MỤC LỤC
Lời cam đoan
ii
Lời cảm ơn
iii
Mục lục
iv
Danh mục các chữ viết tắt
vii
Danh mục bảng
viii
Danh mục sơ đồ
ix
Danh mục hình
ix
Danh mục hộp
3
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
3
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
3
1.4
3
Câu hỏi nghiên cứu
PHẦN II CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN LIÊN KẾT TRONG SẢN XUẤT
2.1
VÀ TIÊU THỤ RAT
4
Cơ sở lý luận
4
2.1.1 Một số khái niệm cơ bản
4
2.2.1 Tình hình liên kết trong sản xuất và tiêu thụ rau ở một số nước trên thế giới 20
2.2.2 Tình hình liên kết trong sản xuất tiêu thụ rau ở Việt Nam
24
2.2.3 Quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về liên kết
trong sản xuất và tiêu thụ rau an toàn
26
PHẦN III PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
29
3.1
Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
29
3.1.1 Điều kiện tự nhiên
29
3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
31
3.2
Tình hình chung về sản xuất và tiêu thụ rau trên địa bàn huyện Đông Anh,
thành phố Hà Nội
44
4.1.1 Diện tích, năng suất, sản lượng rau của huyện Đông Anh
44
4.1.2 Tiêu thụ rau của huyện Đông Anh
48
4.2
Tình hình sản xuất và tiêu thụ rau an toàn trên địa bàn huyện Đông Anh, thành
phố Hà Nội
49
4.2.1 Diện tích, năng suất, sản lượng rau an toàn của Huyện
49
4.2.2 Tiêu thụ rau an toàn của Huyện
55
4.2.3 Hiệu quả sản xuất rau an toàn
79
4.4.2 Đánh giá hiệu quả
80
4.5
Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến liên kết trong sản xuất và tiêu thụ rau
an toàn
82
4.5.1 Ảnh hưởng của quy hoạch vùng sản xuất rau an toàn
82
4.5.2 Ảnh hưởng của quy mô sản xuất rau an toàn
84
4.5.3 Ảnh hưởng của trình độ người sản xuất rau an toàn
85
4.5.4 Ảnh hưởng của thông tin thị trường
86
4.5.5 Ảnh hưởng của việc thu hút các Hợp tác xã nông nghiệp, các tổ chức đoàn
4.6.5 Giải pháp phát triển mô hình Hợp tác xã sản xuất rau an toàn
93
4.6.6 Giải pháp nâng cao trình độ của người sản xuất rau an toàn
94
4.6.7 Giải pháp xây dựng thương hiệu cho sản phẩm rau an toàn Đông Anh tạo
4.7
thuận lợi cho việc tiêu thụ sản phẩm của nông dân
94
Giải pháp nhằm tăng cường liên kết trong tiêu thụ rau an toàn
95
PHẦN V KẾT LUẬN
97
TÀI LIỆU THAM KHẢO
99
PHỤ LỤC
CSHT
DN
DT
:
:
:
:
Công nghiệp
Cơ sở hạ tầng
Doanh nghiệp
Diện tích
DVNN
ĐVT
EU
:
:
:
Dịch vụ nông nghiệp
Đơn vị tính
Liên minh Châu Âu
GD
GlobalGAP
GTVT
HĐND
:
:
Non Governmental Organizations
Ngân hàng thương mại
Rau an toàn
Tiến bộ khoa học kỹ thuật
TNHH
TTLL
UBND
:
:
:
Trách nhiệm hữu hạn
Thông tin liên lạc
Ủy ban nhân dân
VietGap
VSATTP
VTNN
WTO
:
:
:
:
39
4.1
Diện tích gieo trồng Rau huyện Đông Anh qua 3 năm (2012- 2014)
45
4.2
Diện tích rau theo chủng loại của huyện Đông Anh qua 3 năm
(2012 - 2014)
46
4.3
Năng suất Rau huyện Đông Anh qua 3 năm (2012- 2014)
47
4.4
Sản lượng Rau huyện Đông Anh qua 3 năm (2012- 2014)
48
4.5
57
4.11
Tình hình chung về người sản xuất RAT
62
4.12
Đánh giá của người nông dân về liên kết trong cung ứng giống
65
4.13
Đánh giá của người nông dân về liên kết trong cung ứng thuốc BVTV,
phân bón
67
4.14
Đánh giá của người nông dân về liên kết phổ biến kỹ thuật
71
4.15
Tình hình liên kết tiêu thụ RAT trên địa bàn huyện Đông Anh
81
viii
DANH MỤC SƠ ĐỒ
