tìm hiểu hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của các hợp tác trên địa bàn xã phong sơn, phong điền, thừa thiên huế - Pdf 13

PHẦN 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị
trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa là đường
lối chiến lược lâu dài của Đảng và nhà nước ta. Trong đó phát triển kinh tế
hợp tác là yêu cầu và xu thế phát triển tất yếu khách quan có tầm quan trọng
đặc biệt để từng bước thực hiện mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công
bằng, dân chủ, văn minh.
Đảng và nhà nước ta luôn luôn chăm lo phát triển kinh tế hợp tác và Hợp
tác xã. Những năm qua, với chính sách đổi mới và hội nhập của Đảng và Nhà
nước, khu vực kinh tế hợp tác, HTX đã có những bước phát triển, ngày càng
xuất hiện nhiều HTX, liên hiệp HTX mạnh về kinh tế - sản xuất, kinh doanh,
dịch vụ có hiệu quả. HTX đã thực hiện tốt vai trò "hợp tác" thúc đẩy kinh tế
hộ phát triển bằng việc thực hiện tốt cung ứng các dịch vụ thiết yếu cho xã
viên, như thủy lợi, quản lý và phân phối điện năng, cung ứng vật tư, khuyến
nông, làm đất, bảo vệ thực vật, tiêu thụ nông sản…. Tuy vậy, việc phát triển
hợp tác xã nông nghiệp hiện nay ở nước ta nói chung và ở Thừa Thiên Huế
nói riêng còn nhiều mặt hạn chế.
Trước đây, đa số các HTX.NN thực hiện dịch vụ bơm tưới là chủ yếu
nhưng sau khi có đề án của UBND Tỉnh ra đời và chính sách miễn thủy lợi
phí của CP, nhiều HTX đã mở rộng hoạt động sản xuất, kinh doanh dịch vụ.
Bên cạnh đó, với chủ trương các HTX phải tự hạch toán kinh tế của đơn vị
mình cũng tạo điều kiện cho các HTX đa dạng hóa các loại hình cung cấp
dịch vụ của mình.
Trong những năm qua, tuy các HTX.NN đã mở rộng được nhiều dịch vụ
sản xuất nông nghiệp phục vụ nông dân nhưng một số hoạt động tổ chức
không hiệu quả, nhiều HTX hoạt động thua lỗ phải giải tán, nông dân gặp
nhiều khó khăn trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp. Theo báo
cáo của UBND xã Phong Sơn, toàn xã đang đã hình thành và phát được 6
HTX.NN nhưng do còn gặp nhiều khó khăn trong việc điều hành và quản lý

Từ việc những người sản suất nhỏ lẻ buộc phải liên kết lại với nhau để
cùng tồn tại và phát triển trong sự khắc nghiệt của thị trường và điều kiện tự
nhiên khắc nghiệt đã hình thành những mô hình HTX đầu tiên trên thế giới.
Với lịch sử ra đời và phát triển của phong trào HTX hơn một trăm năm nay đã
cho chúng ta thấy, kinh tế hợp tác và HTX là sản phẩm tất yếu của nền kinh tế
thị trường. Sản xuất hàng hoá ngày càng phát triển, sự cạnh tranh ngày một
gay gắt thì sự hợp tác, liên kết của các nhà sản xuất riêng lẻ càng trở nên là
một yêu cầu cấp thiết để họ tồn tại và phát triển trong sự khắc nghiệt của thị
trường. Phát triển kinh tế hợp tác và HTX là một biện pháp để giải quyết mâu
thuẫn của sự phát triến sản xuất nhỏ lẻ và manh mún, kém hiệu quả thành một
nền sản xuất có hệ thống, hiệu quả cao, đáp ứng nhu cầu của nền sản xuất
hàng hóa lớn.
