Thực trạng tiêu thụ rau an toàn trên địa bàn huyện đông anh, thành phố hà nội - Pdf 35

I. ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Rau xanh là loại thực phẩm rất cần thiết và không thể thay thế được
trong đời sống hàng ngày của con người trên khắp hành tinh. Cây rau cung
cấp rất nhiều chất dinh dưỡng cần thiết cho sự phát triển cơ thể con người như
các loại vitamin, chất khoáng, vi lượng, chất xơ…
Khi đời sống của người dân được nâng cao, nhu cầu về lương thực và
các thức ăn giàu đạm được bảo đảm thì yêu cầu về sản phẩm rau xanh không
chỉ đơn giản là đủ về số lượng mà cần yêu cầu cả về chất lượng.
Vệ sinh an toàn thực phẩm (VSATTP) đối với nông sản, nhất là rau
xanh đang được xã hội đặc biệt quan tâm. Hơn lúc nào hết nhu cầu được sử
dụng RAT của người tiêu dùng lại nhiều như hiện nay, nhu cầu này sẽ ngày
càng tăng, đặc biệt là ở những đô thị lớn như Hà Nội và TP HCM. Tại Hà Nội
nhu cầu RAT khoảng 1.200 tấn/ngày. Không những thế người tiêu dùng còn
sẵn sàng mua RAT với giá cao gấp 4-5 lần rau thông thường để được dùng
RAT.
Tuy nhu cầu về RAT ngày càng tăng nhưng có đến gần 74% lượng rau
sản xuất theo quy trình an toàn phải bán trên thị trường, chỉ có 24% bán trong
các cửa hàng, siêu thị RAT.
Hiện nay, tình trạng doanh nghiệp mua rau trôi nổi trên thị trường về,
rồi đóng gói gián nhãn mác là RAT rất phổ biến… theo lực lượng liên ngành
thành phố, các cuộc kiểm tra mặt hàng rau sạch gần đây đều phát hiện sai
phạm trong quy trình sản xuất, sơ chế và kinh doanh rau an toàn. Không chỉ
các cơ sở kinh doanh rau an toàn nhỏ lẻ mà nhiều siêu thị, cửa hàng lớn có
thương hiệu lâu năm cũng vi phạm: tại quầy bán rau an toàn của siêu thị
Intimex (131 Hào Nam, quận Đống Đa) nhiều sản phẩm rau, củ như cải xanh,
cải ngọt, đậu cô ve, rau muống, bắp cải, cà chua, ớt, cải thảo, khoai sọ... gắn
mác “rau hữu cơ”, không có tem chứng nhận chất lượng. Hay tại cửa hàng

1


2


Đông Anh với hơn 327500 người (theo số liệu thống kê tính đến
30/12/2008) là một huyện ngoại thành lớn của Hà Nội. Huyện đã tham gia
vào chương trình trồng RAT từ rất sớm và thu được một số kết quả nhất định,
bên cạnh đó vẫn còn những khó khăn trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm
RAT.
Để rau an toàn thực sự có chỗ đứng trên thị trường và trong lòng người
tiêu dùng không chỉ khâu sản xuất, sơ chế, bảo quản mà cả khâu tiêu thụ cần
được chú trọng hơn nữa. Đồng thời để trả lời cho một số câu hỏi như hoạt
động tiêu thụ RAT trên địa bàn huyện diễn ra như thế nào? Làm sao để tiêu
thụ mạnh hơn nữa lượng RAT sản xuất ra… từ đó chúng tôi tiến hành nghiên
cứu đề tài: “Thực trạng tiêu thụ rau an toàn trên địa bàn huyện Đông Anh,
thành phố Hà Nội”.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
* Mục tiêu chung:
Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề có tính lý luận và thực tiễn về
tiêu thụ RAT, từ đó đề xuất một số biện pháp nhằm tiêu thụ tốt hơn lượng
RAT sản xuất trên địa bàn huyện Đông Anh.
* Mục tiêu cụ thể:
- Khái quát hoá lý luận và thực tiễn về tiêu thụ sản phẩm nói chung và
tiêu thụ RAT nói riêng.
- Đánh giá thực trạng tiêu thụ RAT trên địa bàn huyện Đông Anh.
- Đề xuất một số biện pháp nhằm đẩy mạnh tiêu thụ RAT trên địa bàn
huyện Đông Anh, góp phần giảm bớt sự mất cân bằng giữa lượng RAT sản
xuất ra và lượng RAT được tiêu thụ theo đúng giá trị của nó.
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Nghiên cứu các đối tượng tham gia mạng lưới tiêu thụ RAT trên địa

