu cầu cao về chất lượng và khối lượng
như Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản, Nga, Hàn Quốc, Hoa Kỳ, Hồng
Kông nhưng nhìn chung kim ngạch còn thấp và chưa tương xứng với
tiềm năng[7].
Tuy có nhiều loại rau xuất khẩu dưới dạng tươi khá phong phú
nhưng nhìn chung, các loại rau xuất khẩu còn mang tính đơn điệu, nhỏ lé,
số lượng ít, thiếu tính cạnh tranh. Phản ánh tình trạng sản xuất còn manh
7
mún, mặt hàng chế biến rau cho xuất khẩu còn ít… đây là những điểm yếu
cơ bản của xuất khẩu rau của Việt Nam hiện nay.
2.2. Tình hình sản xuất, tiêu thụ rau trên thế giới và trong nước
2.2.1. Trên thế giới
Khi mức sống của người dân tăng lên thì nhu cầu về rau quả cũng
tăng lên cả về số lượng và chất lượng. Theo tính toán của nhiều nhà khoa
học dinh dưỡng ở mỗi khu vực khác nhau trên thế giới thì nhu cầu về rau
quả cũng khác nhau ở khu vực Châu Á và Viễn Đông theo nghiên cứu dự
báo, cứ thu nhập tăng lên 0.1% thì nhu cầu về rau, đậu, quả tươi tăng lên
0.9%, đậu hạt tăng 0.5 %, đường tăng lên 1.3%. Sữa và sản phẩm từ sữa
tăng lên 1.8%, dầu mỡ bơ tăng lên 1.2%, ngũ cốc tăng lên 0.5%, thịt tăng
lên 0.5%, trứng tăng lên 2.0%, cá tăng 1.1% [2].
Theo tổng kết của FAO hiện nay diện tích trồng rau trên thế giới
đạt khoảng 15 triệu/ năm. Năng suất bình quân đạt 35-40 tấn/ ha. Sản lượng
đạt khoảng 600 triệu tấn, bình quân đầu người 85kg rau các loại/ năm, bao
gồm 120 chủng loại rau trong đó có 14 chủng loại rau chính có diện tích từ
500.000 ha trở lên. Điều này cho thấy sản lượng rau trên thế giới đã không
TP Huế 320 390 449 470 565 56,23
Phong Điền 278 200 223 337 339 82,0
Quảng Điền 177 298 320 399 365 48,49
Hương Trà 297 247 286 415 431 68,90
Phú Vang 612 650 638 805 850 72,0
Hương Thủy 279 276 286 310 315 88,57
Phú Lộc 159 212 241 225 201 79,1
9
Nam Đông 38 44 34 80 61 62,29
A lưới 96 108 112 101 101 95,05
Tổng số 2.256 2.245 2.589 3.122 3.234 69,75
Nguồn: Tài liệu thứ cấp, 2010
Qua bảng ta có thể thấy được diện tích rau của thành phố Huế và
các huyện qua các năm có xu hướng tăng ngày một nhanh, tổng diện tích
rau toàn tỉnh tăng 978h tương đương 0,24 %. Việc tăng diện tích rau của
toàn tỉnh có nhiều nguyên nhân, trong đó nguyên nhân quan trọng nhất là
do kinh tế của cây rau mang lại cao hơn hẳn so vói các cây lương thực
khác. Từ đó cây rau được nhiều người dân chọn để làm mục tiêu của việc
chuyển đổi cơ cấu cây trồng.
2.3. Rau an toàn và những vấn đề liên quan đến sản xuất rau an toàn ở
Việt Nam và Thừa Thiên Huế:
2.3.1 Khái niệm rau an toàn
- Rau quả an toàn là sản phẩm rau quả tươi được sản xuất, sơ chế
phù hợp với các quy định về bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm có trong
vietgap ( quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt cho rau quả tươi tại
Việt Nam) hoặc theo tiêu chuẩn gap khác tương đương vietgap và mẫu điển
hình đạt chỉ tiêu an toàn vệ sinh thực phẩm quy định tại phị lục 3 của quy
định này [4].