Trước đây, khi nghiên cứu lý luận chủ nghĩa MAC – LÊNIN về kinh tế
HTX, GS.Lê Văn Tùng, GS.Lê Văn Sung phát hiện “C.MAC đã khẳng định:
“Dù sao thì điều chủ yếu cũng phải làm cho nông dân hiểu rằng chúng ta chỉ
có thể cứu vãn và bảo tồn được tài sản của họ bằng cách biến tài sản đó thành
tài sản hợp tác xã và thành những doanh nghiệp hợp tác xã. Bởi vì chính nền
kinh tế cá thể, kết quả của sở hữu tư nhân, mới làm cho nông dân bị diệt
vong. Nếu họ muốn bảo tồn nền kinh tế cá thể, thì tất yếu họ sẽ bị đuổi ra
khỏi cơ nghiệp của họ, còn phương thức sản xuất lỗi thời của họ sẽ nhường
chỗ cho nền kinh tế TBCN quy mô lớn…”.Theo C.MAC, mọi người nông
dân đều phải tham gia vào HTX và chúng ta có nhiệm vụ phải giúp họ nhận
rõ vai trò của HTX đối với nền sản xuất cá thể hiện có, hướng nền kinh tế sở
hữu tư nhân thành nền kinh tế sở hữu tập thể”.[2]
“Trên cơ sở thừa hưởng những nghiên cứu, quan điểm của C.MAC, Lênin
đã biết vận dụng một cách sáng tạo vào điều kiện cụ thể của nước Nga lúc bấy
3
giờ để chỉ rõ vai trò của HTX trong việc xóa bỏ sự nghèo khổ, khốn cùng của
người dân, Lênin chỉ rõ: “Lối làm ăn xưa, người nông dân làm việc ở nhà
mình, trên mảnh đất nhỏ bé của mình, với gia súc, gà vịt của mình, …lối làm

Nông nghiệp ta thịnh thì nước ta thịnh. Nông dân muốn giàu, nông nghiệp
muốn thịnh thì cần phải có hợp tác xã”[2]. Vì thế phát triển HTX là một bước
không thể thiếu trong quá trình phát triển của đất nước ta.
Từ những quan niệm về tầm quan trọng của HTX, trong lịch sử phát triển
kinh tế - xã hội của nhiều quốc gia, sự phát triển của kinh tế HTX đã chứng
minh được một chân lý: Kinh tế tập thể nói chung và hợp tác xã nói riêng
không phải là khu vực chính để tạo ra nhiều lợi nhuận và tăng trưởng kinh tế
mà là khu vực có vai trò, vị trí quan trọng trong giải quyết việc làm, đảm bảo
đời sống cho đông đảo người lao động, nhất là ở các nước đang phát triển, tạo
sự ổn định về chính trị xã hội, góp phần thúc đẩy tăng trưởng và phát triển
của mỗi quốc gia. Vì vậy, ở nhiều nước Chính phủ rất quan tâm và có chính
sách ưu đãi, nâng đỡ khu vực kinh tế tập thể, coi sự phát triển của kinh tế tập
thể nói chung và HTX nói riêng là một tất yếu khách quan của sự phát triển.
2.1.2 Quan điểm của Đảng ta về sự phát triển HTX
Ở nước ta, phát triển kinh tế tập thể và HTX là nhu cầu thực tế khách
quan, đáp ứng của đòi hỏi của sự nghiệp CNH - HĐH đất nước, là tất yếu của
nền kinh tế hàng hoá. Xét cả về mặt lý luận lẫn thực tiễn, phát triển HTX xuất
phát từ chính nhu cầu phát triển của kinh tế hộ, là chỗ dựa vững chắc cho kinh
tế hộ, người lao động riêng lẻ, các doanh nghiệp nhỏ và vừa tồn tại và phát
triển trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh ngày càng gay gắt. Đảng ta đã
khẳng định qua nhiều kỳ đại hội phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành
phần, vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định
hướng XHCN và Nghị quyết Đại hội IX ngày 22 tháng 4 năm 2001 đã chỉ rõ:
“Các thành phần kinh tế kinh doanh theo pháp luật điều là bộ phận cấu thành
quan trọng của nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa, cùng phát triển lâu dài
hợp tác và cạnh tranh lành mạnh, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ
đạo, kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng
vững chắc của nền kinh tế quốc dân”[11].