khi đáp ứng được các yếu tố sau:

4


- An toàn, hấp dẫn về hình thức: tươi, sạch không có bụi bẩn tạp
chất, thu đúng độ chin (khi có chất lượng cao nhất) không có triệu chứng
sâu bệnh, có bao bì vệ sinh hấp dẫn.
- An toàn về chất lượng: khi các loại rau có chứa dư lượng thuốc
BVTV, dư lượng nitrat, dư lượng kim loại nặng và dư lượng sinh vật gây
hại không quá ngưỡng cho phép của tổ chức Y tế thế giới.
Tác giả Tô Kim Oanh [6] cho rằng: RAT là rau không bị dập nát,hư
hỏng, không có đất bụi bao quanh, không chứa các sản phẩm hóa học độc
hại, hàm lượng nitrat, kim loại nặng, dư lượng thuốc bảo vệ thực vật cũng
như các vi sinh vật gây hại phải được hạn chế theo các tiêu chuẩn RAT và
được trồng trên các vùng đất không bị nhiễm kim loại nặng, canh tác theo
những quy trình tổng hợp, hạn chế việc sử dụng phân bón vô cơ và thuốc
bảo vệ thực vật ở mức tối thiểu cho phép.
Phạm trù sản phẩm an toàn nói chung và RAT nói riêng hiện đang
tồn tại hai xu hướng trong giới chuyên môn đó là an toàn tương đối và an
toàn tuyệt đối.
- An toàn tương đối là rau đáp ứng các tiêu chuẩn về dư lượng
thuốc trừ sâu, hàm lượng nitrat, hàm lượng kim loại nặng và lượng vi sinh
vật gây hại theo tiêu chuẩn của tổ chức Y tế thế giới.
- RAT tuyệt đối ngoài các tiêu chuẩn trên còn không dùng thuốc trừ
sâu và thuốc hoá học khác trong canh tác.
Từ một số dẫn liệu trên, chúng ta có thể thấy rằng khái niệm RAT
phải bảo đảm cả về chỉ tiêu định tính và chỉ tiêu định lượng, đó là sản
phẩm rau cần phải tươi sạch, hấp dẫn và dư lượng các yếu tố gây độc hại
cho người sử dụng ở ngưỡng cho phép của quốc tế và Việt Nam.

200
200
200
300
500
500
500

Loại rau
Dư lượng
Hành tây
Cà chua
150
Dưa chuột
150
Khoai tây
250
Cà rốt
250
Hành lá
400
Bầu bí
400
Cà tím
400
Xà lách
1500
(Nguồn: FAO, 1993) [12]

Bảng 2.2 Hàm lượng kim loại nặng (Theo qui định của WHO)

RAT đã được Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường ban hành. Các tiêu