- Rau sạch được xem là đảm bảo sạch khi:
+ Về hình thức là sạch và hấp dẫn: tươi, sạch bụi bặm, không có tạp
- Đà Lạt: đây là vùng cung cấp rau an toàn chính cho khu vực phía
nam. ở đây người dân đã sớm hình thành mô hình sản xuất rau trong nhà
lưới. Hiện nay, người dân nơi đây đã đầu tư trồng rau công nghệ cao.
- Hà Nội: ở địa bàn thành phố Hà Nội đã xuất hiện nhiều mô hình
sản xuất rau an toàn có hiệu quả như họp tác xã trồng rau Văn Đức, huyện
Gia Lâm. Tại đây, các hộ gia đình tự lên kế hoạch sản xuất, chưa có sản
xuất theo hợp đồng. Hợp tác xã làm dịch vụ cung ứng giống và công tác
11
quy hoạch vùng rau, hướng dẫn kỹ thuật. Diện tích trồng rau an toàn ở đây
là 120 ha, chủ yếu là bắp cải( 30 ha), carot( 10 ha) và cà tím[1].
- Tại Thừa Thiên Huế : nhiều năm trở lại đây thành phố Huế nói
riêng và Thừa Thiên Huế nói chung đã hình thành các vùng sản xuất rau an
toàn như HTX Kim Thành, làng La Chữ, các phường Tây Lộc, Thuận
Lộc vấn đề rau an toàn ngày càng được người tiêu dùng quan tâm nhiều
hơn.
12
PHẦN 3
NỘI DUNG, ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Nội dung nghiên cứu
- Điều tra điều kiện tự nhiên tại thành phố Huế
+ Diện tích đất tự nhiên, đất nông nghiệp, đất trồng rau.
+ Thời tiết, khí hậu.
- Điều kiện kinh tế - xã hội của thành phố Huế
+ Dân số trên địa bàn
+ Thu nhập( 1000 đồng/ tháng).
+ Cơ cấu lao động
- Tình hình tiêu thụ rau xanh tại thành phố Huế
+ Sản lượng rau tiêu thụ hằng năm( kg).
+ Các loại rau được người dân sử dụng nhiều nhất
+ Các điểm bán rau chính trên địa bàn
- Phạm vi nghiên cứu:
Vùng nghiên cứu: Nghiên cứu này tập trung nghiên cứu tại hai
phường Tây Lộc và Thuận Hòa, thành phố Huế.
Việc chọn vùng nghiên cứu dựa trên các tiêu chí sau:
- Điểm nghiên cứu phải thể hiện được tính đại diện cho vùng nghiên cứu
về điều kiện tự nhiên, kinh tế- xã hội.
14
- Điểm nghiên cứu tập trung đông dân cư, hoạt động thương mại phát
triển, là điểm có một trong số chợ loại 1 của thành phố và nhiều chợ lớn
nhỏ hoạt động đông đúc khác.
- Thuận lợi cho việc điều tra, thu thập số liệu trong quá trình nghiên
cứu.
Thành phố Huế có 27 phường, Tây Lộc và Thuận Hòa là 2 phường có đủ
các điều kiện để tiến hành nghiên cứu.
Phạm vi về thời gian: Các số liệu được thu thập trong 3 năm từ năm
2008, 2009 và 2010. Nguyên nhân chính, do những năm trở lại đây vấn
đề an toàn thực phẩm đang trở nên rất cấp thiết đối với người tiêu dùng.
Đặc biệt đối với rau xanh, là thực phẩm không thể thiếu trong bữa ăn
hàng ngày của mọi gia đình.
- Thời gian điều tra: 03/01/2011 – 06/05/2011.