Điều này có nghĩa là trong nền kinh tế nhiều thành phần, kinh tế tập thể
mà nòng cốt là HTX, trong đó có HTX.NN cùng với kinh tế nhà nước giữ vị

chế quản lý kinh tế nông nghiệp, NQ 16, ngày 15/7/1988 của Bộ chính trị về
đổi mới quản lý các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, và nhiều chính sách phát
huy các thành phần kinh tế, chính sách kinh tế vĩ mô khác nhằm phát huy môi
trường pháp lý trong nông nghiệp như: Chính sách đất đai, thuế, cho hộ sản
xuất vay vốn để phát triển sản xuất, khuyến nông, khuyến khích làm giàu và
6
“Xóa đói, giảm nghèo”,…Mặc dù hệ thống các chính sách trên tuy chưa hoàn
chỉnh, song đó là nhân tố chủ yếu tạo ra động lực để nông nghiệp tăng trưởng,
phát triển trong một thời gian dài”[16].
“Để tạo hành lang pháp lý cho các hợp tác xã hoạt động có hiệu quả hơn,
tháng 3/1996 Quốc hội thông qua Luật HTX và có hiệu lực thi hành từ ngày
01/01/1997.
Sau khi có Luật HTX, Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách đối với các
HTX: Nghị định của chính phủ số 15-CP ngày 21/2/1997: về chính sách
khuyến khích phát triển HTX, gồm những chính sách: chính sách đất đai,
chính sách thuế, chính sách tín dụng, đầu tư, chính sách đào tạo, thông tin
khoa học-công nghệ, chính sách xuất, nhập khẩu và liên doanh, liên kết kinh
tế, chính sách bảo hiểm xã hội; NĐ số 43 CP ngày 29/4/1997 ban hành Điều
lệ mẫu hợp tác xã nông nghiệp; Thông tư số 44/1999/TT-BTC ngày
26/4/1999 của bộ tài chính hướng dẫn về ưu đãi đối với hợp tác xã,…Đến
năm 2002, sau gần 5 năm thực hiện luật HTX, mặc dù kinh tế hợp tác mà
nòng cốt là HTX đã đạt được nhiều thành quả, đóng góp quan trọng vào quá
trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại nhiều
mặt hạn chế, yếu kém. Vì vậy, để tiếp tục đưa kinh tế tập thể phát triển ngày
18/3/2002. Ban chấp hành TW khóa IX đã ra Nghị quyết số 13-NQ/TW về
tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể. Sau khi luật
HTX được sửa đổi năm 2003, hàng loạt các chính sách hỗ trợ phát triển HTX
khác được ban hành: NĐ số 177/2004/NĐ-CP ngày 12/10/2004 của Chính
phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của luật hợp tác xã năm 2003; NĐ
số 77/2005/NĐ-CP ngày 09/6/2005 của Chính phủ về việc ban hành mẫu

quả hơn các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và cải thiện đời sống,
góp phần phát triển kinh tế xã hội của đất nước”[3].
Định nghĩa Luật HTX sửa đổi năm 2003: “HTX là tổ chức kinh tế tập thể,
do các cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân (gọi chung là xã viên), có nhu cầu lợi
ích chung, tự nguyện góp vốn, góp sức lập ra theo quy định của luật này để
phát huy sức mạnh tập thể của từng xã viên tham gia hợp tác xã, cùng giúp
nhau thực hiện có hiệu quả các hoạt động sản xuất, kinh doanh và nâng cao
đời sống vật chất, tinh thần, góp phần phát triển kinh tế xã hội của đất
nước”[4].