6

80


chuẩn này dựa trên qui định của WHO, được đưa vào áp dụng trong việc quản
lý sản xuất và lưu thông tại Việt Nam.
2.1.2 Tiêu thụ rau an toàn
2.1.2.1 Đặc điểm tiêu thụ rau an toàn
RAT trước hết là sản phẩm của quá trình sản xuất nông nghiệp bởi vậy
trong quá trình lưu thông ra thị trường nó cũng mang những đặc điểm của sản
phẩm nông nghiệp: sản phẩm vừa tiêu dùng tại chỗ vừa trao đổi trên thị
trường; cung về nông sản hàng hoá và cầu về đầu vào có tính thời vụ cao…
Ngoài ra, tiêu thụ RAT còn mang một số đặc điểm riêng sau:
- Sản xuất rau là ngành sản xuất hàng hoá. Hầu hết các sản phẩm sau
khi thu hoạch đều đưa ra thị trường, do vậy thị trường là nhân tố quyết định
cho sự tồn tại và phát triển của ngành. Đặc biệt đối với RAT thị trường tiêu
thụ rất nghiêm ngặt, nó đặt ra tiêu chuẩn cho người sản xuất những sản phẩm
đủ tiêu chuẩn qui định mới tồn tại trong thị trường. Mặt khác do việc RAT
chưa có thương hiệu, kiểm tra chất lượng chưa nghiêm ngặt đã phần nào mất
niềm tin của người tiêu dùng đối với sản phẩm RAT. Người tiêu dùng nghi
ngờ không biết thực sự là rau bảo đảm tiêu chuẩn RAT hay không?
- RAT là loại cây trồng rất mẫn cảm với sự thay đổi của điều kiện thời
tiết khí hậu như nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng. Và do sản xuất theo những tiêu
chuẩn cho trước nên sản xuất RAT phải tuân thủ những qui định nghiêm ngặt
của kĩ thuật, đòi hỏi mức độ đầu tư vật chất, lao động cao hơn sản xuất rau
bình thường, trong khi đó năng suất và sản lượng thấp hơn. Đây là nguyên
nhân chính dẫn đến giá bán loại rau này thường cao hơn nhiều so với sản

2.1.2.3 Các tác nhân tham gia kênh tiêu thụ rau an toàn
Qua điều tra của chúng tôi, hệ thống kênh tiêu thụ RAT của Hà Nội
nhìn chung bao gồm các tác nhân sau:
1, Tác nhân người sản xuất: hộ nông dân
Tác nhân người sản xuất đóng vai trò quan trọng đứng đầu trong kênh,
nếu không có người sản xuất RAT thì sẽ không tồn tại sản phẩm RAT trên thị
trường và sẽ không có dòng lưu chuyển sản phẩm này đến tay người tiêu
dùng.
2, Tác nhân trung gian: thường đứng liền sau tác nhân người sản xuất,
gồm trung gian bán buôn và trung gian bán lẻ
- Trung gian bán buôn: gồm có hai đối tượng chính
+ Những người thu gom là những cá nhân hay tập thể (HTX) thu mua
RAT tại ruộng hoặc tại nhà của người sản xuất. Những người này thường là
người địa phương. Người thu gom RAT thường ít có quyết định đối với giá cả
sản phẩm đầu ra bởi nó phần lớn do người bán buôn ấn định.
+ Người buôn rau đường dài: ở đây chúng tôi đề cập đến chủ yếu là
những người ở nơi khác đến vùng trồng RAT mua buôn RAT ở chợ đầu mối,
sau đó bán lại cho những người bán lẻ hoặc người tiêu dùng tập thể có nhu
cầu trong nội thành và một số tỉnh khác. Người bán buôn có chức năng đầy đủ
như một nhà phân phối và ít có khả năng tiếp cận với người tiêu dùng. Người
bán buôn thường có quy mô kinh doanh lớn, đòi hỏi số lượng vốn nhiều,
phương tiện kinh doanh đầy đủ nên có khả năng chi phối thị trường.
- Trung gian bán lẻ: các cửa hàng, quầy hàng, siêu thị.
Là người trực tiếp chuyển giao sản phẩm RAT đến người tiêu dùng.
Người bán lẻ thường có quy mô kinh doanh nhỏ, vốn ít, hình thwucs bán hàng