Số sơ đồ
Tên sơ đồ
Trang
2.1
Sơ đồ liên kết đa chủ thể
15
2.2
Các kênh phân phối rau quả tươi tại EU
23
2.3
Kênh tiêu thụ RAT trên địa bàn Hà Nội
26
DANH MỤC HÌNH
Số hình
Tên hình
Trang
3.1
Bản đồ hành chính Hà Nội – Đông Anh
30
4.1
Bản đồ các vùng sản xuất rau huyện Đông Anh
83
DANH MỤC HỘP
Số hộp
Tên hộp
Trang
4.1
Ý kiến của hộ sản xuất về ảnh hưởng của quy mô sản xuất đến liên kết
PHẦN I
MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong hơn 20 năm thực hiện công cuộc đổi mới, nông nghiệp nông dân và
nông thôn nước ta đã có bước phát triển khá toàn diện và to lớn. Nông nghiệp
phát triển ổn định và có xu hướng tái sản xuất theo chiều sâu, đời sống vật chất,
tinh thần của người nông dân được cải thiện, bộ mặt nông thôn được thay đổi
theo chiều hướng lành mạnh hóa các quan hệ chính trị, kinh tế, xã hội; góp phần
quan trọng vào sự ổn định của đất nước, tạo cơ sở cho sự phát triển bền vững.
Sản xuất nông nghiệp là ngành chứa đựng nhiều rủi ro, các cụ xưa có câu “Sáng
tươi, trưa héo, chiều không khéo đổ đi”. Năng suất nông sản phụ thuộc nhiều vào
điều kiện tự nhiên, giá cả nông sản thường biến động lớn, tình trạng nông dân sản
xuất ra được mùa thì rớt giá làm cho thu nhập của người nông dân đã thấp so với
các ngành khác lại thêm phần không ổn định. Đồng thời các doanh nghiệp chế
biến nông sản cũng gặp không ít khó khăn khi nguồn nguyên liệu đầu vào phụ
thuộc vào nền sản xuất nông nghiệp đầy biến động. Từ đó, đòi hỏi phải có sự liên
kết chặt chẽ giữa người sản xuất và các doanh nghiệp chế biến. Thắt chặt mối
quan hệ giữa cơ sở chế biến và vùng nguyên liệu đảm bảo hài hòa lợi ích của hai
bên và chia sẻ rủi ro là yêu cầu quan trọng để phát triển nông nghiệp và công
nghiệp chế biến nông sản nói chung.
Ngày nay, rau xanh là thực phẩm không thể thiếu trong bữa ăn hàng ngày
của mỗi gia đình, người xưa có câu “Cơm không rau như đau không thuốc”. Hiện
nay, nhu cầu về rau xanh đảm bảo chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm
(VSATTP) đã trở nên cấp thiết và bức xúc với người tiêu dùng cả nước. Tuy
nhiên, thực tế cho thấy một số nông dân vẫn chưa thực hiện đúng quy trình sản
xuất rau an toàn (RAT), nên chất lượng rau chưa đảm bảo, đặc biệt về dư lượng
thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của người tiêu
dùng. Mặt khác, mạng lưới kinh doanh, tiêu thụ RAT hiện tại chưa được quản lý
tốt, nên chưa đáp ứng được nhu cầu của nhân dân.
địa bàn huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội; đề ra một số giải pháp nhằm tăng
cường liên kết trong sản xuất và tiêu thụ RAT trên địa bàn huyện Đông Anh,
thành phố Hà Nội.
2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về liên kết trong sản
xuất và tiêu thụ RAT.
- Đánh giá thực trạng liên kết trong sản xuất và tiêu thụ RAT trên địa bàn
huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội.
- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến liên kết trong sản xuất và tiêu thụ
RAT trên địa bàn huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội.
- Đề xuất giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường liên kết trong sản xuất và
tiêu thụ RAT trên địa bàn huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội.