“HTX.NN là một trong các hình thức cụ thể của kinh tế hợp tác trong
nông nghiệp, là tổ chức kinh tế của những người nông dân có cùng nhu cầu và
8
nguyện vọng, tự nguyện liên kết lại để phối hợp giúp đỡ nhau phát triển kinh
tế hoặc đáp ứng tốt hơn nhu cầu về đời sống của các thành viên, tổ chức và
hoạt động theo nguyên tắc, luật pháp quy định, có tư cách pháp nhân”[4].
2.2. Cơ sở thực tiễn
2.2.1. Tình hình phát triển mô hình kinh tế hợp tác ở các nước trên thế giới
HTX nói chung, HTX.NN nói riêng đã ra đời và phát triển ở nhiều
quốc gia Tây Âu, Bắc Mỹ và từng bước phát triển sang các quốc gia Châu Á.
Chúng ta biết, vào cuối thế kỷ XIX, kinh tế thị trường TBCN đang bắt đầu
phát triển ở một số nước Tây Âu, Bắc Mỹ. Quá trình đô thị hóa và công
nghiệp hóa diễn ra ồ ạt, nông dân bị tước đoạt ruộng đất và bị vô sản hóa trở
thành giai cấp công nhân làm thuê. Những người sản xuất nhỏ bị dồn ép bởi
sự cạnh tranh “Cá lớn nuốt cá bé” của các tầng lớp tư bản. Nông dân và
những người lao động nhận ra ưu thế của mình là nếu như họ hợp tác với
nhau thông qua việc lập ra các HTX ở các lĩnh vực khác nhau.
“Các loại hình HTX xuất hiện đầu tiên trên thế giới năm 1844 là HTX
tiêu dùng ở Anh, năm 1849 là HTX tín dụng ở Đức, năm 1887 là HTX cung
ứng vật tư nông nghiệp ở Hà Lan và sau đó xuất hiện các loại hình HTX chế
biến và HTX tiêu thụ nông sản ở nhiều nước”[2].

hàng loạt nhường chỗ cho HTX kiểu mới ra đời phù hợp cơ chế thị trường và
nguyện vọng của các nông, ngư dân”[2].
2.2.2. Tình hình phát triển mô hình kinh tế hợp tác ở Việt Nam
Ở Việt Nam, HTX chủ yếu là HTX.NN được bắt đầu xây dụng từ tháng
8/1955, tức sau khi Nghị quyết TW lần thứ 14 (khóa II) ra đời, Nghị quyết
này chủ trương xây dựng thí điểm các HTX từ năm 1955 đến nay, phong trào
HTX ở Việt Nam có thể chia ra làm 02 giai đoạn chính:
Giai đoạn 1: Từ năm 1955 đến năm 1986:
- “Ở giai đoạn này, nhận thức được vai trò quan trọng của kinh tế tập
thể, mà nòng cốt là HTX, Nghị quyết TW lần thứ 14 (khóa II) tháng 11/1958
Đảng ta xác định: Phong trào HTX ở nước ta mới xây dựng; vì vậy, phải đi từ
thấp đến cao, từ tổ vần công, đổi công đến HTX bậc thấp, rồi HTX bậc cao.
Quan điểm này thể hiện rõ trong tư tưởng của Bác Hồ về hợp tác hóa nông
nghiệp và được đăng tải ở nhiều tác phẩm trong Hồ Chí Minh toàn tập”[6].
“Trong hai thập kỷ 60 – 70 của thế kỷ XX, phong trào xây dựng HTX ở
miền Bắc nước ta trở nên rầm rộ, đã đóp góp đáng kể cho sự phát triển kinh tế
xã hội ở miền Bắc và phục vụ đắc lực cho sự nghiệp giải phóng ở miền Nam.
10
Từ sau năm 1975, đất nước thống nhất, ở miền Nam bắt tay vào xây dựng
HTX. Trong thời kỳ này do quan hệ sản xuất không phù hợp với tính chất và
trình độ của lực lượng sản xuất nên mô hình HTX chưa phát huy tác dụng,
thậm chí làm cho sản xuất nông nghiệp chậm phát triển”[16].