10


phong phú, chịu sự chi phối của người bán buôn. Họ rất nhanh nhạy nắm bắt


đánh giá chất lượng sản phẩm nói chung và RAT nói riêng hiện nay còn gặp
nhiều khó khăn.
- Công tác Marketing: để tiêu thụ được sản phẩm RAT, một số cơ sở
sản xuất và tiêu thụ của Nhà nước và HTX tiêu thụ đã tìm kiếm thị trường,
giới thiệu và quảng cáo sản phẩm của họ. Tuy nhiên, thực tế lượng RAT tiêu
thụ đúng nghĩa với tên của nó còn hạn chế. Khả năng tiếp thị của người nông
dân bị hạn chế do họ thiếu kiến thức chuyên môn, thiếu phương tiện và thiếu
vốn để thực hiện. Họ thực sự chỉ biết sản xuất RAT và khả năng sản xuất của
họ còn được phát huy khi sản phẩm RAT có thị trường rộng lớn. Hiện nay
khâu tiêu thụ, họ trông chờ vào các tổ chức kinh tế Nhà nước hoặc nếu không
họ chỉ biết bán như rau thường tại các chợ truyền thống.
- Ảnh hưởng của chủ trương, chính sách: trên góc độ vĩ mô, Nhà nước
cũng như các cơ quan nghiên cứu đã ban hành các chủ trương, chính sách
khuyến khích phát triển nông nghiệp bền bững. Việc triển khai sản xuất RAT
là một trong những việc làm đi theo định hướng mới hiện nay. Trên địa bàn
thành phố Hà Nội, UBND, các Sở, Ban ngành đã thành lập Ban tổ chức quản
lý sản xuất và tiêu thụ thực phẩm an toàn, trong đó sản phẩm RAT rất được
chú trọng. Tính đến thời điểm hiện nay đã có nhiều chủ trương, công việc cụ
thể giao cho các Sở như Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Y tế.
Đây là một yếu tố thuận lợi cho các đơn vị triển khai sản xuất và tiêu thụ
RAT. Tuy nhiên, bên cạnh việc ban hành các chủ trương, chính sách bằng văn
bản, việc tiêu thụ RAT rất cần có sự kiểm tra, giám sát chất lượng của các cấp
có thẩm quyền nhằm bảo đảm quyền lợi cho người tiêu dùng, đồng thời nâng
cao lòng tin của người tiêu dùng.
- Trang bị cơ sở vật chất: RAT đòi hỏi qui định nghiêm ngặt về chất
lượng nên việc đầu tư cơ sở vật chất cho tất cả các khâu từ sản xuất tới lưu
thông, phân phối sản phẩm tới người tiêu dùng, nếu không được đáp ứng thì
có thể rau sản xuất ra không bảo đảm các chỉ tiêu của RAT. Nếu một khâu


RAT

Giá cả RAT

Cơ cấu,
chủng loại
RAT

Sơ đồ 2.2. Các yếu tố ảnh hưởng tới tiêu thụ RAT
2.2 Cơ sở thực tiễn
2.2.1 Thực trạng tiêu thụ rau an toàn trên thế giới
Tùy theo phong tục tập quán của từng nước mà rau được sử dụng theo
các phương thức khác nhau. Ở các nước đang phát triển, rau thường được nấu
chín và ăn như các món ăn thêm hoặc ăn lẫn với thịt, cá hay thức ăn khác. Tại
các nước phát triển, nhu cầu rau tươi rất cao. Riêng đối với một số nước có