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu mối liên kết giữa các hộ nông dân với nhau; giữ hộ nông dân
với các HTX; giữa hộ nông dân với các công ty từ quá trình sản xuất đến thu
gom rồi tiêu thụ RAT trên địa bàn huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội.
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Nội dung: Đề tài nghiên cứu mối kiên kết từ sản xuất đến tiêu thụ RAT
của các hộ nông dân với các HTX, công ty trên địa bàn huyện Đông Anh, thành
phố Hà Nội.
- Không gian: Trên địa bàn huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội.
- Thời gian: Đề tài thu thập các số liệu thứ cấp trong 3 năm từ 2012 –
2014, số liệu điều tra sơ cấp trong năm gần đây nhất 2014 và các giải pháp được
đề xuất với định hướng trong thời gian tới.
1.4 Câu hỏi nghiên cứu
hoàn các nguồn vật chất, việc mua và bán các sản phẩm được thực hiện. Tiêu thụ
sản phẩm là cầu nối giữa người sản xuất và người tiêu dùng, làm cho quá trình tái
sản xuất diễn ra liên tục (Nguyễn Văn Chí, 2010).
- Theo quy định quản lý sản xuất rau, quả và chè an toàn ban hành kèm
theo Thông tư số 59/2012/TT-BNN&PTNT ngày 09/11/2012 của Bộ Nông
nghiệp và phát triển nông thôn thì rau quả an toàn là sản phẩm rau, quả tươi được
sản xuất, sơ chế, chế biên phù hợp quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về điều kiện đảm
bảo VSATTP hoặc phù hợp với quy trình sản xuất, sơ chế rau, quả an toàn được
Sở nông nghiệp và phát triển nông thôn phê duyệt hoặc phù hợp với các quy định
liên quan đến đảm bảo VSATTP có trong quy trình thực hành sản xuất nông
4
nghiệp tốt cho rau, quả tươi an toàn VietGAP, các tiêu chuẩn GAP khác và mẫu
điển hình đạt các chỉ tiêu an toàn thực phẩm theo quy định” (BNN&PTNT,
2012).
* Rau hữu cơ: Là các loại rau xanh được sản xuất theo phương pháp hữu cơ
truyền thống.
- Một số lưu ý về kỹ thuật sản xuất rau hữu cơ:
+ Chủng loại rau trong vùng sản xuất: Cần đa dạng hóa các loại rau trên đồng
ruộng, kết hợp luân canh cây trồng khác họ
Chống chịu sâu bệnh hại tốt hơn.
+ Phân bón: Phân hữu cơ ủ hoai mục (phân xanh, phân động vật và phế
thải cây trồng được ủ, tái chế).
+ Thiên địch: Tạo điều kiện thuận lợi để các loại động vật và thực vật có
ích sống trên đồng ruộng
- Một số lưu ý về RAT sản xuất theo quy trình chung
+ Vùng sản xuất RAT phải được cấp giấy chứng nhận (GCN) đủ điều kiện
sản xuất RAT
+ Sản phẩm RAT khi bán ở các cửa hàng RAT, siêu thị, bếp ăn, các
hợp đồng, các điểm phân phối RAT… phải được dán tem nhận diện “Rau an
toàn Hà Nội”
* Phân biệt giữa rau thường và RAT:
Hiện nay, trên thị trường rau thường và RAT lẫn lộn, người tiêu dùng
không phân biệt được đâu là RAT. Cách phân biệt chủ yếu bằng mắt thường nên
không biết rau có an toàn hay không, họ chỉ thấy rau ngon đẹp là mua chứ không
rõ là có đảm bảo an toàn hay không.
Câu hỏi được đặt ra là làm sao chúng ta nhận biết được RAT? Vấn đề này
đưa ra thảo luận cùng với một số nhà khoa học và đều nhận được câu trả lời là
bằng cảm quan rất khó có thể nhận biết được rau nào là RAT, rau nào không an
toàn. Một số nhà nội trợ dựa vào việc rau nào bị sâu ăn hoặc có sâu là rau an toàn
(có thể không có thuốc trừ sâu), hay màu sắc rau càng xanh đậm, chứng tỏ rau có
chứa nhiều đạm (nhiễm độc nitrat)... tất cả đều không chính xác. Các dư lượng
như: thuốc hóa học, vi sinh vật, ký sinh trùng, nitrat, kim loại nặng... chứa trong
rau đều không thể kiểm tra cụ thể bằng mắt thường mà phải kiểm tra bằng các
thiết bị phân tích. Vậy cách tốt nhất để mua được RAT là chọn nơi mua và nhà
cung cấp có uy tín, đảm bảo chất lượng.