3.2.2. Phương pháp thu thập số liệu
- Thu thập thông tin thứ cấp: các báo cáo liên quan đến tình hình sản
xuất và tiêu thụ rau trên địa bàn thành phố Huế trong 3 năm 2008, 2009, 2010
từ Sở nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Thừa Thiên Huế và phòng
thống kê thành phố Huế.
- Thu thập thông tin sơ cấp:
+ Phỏng vấn người tiêu dùng bằng bảng hỏi bán cấu trúc với số
lượng mẫu là 161 hộ. Trong đó gồm 131 hộ thuộc phường Tây Lộc và 30
hộ thuộc phường Thuận Hòa.
Cách chọn hộ phỏng vấn: hộ được chọn ngẫu nhiên bằng cách dùng
về phía bắc Đèo Hải Vân, cách Đà Nẵng 112km, cách biển Thuận An 12
km, cách sân bay quốc tế Phú Bài 15 km và cách cảng nước sâu Chân
Mây 50 km. Diện tích tự nhiên 83.3 km2, chiếm 1,5% về diện tích so với
cả nước.
Hình 4.1: Bản đồ vị trí địa lý thành phố Huế
Nguồn:
17
Địa
bàn
nghiê
n cứu
Nằm tựa lưng vào dãy núi Trường Sơn, khu vực thành phố Huế là
đồng bằng thuộc vùng hạ lưu sông Hương và sông Bồ, có độ cao trung
bình khoảng 3 - 4 m so với mực nước biển. Vì thế, thành phố Huế thường
bị ngập lụt khi đầu nguồn của sông Hương (trên dãy Trường Sơn) xảy ra
mưa vừa và lớn. Khu vực đồng bằng này tương đối bằng phẳng, tuy trong
đó có xen kẽ một số đồi, núi thấp như núi Ngự Bình, Vọng Cảnh
Thành phố Huế nằm ở vị trí có điều kiện thiên nhiên, hệ sinh thái đa
dạng, phong phú và diện mạo riêng tạo nên một không gian hấp dẫn, được
xây dựng trong không gian phong cảnh thiên nhiên kỳ diệu từ núi Ngự
Bình, đồi Thiên An - Vọng Cảnh, thành phố hội đủ các dạng địa hình: đồi
núi, đồng bằng, sông hồ, tạo thành một không gian cảnh quan thiên nhiên-
đô thị-văn hoá lý tưởng để tổ chức các loại hình Festival và các hoạt động
du lịch thể thao khác nhau.
Thành phố Huế là địa bàn lý tưởng gắn kết các tài nguyên văn
hoá truyền thống đặc sắc với du lịch mà không một thành phố, địa
danh nào ở nước ta có được và là một trong 5 trung tâm du lịch quốc
gia. Huế nằm ở vị trí trung tâm của các di sản văn hoá thế giới của
Việt Nam (Hội An, Mỹ Sơn, động Phong Nha-Kẻ Bàng) và gần với
với các nhóm rau gia vị và nhóm rau ăn lá.
Với nhiệt độ các tháng trong năm như trên, nó ảnh hưởng đến cơ cấu
thời vụ rau, từ đó gián tiếp ảnh hưởng đến giá cả và chủng loại rau trên thị
trường[10].
+ Mùa nóng: từ tháng 5 đến tháng 9, chịu ảnh hưởng của gió tây
nam nên khô nóng, nhiệt độ cao. Nhiệt độ trung bình các tháng nóng là từ
27°c - 29°c, tháng nóng nhất (tháng 5, 6) nhiệt độ có thể lên đến 38°c-
40°c.
+ Mùa lạnh: từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau, chịu ảnh hưởng của
gió mùa đông bắc nên mưa nhiều, trời lạnh. Nhiệt độ trung bình về mùa
lạnh ở vùng đồng bằng là 20°c - 22°c.