13


mùa đông kéo dài thường phải dùng cả rau đông lạnh nhưng sở thích của họ
vẫn là rau tươi. Một số loại rau có thể được để đông lạnh như đậu các loại…
Đối với một số nước châu Phi lại có kiểu sử dụng rau khác so với tình hình sử
dụng chung. Ví dụ như trồng sắn, ngoài việc ăn củ, họ còn dùng cả lá.
Mức tiêu thụ rau khác nhau tùy theo mỗi quốc gia và thường phụ thuộc
vào mức thu nhập, tuy nhiên có một số nước còn phụ thuộc vào tập quán ăn
uống của người dân ở đó.
* EU
Theo Euromonitor (2004), tổng mức tiêu thụ rau (bao gồm cả khoai tây)
ở thị trường EU đạt khoảng 29 triệu tấn, trong đó tiêu thụ khoai tây chiếm trên
50% tổng lượng rau tiêu thụ và cà chua chiếm khoảng 10%. Đức là thị trường

nước này, trong đó có 45 loại được trồng phổ biến.
Mức tiêu dùng rau bình quân tại Thái Lan là 53 kg/người/năm với các
kênh tiêu thụ rau chủ yếu trên thị trường là:
Loại kênh thứ nhất: Người sản xuất - Nhóm nông dân tự thành lập Người bán buôn (tại Băng Cốc)/người chế biến/người xuất khẩu - Người bán
buôn - Người bán lẻ - Người tiêu dùng.
Loại kênh thứ hai: Người sản xuất - Người thu gom trên địa bàn trồng
rau - thị trường bán buôn trung tâm - người bán buôn tại Băng Cốc - Người
bán lẻ - Người tiêu dùng.
2.2.2 Tình hình tiêu thụ rau an toàn ở Việt Nam
2.2.2.1 Một số chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước về sản xuất và
tiêu thụ rau an toàn
Trong giai đoạn vừa qua, Đảng và Nhà nước cũng như các cơ quan
chức năng có sự quan tâm đặc biệt đến việc sản xuất và tiêu thụ RAT. Ở đây
chúng tôi đưa ra một số chủ trương và chính sách sau:
1, Chỉ thị số 08/1999/CT - TTg ra ngày 15/04/1999 của Thủ tướng
Chính phủ về việc tăng cường bảo đảm chất lượng ATVSTP.

15


2, Nghị định số 163/2004/NĐ - CP ngày 07/09/2004 quy định chi tiết
thi hành một số điều của pháp lệnh ATVSTP.
3, Quy định tạm thời về sản xuất và tiêu thụ RAT (Ban hành kèm theo
Quyết định số 67 - 1998/QĐ-BNN-KHCN ngày 28 tháng 4 năm 1998).
4, Bộ đã xây dựng đề án phát triển rau, hoa quả đến năm 2010, trong đó
Hà Nội là một trong những địa phương trọng tâm của đề án này.
5, Đề án “Lưu thông, tiêu thụ RAT, thực phẩm sạch trên địa bàn thành
phố Hà Nội” Sở Thương mại Hà Nội được UBND TP. Hà Nội phê duyệt
tháng 07/2003.
6, Chương trình sản xuất RAT của TP. Hà Nội đã được phê duyệt và

Còn về phía cầu, có thể thấy những khó khăn chính như lòng tin
người tiêu dùng đối với rau an toàn chưa cao, nhận thức cũng như độ sẵn lòng
chi trả của người tiêu dùng đối với rau an toàn còn hạn chế. Bên cạnh đó, hệ
thống phân phối và các cửa hàng bán rau an toàn chưa nhiều, chưa tiện dụng
để đáp ứng yêu cầu của người tiêu dùng…
Ngoài ra, sự biến động của giá cả vật tư đầu vào, trong khi giá bán lại
tương đối ổn định, chưa có sự chênh lệch giữa rau an toàn và rau sản xuất
theo cách thông thường, cộng với sự cạnh tranh ngay trong thị trường nội địa
nói chung cũng như trong các hệ thống phân phối hiện đại, đã gây ra những
bất ổn trong việc thúc đẩy phát triển rau an toàn thời gian qua.
Theo khảo sát của Sở Nông nghiệp và PTNT Hà Nội, hiện mới chỉ có
26% sản lượng RAT được bán trong các siêu thị, trung tâm thương mại hoặc
bán trong hệ thống cửa hàng của Tổng Công ty Thương mại Hà Nội (Hapro),
còn lại một lượng rất lớn phải bán trôi nổi trên thị trường tự do với giá như
rau thường. Đáng nói là chi phí để sản xuất RAT cao gấp 2 – 3 lần so với
trồng rau bình thường, vì vậy nhiều hộ nông dân đang “nản” với mô hình
trồng RAT.