6
Theo GS.TS Nguyễn Thanh Hiền (Cán bộ Phòng thí nghiệm Phân bón vi
sinh đại học Khoa học Tự nhiên - Giám đốc Công ty Hà Nội Organnic (2005 ) thì
rau sạch vẫn sử dụng các loại phân bón hóa học và thuốc hóa học phòng trừ sâu
bệnh nhưng khác rau thường ở chỗ liều lượng được hạn chế. Ngoài ra khoảng
thời gian từ lúc phun thuốc hóa học đến lúc thu hoạch phải đủ dài để đảm bảo các
Liên kết trong sản xuất và tiêu thụ RAT đó là sự liên kết giữa hộ nông dân
sản xuất cho đến tiêu thụ với các công ty, cửa hàng dịch vụ nông nghiệp, các tác
nhân thu mua, chế biến, tiêu thụ. Các hộ nông dân đảm nhiệm sản xuất RAT. Các
doanh nghiệp, các dịch vụ nông nghiệp với tiềm lực kinh tế của mình thực hiện
đầu tư vốn, vật tư, chuyển giao khoa công nghệ cho hộ nông dân... Liên kết trong
sản xuất và tiêu thụ RAT là sự liên kết giữa hộ nông dân, các doanh nghiệp chế
biến, kinh doanh RAT với các tổ chức tín dụng trong đầu tư vốn, với các nhà
khoa học trong nghiên cứu ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật, với Nhà nước
trong thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội của đất nước.
2.1.2 Sự cần thiết phải liên kết sản xuất và tiêu thụ rau an toàn
- Sản xuất rau chưa có quy hoạch, quy mô còn nhỏ lẻ, manh mún, chưa có
các vùng sản xuất chuyên rau tập trung lớn, trong khi diện tích rau trên địa bàn
thành phố Hà Nội rất lớn, nhất là các vùng ven sông Hồng, sông Đáy.
- Nhà nước đầu tư cơ sở hạ tầng cho vùng sản xuất rau còn thiếu và chưa
đồng bộ.
- Các địa phương khi xây dựng dự án phát triển vùng sản xuất RAT tập
trung đều vướng mắc về quy hoạch chung của Thủ đô.
- Tiêu thụ rau chủ yếu là sản phẩm rau tươi sử dụng trong ngày. Số lượng
cơ sở sơ chế, chế biến rau ít và nhỏ lẻ, chưa đáp ứng được yêu cầu sản xuất hàng
hóa nên giá trị sản phẩm rau thấp.
- Sản xuất, kinh doanh rau gặp rủi ro cao. Mạng lưới kinh doanh RAT
thiếu. Sản lượng rau tiêu thụ qua hệ thống cửa hàng RAT thấp. Các doanh nghiệp
đầu tư vào lĩnh vực sản xuất và kinh doanh rau hạn chế. Đã có một số doanh
nghiệp tham gia nhưng quy mô nhỏ, thiếu bền vững. Hoạt động xúc tiến thương
mại cho lĩnh vực quảng bá RAT còn hạn chế, nên sản xuất gặp nhiều khó khăn.
- Chưa hình thành mối liên kết giữa sản xuất và kinh doanh RAT, nên sản
xuất chưa được mở rộng và phát triển.
8
9
tính hình thức hay là kết quả của những quyết định mang tính chủ quan, áp đặt sẽ
không thể tồn tại và không thể đem lại lợi ích cho các bên tham gia.
2.1.3.3 Các bên tham gia được dân chủ, bình đẳng trong các quyết định của liên kết.
Do các nguồn lực của liên kết được hình thành dựa trên sự đóng góp của
các chủ thể tham gia, mặt khác các liên kết có liên quan chặt chẽ đến lợi ích của
các chủ thể tham gia nên hoạt động quản lý, điều hành, giám sát và phân phối lợi
ích trong liên kết phải đảm bảo dân chủ, bình đẳng. Dân chủ và bình đẳng trong
liên kết không có nghĩa là cào bằng quyền lợi và trách nhiệm mà trên cơ sở
những đóng góp của mỗi bên. Để có sự bình đẳng và dân chủ, các quyết định liên
kết phải đảm bảo tính công khai, minh bạch và được thực hiện thông qua một cơ
chế điều phối chung được thống nhất giữa các bên ngay từ đầu.