Giai đoạn 2: Từ năm 1986 đến nay
- “Sau khi có nghị quyết Đại Hội Đảng lần thứ VI (1986) về việc đề ra
đường lối phát triển nền kinh tế nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự
quản lý của nhà nước theo định hướng XHCN; Nghị quyết 10/NQ- TW, ngày
05/04/1988 của Bộ Chính Trị về đổi mới cơ chế quản lý kinh tế nông nghiệp;
Nghị quyết 16, ngày 15/07/1988 của Bộ Chính Trị về đổi mới quản lý các
doanh nghiệp ngoài quốc doanh; Hiến pháp năm 1992; Bộ Luật dân sự năm
1995; luật HTX năm 1996; các điều lệ mẫu của các loại hình HTX năm 1997

tương ái, vì cộng đồng”[10].
- Hợp tác xã: “Các HTX kiểu cũ đã chuyển đổi xong giải thể HTX hình
thức, HTX mới thành lập ngày một tăng, dần đáp ứng nhu cầu sản xuất và
tiêu thụ nông sản của xã viên, hộ nông dân. Tính đến 31/12/2010, cả nước có
18.845 HTX (tăng 4% so với năm 2009), 55 liên hiệp HTX, trong đó có 8.907
HTX dịch vụ nông nghiệp, 1.081 HTX thương mại dịch vụ, 1.101 HTX giao
thông vận tải, 502 HTX thuỷ sản, 915 HTX xây dựng, 2.605 HTX công
nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, 1.054 quỹ tín dụng nhân dân, 1.849 HTX dịch
vụ điện nước, 154 HTX môi trường và 677 HTX thuộc các lĩnh vực khác.
Năm 2010, có 711 HTX được thành lập mới, đồng thời có 275 HTX giải thể.
Trong bối cảnh kinh tế - xã hội còn nhiều khó khăn, nhưng số HTX thành lập
mới vẫn tăng so với năm 2008 và 2009. Số HTX thành lập mới có số vốn điều
lệ cao hơn, có định hướng sản xuất kinh doanh rõ ràng, tập hợp được đội ngũ
quản lý có năng lực, tập trung chủ yếu vào các lĩnh vực đang được khuyến
khích như: HTX nông nghiệp kinh doanh tổng hợp, HTX trồng cây ăn quả,
rau sạch, HTX chăn nuôi, HTX môi trường… Số HTX còn lại đã tập trung
khắc phục khó khăn, kết nạp thêm xã viên, nâng cao vốn điều lệ, duy trì đại
hội định kỳ, mở rộng thêm ngành nghề, nâng cao trình độ cán bộ quản lý, có
định hướng rõ ràng hơn. Nhiều HTX đã duy trì tốt hoạt động, tăng cường đầu
tư, đổi mới phương thức huy động vốn, đổi mới công nghệ, cơ sở vật chất, tạo
thêm việc làm và nâng cao thu nhập cho xã viên, người lao động. Hoạt động
của các liên hiệp HTX đã góp phần thúc đẩy các HTX triển, sản xuất, kinh
doanh hiệu quả hơn. Số HTX thành lập mới, ngoài việc cung cấp một số dịch
12
vụ cung cấp cho xã viên, phần lớn được tổ chức và hoạt động nhằm tiêu thụ
nông sản hiện đang là nhu cầu bức xúc của xã viên”[10].