17


Bên cạnh nhiều trở ngại nói trên, vấn đề tiêu thụ RAT thời gian qua
cũng có một số thuận lợi nhất đinh: được Nhà nước và các ban ngành liên
quan rất chú trọng. Đến nay đã có nhiều chủ trương, chính sách liên quan đến
tiêu thụ RAT được ban hành nhằm tháo dỡ các bất cập trong tiêu thụ RAT và
đẩy mạnh lượng RAT tiêu thụ, đúng theo giá trị của nó. Năm 1997, việc sản
xuất RAT đã manh nha hình thành tại Hà Nội. Và đến năm 2009, thành
phố đã phê duyệt đề án Sản xuất tiêu thụ RAT 2009 - 2015 với số tiền đầu
tư lên tới 7.463 tỷ đồng. Đây là một trong những đề án có kinh phí đầu tư lớn
nhất của ngành nông nghiệp Thủ đô. Nhưng liệu với sự đầu tư trên có giúp

khối lượng lớn và trên địa bàn rải rộng với nhiều người tham gia kinh doanh.
Đánh giá chất lượng bằng phương pháp cảm quan không bảo đảm độ tin cậy.
Xác định các chỉ tiêu vệ sinh an toàn thực phẩm bằng các phương pháp phòng
thí nghiệm đòi hỏi thời gian dài (2 - 3 ngày) và chi phí quá lớn (1,5 - 3 triệu
đồng/mẫu), không phù hợp với tính chất mặt hàng.
- Kết quả
Tuy mặt thuận lợi còn ít hơn mặt khó khăn nhưng tiêu thụ RAT thời
gian qua vẫn đạt được một số kết quả: nhận thức về vấn đề sản xuất và tiêu
thụ RAT trên góc độ bảo vệ sức khỏe và chống ô nhiễm môi trường đã tăng
lên đáng kể nhờ hoạt động truyền bá tích cực của nhà khoa học cũng như của
dư luận xã hội. Nhờ sự quan tâm mạnh mẽ của các cấp chính quyền, các cấp
chuyên môn, các tổ chức nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ, sự
hưởng ứng của người nông dân, ngành hàng sản xuất RAT đã hình thành và
bước đầu phát triển.
Trong thời gian qua việc tiêu thụ RAT tuy đã có bước tiến đáng kể
nhưng chưa xứng với tiềm năng hiện có. Rau xanh và rau an toàn là loại hàng
hóa khó bảo quản và phần lớn phải tiêu thụ hết trong ngày. Số lượng các đơn
vị sản xuất có cơ sở chế biến, đóng gói còn hạn chế. Tại những cơ sở chế biến

19


đóng gói thì lượng sơ chế, đóng gói chưa đáp ứng được nhu cầu của thị
trường do quy mô đầu tư cho xưởng, cơ sở chưa nhiều…
Phần lớn sản lượng rau sản xuất ra được tiêu thụ thông qua các tổ chức
kinh tế của Nhà nước do khả năng tự tiếp thị của người dân còn hạn chế dù
hiện đã có một số hộ thực hiện tốt công tác marketing. Từ năm 2002 - 2009,
thành phố Hà Nội đã tổ chức 5 phiên chợ RAT, các quận huyện đã chủ động
tổ chức nhiều phiên chợ RAT trên địa bàn. Các phiên chợ không chỉ là nơi
giới thiệu và bán sản phẩm RAT đến tận tay người tiêu dùng mà còn là nơi