2.1.3.4 Kết hợp hài hòa lợi ích kinh tế giữa các bên tham gia.
Trong liên kết kinh tế thì lợi ích kinh tế là động lực thúc đẩy, là chất keo
gắn kết lâu dài các bên tham gia. Việc chia sẻ hài hòa lợi ích có tầm quan trọng
đặc biệt quyết định sự bền vững của các liên kết nên đòi hòi phải tìm ra một cơ
chế giải quyết thích hợp. Cơ chế đó phải tập trung vào các yêu cầu cơ bản và cấp
thiết nhất. Trong từng mối liên kết, từng mặt hàng mà có hình thức và phương
pháp giải quyết lợi ích khác nhau. Ngoài ra cơ chế đó cần đảm bảo cho các bên
tham gia được bình đẳng với nhau cả về quyền lợi cũng như trách nhiệm.
2.1.3.5 Các mối liên kết phải được pháp lý hóa.
Trong cơ chế thị trường hiện nay nhiều quan hệ kinh tế được phát triển
dựa trên cơ sở tin cậy lẫn nhau của các bên tham gia. Liên kết giữa họ thường
xuyên và bền chặt vì các bên đều đạt được lợi ích của mình khi than gia. Tuy
nhiên với mục tiêu hướng đến một nền sản xuất hiện đại thì mọi quan hệ kinh tế
cần phải được thể chế hóa bằng luật pháp dưới hình thức hợp đồng kinh tế, điều
lệ, hiệp ước của tổ chức liên kết. Khi các mối liên kết được pháp lý hóa một mặt
trình sản xuất kinh doanh (theo dòng vận động của sản phẩm). Kiểu liên kết theo
chiều dọc là toàn diện nhất bao gồm từ sản xuất, chế biến nguyên liệu đến phân
phối thành phẩm. Trong mối liên kết này thông thường mỗi tác nhân tham gia
vừa có vai trò là khách hàng của tác nhân trước đó đồng thời bán sản phẩm cho
tác nhân tiếp theo của quá trình sản xuất kinh doanh. Kết quả của liên kết dọc là
hình thành nên chuỗi giá trị của một ngành hàng và có thể làm giảm đáng kể chi
phí vận chuyển, chi phí cho khâu trung gian.
11
- Liên kết ngang: Là hình thức liên kết mà trong đó mỗi tổ chức hay cá
nhân tham gia là một đơn vị hoạt động độc lập nhưng có quan hệ với nhau thông
qua một bộ máy kiểm soát chung. Trong liên kết này, mỗi thành viên tham gia có
sản phẩm hoặc dịch vụ cạnh tranh nhau nhưng họ liên kết lại để nâng cao khả
năng cạnh tranh cho từng thành viên nhờ phát huy tính lợi ích kinh tế theo quy
mô của tổ chức liên kết. Kết quả của liên kết theo chiều ngang hình thành nên
những tổ chức liên kết như Hợp tác xã, liên minh, hiệp hội và có thể dẫn đến độc
quyền trong một thị trường nhất định.
Như vậy liên kết kinh tế có thể diễn ra trong mọi ngành sản xuất kinh
doanh, thu hút sự tham gia của tất cả các chủ thể kinh tế có nhu cầu, mọi thành
phần kinh tế và không bị giới hạn bới phạm vi địa lý.
2.1.5.2 Các mô hình liên kết
a. Mô hình tập trung (The Centralized Model)
Mô hình tập trung là mô hình các doanh nghiệp chế biến, tiêu thụ trực tiếp
ký hợp đồng với các trang trại. Hợp đồng này chỉ có hai bên tham gia trực tiếp là
doanh nghiệp chế biến, tiêu thụ và các trang trại. Các doanh nghiệp đặt hàng cho
các trang trại sản xuất nông sản để doanh nghiệp chế biến, đóng gói và tiêu thụ
sản phẩm. Trong những hợp đồng kiểu này, lượng sản phẩm doanh nghiệp đặt
hàng các trang trại được phân bổ ngay từ đầu mùa vụ và chất lượng được giám
sản phẩm cho doanh nghiệp. Chủ thể tham gia trực tiếp vào mô hình này cũng
chỉ bao gồm doanh nghiệp và các trang trại. Trong đó các trang trại do nông dân
sản xuất thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp. Do đó, các hộ nông dân trực tiếp
sản xuất nông sản trên đất của doanh nghiệp có thể xem là người lao động trong
doanh nghiệp.