- Chế độ mưa: lượng mưa trung bình khoảng 2500mm/năm. Mùa mưa
bắt đầu từ tháng 9 đến tháng 2 năm sau, tháng 11 có lượng mưa lớn nhất,
chiếm tới 30% lượng mưa cả năm. Trong tháng 6 của các năm, ta nhận thấy
lượng mưa vẫn tương đối cao, đây là thời điểm chuyển từ vụ đông xuân sang
hè thu , điều này rất thuận lợi cho người nông dân trong việc làm đất và gieo
trồng.
19
- Ẩm độ không khí: ẩm độ không khí là một trong những yếu tố
không kém phần quan trọng trong việc cơ cấu các loại rau và thời vụ của
rau. Điều đó ảnh hưởng trực tiếp đến việc cung ứng và giá cả rau xanh.
Huế là vùng có ẩm độ không khí tương đối cao, có thể là cao nhất
nước. ẩm độ không khí trung bình các tháng trong năm lại nghịch với nhiệt
độ trung bình các tháng trong năm. Cụ thể đối với nhiệt độ, các tháng thấp
nhất là tháng 1, 2, 3 và tháng 11, 12 trong khi đó ẩm độ của các tháng này
lại cao. Trái lại các tháng 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10 có nhiệt độ trung bình cao thì
ẩm độ lạ thấp.
Thời kỳ có ẩm độ thấp kéo dài từ tháng 4 đến tháng 8 và cực tiểu là
tháng 7. Vào mùa gió tây nam khô nóng hoạt động mạnh, độ ẩm thấp nhất
có thể xuống còn 30% và thường xảy ra vào các tháng 6, đây lại là mùa
4.1.3. Điều kiện kinh tế- xã hội
4.1.3.1. Về vấn đề dân số, lao động
Dân số và lao động là hai yếu tố quan trọng. Đây là hai yếu tố phản
ánh mức sống và cơ cấu kinh tế của các vùng cũng như trình độ dân trí
của vùng đó. Lực lượng lao động nông nghiệp thành phố Huế nói riêng và
cả nước nói chung có trình độ dân trí còn thấp, chủ yếu vẫn là thủ công,
tính hiện đại trong sản xuất nông nghiệp còn rất thấp. Sản phẩm nông
nghiệp chứa hàm lượng chất xám thấp; chủ yếu là sức lao động, trong khi
đó các nước phát triển thì sản phẩm nông nghiệp chứa hàm lượng chất
xám cao.
Thành phố Huế là vùng đô thị chịu tác động của thành phố công
nghiệp, du lịch và dịch vụ. Tỷ trọng nông nghiệp rất thấp, trình độ dân trí
cao, tỷ lệ sinh con thứ ba ngày càng giảm. Nhưng những hộ nông nghiệp
vẫn chưa thoát khỏi tính bảo thủ, sức ỳ và sản phẩm nông nghiệp vẫn chưa
có tính hàng hóa cao. Đặc biệt rau xanh. Là loại thực phẩm nông nghiệp
chịu tác động của thị trường rất rõ, biến động giá cả là thường xuyên,
nhưng chỉ có rất ít người nông dân căn cứ vào nhu cầu rau của thị trường
để điều chỉnh thời vụ trồng rau.
Dân số thành phố Huế trong những năm qua có xu hướng gia tăng
nhưng không đáng kể. Tuy nhiên, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên lại giảm sút
cụ thể năm 2008 tỷ lệ dân số tăng 1.1% nhưng đến năm 2010 tỷ lệ này
21
giảm xuống còn 0.98%. Bảng 4.1 thể hiện dân số thành phố Huế trong
những năm qua.
Bảng 4.1: Dân số thành phố Huế từ 2005- 2010
Năm Tổng số Nam Nữ
2005 321.959 155.385 166.574
2006 326.524 157.619 168.905
2007 330.664 159.640 171.024
2008 334.739 161.629 173.110
nhưng tổng giá trị sản xuất so với các thành phố khác vẫn ở mức trung
bình. Thành phố Huế là thành phố có nhiều tiềm năng du lịch, dịch vụ;
hằng năm vẫn thu hút nhiều khách du lịch đến tham quan. Bên cạnh đó,
Huế là thành phố có hệ thống giáo dục từ đại học đến mầm non tương đối
phát triển.