doanh hoặc bán trực tiếp cho người tiêu dùng. Thành phố đang đề ra kế hoạch
đưa 100% diện tích trồng RAT hiện nay trở thành vùng RAT vào năm 2010.
Đồng thời xúc tiến các biện pháp đẩy mạnh tiêu thụ như xây dựng các chợ
đầu mối nông sản có kho chứa và bảo quản theo công nghệ mới, tổ chức các
mạng lưới phân phối RAT đến các hệ thống siêu thị, nhà hàng…[10].
Tại Hải Phòng: đây là địa bàn đã tham gia chương trình sản xuất RAT
ngay trong năm 1997. Sở Nông nghiệp và Trung tâm khuyến nông đã chuyển
giao công nghệ mới tới người trồng rau, trước hết là những huyện ven đô, sau
đó lan ra các huyện thuần nông xa hơn như An Lão… Một số cơ sở đã ký
được hợp đồng tiêu thụ với cơ sở chế biến đông lạnh của thành phố với giá
cao hơn rau thường. Phần còn lại vẫn chủ yếu do người sản xuất tự tiêu thụ.
Vĩnh Phúc: là một trong những tỉnh đi đầu về sản xuất RAT trong cả
nước. Đã có nhiều tổ chức khoa học công nghệ trong nước và quốc tế (trên 20
nước) về tham quan địa bàn tỉnh, dự hội nghị và hội thảo khoa học về công
nghệ sinh học và nông nghiệp hữu cơ tổ chức tại Việt Nam. Họ đánh giá cao
cách làm RAT có tính sáng tạo theo mô hình RAT cộng đồng. Nói RAT Vĩnh
Phúc là mô hình RAT cộng đồng vì người trồng rau làm RAT đại trà ngoài
đồng; Chủ trương của Vĩnh Phúc là trước hết đầu tư về kỹ thuật thay vì đầu tư
cơ sở vật chất, bảo đảm cả lợi ích của người sản xuất lẫn lợi ích của người
tiêu dùng. Thông qua kiot của các HTX dịch vụ tại các chợ truyền thống RAT
đáp ứng nhu cầu của địa phương. Mặt khác, RAT của Vĩnh Phúc cũng đã có

21


mặt tại một số địa phương khác qua việc tham gia vào các hội chợ tại những
nơi này [2].
Nghệ An: nơi được coi là vùng sản xuất nông nghiệp khó khăn của cả
nước, sản xuất RAT được triển khai tại Quỳnh Lưu. Điều khiến người tiêu
dùng quan tâm đó là xã Quỳnh Lương đã đạt giải nhất năng suất xanh “Nhà

mỗi ngày xuất sang Campuchia gần 80 tấn rau quả, thế nhưng vẫn không đủ
hàng để bán. Với một số mặt hàng như khoai tây, cải thảo, su hào, cà rốt, bông
cải cao cấp... các thương lái ở An Giang phải lên tận chợ đầu mối Tp.HCM,
hoặc lấy hàng từ Đà Lạt về.
Xuất khẩu rau sang Singapore cũng đang tăng mạnh. Trước đây,
Malaysia là nguồn cung cấp rau chủ yếu của Singapore. Tuy nhiên do năm
nay mùa mưa đến sớm nên thu hoạch rau của Malaysia bị giảm sút, lượng rau
của nước này xuất sang Singapore cũng giảm. Để bù đắp thiếu hụt, ổn định thị
trường, các nhà nhập khẩu Singapore đã tăng cường nhập khẩu rau từ Trung
Quốc và Việt Nam.
Hiện đã có 47 mặt hàng rau hoa quả xuất khẩu sang thị trường Mỹ, tuy
nhiên, vẫn chưa thể hiện hết được khả năng cung ứng đa dạng các sản phẩm
rau hoa quả của Việt Nam. Trong các nhóm hàng rau hoa quả xuất khẩu sang
thị trường Mỹ thì kim ngạch xuất khẩu trái cây tươi vẫn còn nhiều hạn chế do
những yêu cầu nghiêm ngặt về vệ sinh an toàn thực phẩm...
Xuất khẩu rau quả nước ta vẫn rơi vào tình trạng bấp bênh không ổn
định. Vào nửa đầu năm, khi nguồn rau quả dồi dào thì tiêu thụ lại khó khăn.
Trong khi vào thời điểm cuối năm thì ngược lại, thị trường đang rộng mở thì
lại không có nhiều rau quả để bán. Giải thích về điều này, các doanh nghiệp
cho rằng năm nay ở miền Bắc khô hạn nên rau thu hoạch ít; ở miền Nam do
mùa mưa đến sớm nên rau bị vàng, dập nhiều khiến giảm sản lượng thu
hoạch. Tuy nhiên theo các chuyên gia, đấy mới chỉ là nguyên nhân khách
quan, còn về chủ quan vẫn là do các doanh nghiệp thiếu chiến lược bài bản,
nhất là vấn đề xây dựng thương hiệu và xây dựng vùng nguyên liệu.
2.3 Một số công trình nghiên cứu về tiêu thụ rau an toàn