Ở Việt Nam, hình thức khoán trong các nông, lâm trường quốc doanh
cũng là mô hình trang trại hạt nhân. Các hình thức khoán này được hình thành
theo Nghị định số 01/CP ngày 04 tháng 01 năm 1995 của Chính phủ. Trước đây và
hiện nay là giao khoán đất nông nghiệp, đất rừng sản xuất và đất có mặt bằng nước
nuôi trồng thủy sản trong các nông trường quốc doanh, lâm trường quốc doanh
theo Nghị định số 135/2005/NĐ-CP ngày 08 tháng 11 năm 2005 của Chính phủ.
Nông dân sản xuất nông sản trên đất của doanh nghiệp. Doanh nghiệp
giao đất và cả cây trồng, vật nuôi cho hộ nông dân, nông dân chăm sóc cây trồng
vật nuôi theo đúng quy trình của doanh nghiệp và giao lại toàn bộ sản phẩm cho
doanh nghiệp. Đây chính là mô hình “Khoán liên doanh”, người sản xuất và
13
người mua ký một hợp đồng gọi là hợp đồng giao khoán. Trong hợp đồng quy
định: Doanh nghiệp kinh doanh nông nghiệp giữ vai trò định hướng sản xuất,
hướng dẫn kỹ thuật (khuyến nông), cung ứng dịch vụ đầu vào, đầu ra, giám sát
các hoạt động sản xuất kinh doanh trên vườn cây, đàn gia súc giao khoán. Quan
hệ giữa doanh nghiệp giao khoán và bên nhận khoán được thiết lập theo nguyên
tắc thị trường, thuận mua, vừa bán. Bản chất của mô hình này chính là trang trại
dự phần hay công ty dự phần trong nông nghiệp.
Doanh nghiệp có trang trại quy mô lớn, có nhà máy chế biến, đủ tiềm lực
tài chính và kỹ thuật để cung cấp cho nông dân. Mô hình này phù hợp với trồng
cây lâu năm và nuôi gia súc, gia cầm theo kiểu công nghiệp quy mô lớn.
Mô hình này cũng có ý nghĩa và tác dụng như mô hình tập trung, ngoài ra
theo dõi, giám sát các hợp đồng giữa doanh nghiệp và trang trại. Nhà nước căn cứ
vào hợp đồng để xử lý các mẫu thuẫn phát sinh (Nguyễn Thị Dịu, 2014).
DOANH NGHIỆP
+ Lập kế hoạch vùng nguyên liệu
+ Khung pháp lý cho nông dân
+ Quản lý và phân xử
+Chính sách khuyến khích thực
hiện tốt hợp đồng
+ Hỗ trợ tổ chức nông dân
+ Cung cấp vốn va y và đầu vào
+Hỗ trợ chuyên môn và quản lý
HTX, TỔ CHỨC, NHÓM NÔNG DÂN
NÔNG DÂN NGHÈO
NHÀ
NƯỚC
+ Mở rộng dịch vụ
+ T hông tin thị trường
+ Chính sách
-
Mức giáo dục thấp
Thiếu vốn
Thiếu PP kỹ thuật
Thiếu thông tin
doanh nghiệp không ký kết hợp đồng trực tiếp với nông dân mà thay vào đó
doanh nghiệp thuê các tổ chức trung gian thực hiện vai trò của mình.
Mỗi cá nhân hay tổ chức trung gian này có trách nhiệm kiểm soát và giám
sát hoạt động sản xuất của nông dân và chịu trách nhiệm toàn bộ hoạt động trong
trang trại từ gieo hạt đến thu hoạch theo quy định của doanh nghiệp và họ được
hưởng hoa hồng cho việc kiểm soát và giám sát.