Năm 2010, thành phố Huế có tốc độ tăng trưởng kinh tế 13.5 % so với
tốc độ tăng trưởng kinh tế của cả nước là 6,7 % là cao nhưng so với một số
thành phố lớn khác trong nước vẫn còn thấp. Cơ cấu giá trị sản xuất nông
nghiệp của thành phố so với giá trị sản xuất công nghiệp thấp hơn nhiều.
Năm 2010, giá trị sản xuất nông nghiệp là 140.422 triệu đồng trong khi đó
công nghiệp là 2.819.222 triệu đồng. Một lĩnh vực không kém phần quan
trọng làm kích thích việc phát triển kinh tế hộ, tạo môi trường tiêu thụ nông
sản trong đó có rau là thương mại bán lẻ. Doanh thu của lĩnh vực này luôn có
xu hướng năm sau cao hơn năm trước, năm 2007 là 3.220.800 triệu đồng
nhưng đến năm 2010 đạt đến 10.383.000 triệu đồng.
Một chỉ số không kém phần quan trọng làm cơ sở cho việc quy
hoạch phát triển rau phải kể đến đó là lượng khách du lịch đến Huế. Hằng
năm, lượng khách du lịch đến thành phố Huế rất cao và có xu thế năm sau
số lượng khách cao hơn năm trước, cụ thể như năm 2007 có tổng lượng
khách đến Huế là 1.171.700 người, trong đó khách trong nước là 600.100
người và khách nước ngoài là 571.600 người; đến năm 2009 tổng lượng
khách tăng lên 1.296.100 người, trong đó khách trong nước là 734.530
người và khách nước ngoài là 561.570 người.
23
Bảng 4.2: Một số chỉ tiêu kinh tế - xã hội của thành phố Huế từ năm
2008 đến năm 2010.
Chỉ tiêu ĐVT Năm 2008 Năm 2009 Năm 2010
Tổng giá trị sản xuất
( giá thực tế)
tỷ đồng 9.736 11.749 12.314
4.1.3.3. Tình hình sử dụng đất của thành phố Huế
Trong quá trình đô thị hoá, diện tích đất nông nghiệp trên địa bàn
dần bị thu hẹp. Trước tình hình này, thành phố chú trọng chuyển đổi cơ
cấu ngành nghề và chuyển sang trồng các loại cây trồng có giá trị và hiệu
quả kinh tế cao; đồng thời, quy hoạch phát triển vùng chuyên canh cây
thanh trà, hoa, rau sạch. Giá trị sản xuất nông nghiệp nhờ vậy vẫn đạt khá.
Thành phố đang từng bước đầu tư xây dựng, nâng cấp kết cấu hạ tầng đô
thị 5 phường vùng ven nhằm khuyến khích phát triển dịch vụ, du lịch sinh
thái, nâng cao hiệu quả sử dụng đất, giải quyết việc làm và nâng cao đời
sống cho các hộ nông dân. Do chuyển đổi mục đích sử dụng đất nên diện
tích đất nông nghiệp của thành phố Huế đang có chiều hướng giảm sút.
Điều này được thể hiện qua bảng 4.3:
Bảng 4.3: Diện tích gieo trồng các loại cây ở thành phô Huế
Đơn vị: ha
STT Cơ cấu các loại cây 2008 2009 2010
Tổng 3.967 3.901 3.548
I. Cây hàng năm 3.251 3.178 2.955
1 Cây lương thực 2.346 2.423 2.241
- Cây lúa 1.896 1.918 1.842
- Ngô 90 90 97
- Sắn 95 95 66
- Khoai lang 315 320 212
2 Cây công nghiệp 165 105 102
3 Cây hàng năm khác 50 50 65
4 Cây thực phẩm 600 600 547
25