23


- Đề tài “Phát triển các cửa hàng và siêu thị có bán rau tươi tại TP. Hà

- Chiến lược của các tác nhân trong kênh cung cấp rau cho Hà Nội
(Strategies of stakeholders in vegetable commodity chain supplying Hanoi
market), 2002, của RIFAV và VASI [8].
Mục tiêu của nghiên cứu là tìm hiểu về thực trạng của một số vùng
cung cấp rau cho Hà nội, mô tả dòng (flow) cung cấp cho thị trường rau Hà
Nội, tìm hiểu vai trò và mối quan hệ giữa các tác nhân trong các kênh ngành
hàng cung cấp rau cho thị trường Hà nội và những thuận lợi cũng như cản trở
đối với từng tác nhân. Nghiên cứu tập trung vào kênh tiêu thụ của 4 vùng
khác nhau: rau an toàn từ Đông Anh, nguồn cung cấp chính rau an toàn cho
các siêu thị, cửa hàng, các công ty nhà nước, công ty tư nhân, căntin của
trường học và nhà trẻ; rau từ Mê Linh - cung cấp chủ yếu cho chợ đầu mối
Dịch Vọng; kênh cung cấp rau từ Gia Lâm - cung cấp chủ yếu cho chợ đầu
mối Bắc Qua và kênh tiêu thụ rau từ Thanh Trì - cung cấp chủ yếu cho Mỗ và
chợ Ngã Tư Sở.
Nghiên cứu sử dụng các kết quả nghiên cứu chợ đêm của Viện Rau quả
và VASI để tìm ra nguồn cung cấp rau quả cho Hà nội và kênh cung cấp, chợ
đầu mối, chợ bán lẻ. Sử dụng các nghiên cứu của hai Viện về người thu gom,
người bán đầu mối tại các chợ trung tâm và các chợ đầu mối, chợ bán lẻ để
tìm hiểu về tổ chức, hoạt động và kết quả của các tác nhân trong quá trình
thương mại hoá sản phẩm. Nghiên cứu cũng đánh giá vai trò và mối quan hệ
của các tác nhân trong các kênh. Ngoài ra, các tác giả cũng phân tích các kết
quả tài chính của các tác nhân, khả năng tạo lợi nhuận của mỗi đối tượng
trung gian trong các dòng chu chuyển khác nhau từ đó có thể thấy chiến lược
kinh tế của các tác nhân.
Nghiên cứu cho thấy rằng mối quan hệ giữa các vùng sản xuất và các chợ phụ
thuộc vào khoảng cách từ vùng sản xuất tới các chợ. Các tác nhân tham gia
trực tiếp vào thị trường, đặc biệt là người sản xuất và người thu gom nhằm
tăng thu nhập, tạo sự cạnh tranh cao hơn. Chiến lược này làm quy mô của các

25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status