Mô hình này tồn tại khi nền sản xuất nông nghiệp còn manh mún và phân
tán. Doanh nghiệp chế biến, tiêu thụ nông sản khó thực hiện việc ký hợp đồng
cung cấp vật tư, hướng dẫn kỹ thuật cho nông dân vì để thực hiện ký hợp đồng
cho từng hộ nông dân thì chi phí giao dịch tăng cao và bản thân họ không đủ
năng lực kiểm soát trực tiếp quá trình sản xuất của từng hộ nông dân.
Mô hình này góp phần làm giảm chi phí giao dịch nhờ đầu mối hợp đồng
giảm đi, việc kiểm soát sản xuất và chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp cũng
dễ dàng hơn. Người trung gian đóng vai trò đại diện cho nông dân, tạo nên sức
mạnh tập thể để thương lượng với doanh nghiệp.
Mô hình liên kết kinh tế là một hoặc một tập hợp những vấn đề về tổ chức,
hình thức, phương thức và biện pháp của mối quan hệ kinh tế giữa các chủ thể
16
kinh tế trong một thời gian, không gian nhất định để đạt được lợi ích kinh tế cho
các đối tượng tham gia.
Liên kết bốn nhà trong nông nghiệp là sự thỏa thuận, hợp tác và hỗ trợ
nhau để cùng phát triển giữa nhà nông, nhà khoa học, nhà doanh nghiệp, và Nhà
nước (chủ yếu các tổ chức tín dụng, ngân hàng, quản lý của chính quyền, tham
gia của đoàn thể xã hội) trong đó có sự phân công và hợp tác để vừa phát triển
sản xuất, tiêu thụ các sản phẩm và mang lại lợi ích hài hòa cho các bên trong quá
trình phát triển sản xuất nông nghiệp theo cơ chế thị trường.
2.1.6 Vai trò của liên kết trong sản xuất và tiêu thụ rau an toàn
vào việc xây dựng vào cải tạo cơ sở hạ tầng như hệ thống điện, đường giao thông
và ứng dụng khoa học kĩ thuật vào sản xuất, thực hiện việc chuyển đổi cơ cấu
nông nghiệp, nông thôn theo hướng sản xuất hàng hóa.
- Chính sách giá cả, hỗ trợ sản xuất nông nghiệp: khi cần thì Nhà nước có
những chính sách tác động đến giá cả, đảm bảo quyền lợi của các chủ thể và hỗ
trợ cho các chủ thể một phần khi gặp khó khăn trong quá trình sản xuất.
- Chính sách khuyến khích tiêu thụ hàng hóa nông sản thông qua hợp
đồng và các chính sách hỗ trợ kèm theo. Chính sách này trực tiếp tác động vào
mối liên quan ba nhà và tạo điều kiện cho cả ba chủ thể tham gia vào liên kết có
hiệu quả.
2.1.7.2 Trình độ nhận thức, năng lực, tư duy của các chủ thể tham gia liên kết
Trình độ nhận thức, năng lực, tư duy của các chủ thể liên kết là yếu tố
ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả của liên kết trong sản xuất nông nghiệp. Người
dân không có kiến thức, tư duy về liên kết sẽ không hiểu về liên kết, do đó sẽ khó
thực hiện tốt vai trò của mình trong liên kết. Các nhà khoa học không hiểu biết về
các chủ trương, chính sách liên kết, không có năng lực chuyên môn sẽ không
đảm nhiệm được vai trò cầu nối khoa học kĩ thuật tới người dân. Bản chất các
doanh nghiệp không biết về tầm quan trọng liên kết, không biết về các chính sách
ưu đãi sẽ không tích cực tham gia. Trình độ và tư duy liên kết tốt sẽ nâng cao
hiệu quả liên kết các nhà trong sản xuất nông nghiệp.
2.1.7.3 Quy mô sản xuất
Sản xuất hàng hóa càng cao thì nhu cầu liên kết càng lớn. Trên thực tế, bất
cứ nền sản xuất của nước nào mang tính tự cấp, tự túc sẽ không xuất hiện quá
18
trình liên kết, hợp tác, nếu có cũng chỉ mang tính giản đơn. Trong nông nghiệp
thể hiện rất rõ yếu tố này. Ở Việt Nam, trình độ sản xuất nông nghiệp ở các vùng
khác nhau thì mức độ hợp tác, liên kết cũng khác nhau. Rõ nhất là vùng núi Bắc