2.2.3. Tình hình phát triển mô hình HTX ở Thừa Thiên Huế
“Sau hơn 7 năm thực hiện Luật HTX (2003-2010) và Đề án phát triển
kinh tế tập thể của tỉnh Thừa Thiên Huế giai đoạn 2006-2010, HTX ở tỉnh Thừa
Thiên Huế đã đạt được nhiều kết quả quan trọng. Tính đến năm 2010, toàn tỉnh

+ Đặc điểm về điều kiện kinh tế – xã hội
- Thực trạng hoạt động của HTX:
+ Quá trình thành lập của các HTX
+ Tình hình chung của các HTX:
• Tình hình tham gia vào HTX của người dân
• Bộ máy quản lý của HTX
• Nguồn vốn hoạt động của HTX
+ Quy mô và hoạt động sản xuất kinh doanh của HTX:
- Hiệu quả của các hoạt động:
+ Các hoạt động kinh doanh dịch vụ
+ Các hoạt động khác
- Ảnh hưởng của cơ chế chính sách đến sự phát triển của các HTX.
- Những khó khăn và thuận lợi của các HTX
3.4. Phương pháp nghiên cứu
3.4.1. Phương pháp thu thập số liệu
- Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn PRA (Participatory Rural
Appraisal)
- Thu thập dữ liệu sơ cấp và dữ liệu thứ cấp.
- Tiến hành điều tra toàn diện các HTX.NN trên địa bàn xã Phong Sơn.
14
3.4.1.1. Thu thập thông tin thứ cấp
- Báo cáo của huyện về tình hình phát triển hợp tác xã trên toàn huyện.
- Báo cáo của xã về tình hình kinh tế - xã hội và tình hình hoạt động cũng
như đóng góp của các HTX trên địa bàn xã.
- Báo cáo của các HTX về các hoạt động sản xuất kinh doanh và hiệu quả
đạt được của các hoạt động đó.
Ngoài ra, các báo cáo khoa học và kết quả nghiên cứu của nhiều tác giả
công bố trên các sách báo, tạp chí chuyên ngành chăn nuôi, nông nghiệp, tài
chính, Website, cũng được sử dụng làm nguồn tài liệu thứ cấp
3.4.1.2. Thu thập thông tin sơ cấp

+ Phía Bắc giáp xã Phong Xuân, Phong An.
Tổng diện tích của toàn xã là 11.530 ha trong đó đất đồng bằng chỉ
chiếm 2/5 diện tích còn lại là đất đồi núi. Với lợi thế là nằm ở thượng nguồn
của sông Bồ, Phong Sơn có điều kiện tốt để phát triển nông nghiệp. Cùng với
vị trí thuận lợi, xã cũng có tiềm năng và cơ hội lớn để trao đổi, giao lưu mọi
mặt về kinh tế, văn hóa, xã hội và định hướng phát triển trong tương lai.
* Địa hình
Với địa hình lòng chảo, thường úng vào mùa mưa nên sản xuất chính
của người dân ở đây tập trung chủ yếu vào vụ Đông Xuân, còn vụ Hè Thu 1/4
diện tích không thể tiến hành gieo trồng được. Đặc biệt với 3/5 diện tích là
đồi núi nhưng được phân chia rõ ràng giữa đất đồng bằng và đất đồi núi, vì
thế xã Phong Sơn có điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế vùng gò đồi,
nhất là trồng rừng.
* Đất đai, thổ nhưỡng
Loại đất chủ yếu ở đây là đất cát pha, đất thịt, đất phù sa do sông Bồ
bồi đắp, đất đỏ, đất xám,… qũy đất này rất phù hợp cho người dân phát triển
nông nghiệp toàn diện theo hướng chuyên canh. Hiện nay, bên cạnh quỹ đất
đã được sử dụng vào đúng mục đích thì còn một bộ phận đất do nhiều yếu tố
nhu khí hậu, địa hình,… vẫn bỏ hoang gây lãng phí.

16
* Khí hậu, thời tiết
- Nhiệt độ: Nhiệt độ biến động rõ rệt theo mùa. Mùa khô chịu ảnh
hưởng của gió Tây Nam khô nóng nhiệt độ cao ( 38 - 40
0
C ) vào tháng 6, 7,
mùa lạnh chịu ảnh hưởng của gió Đông Bắc nên nhiệt độ khá thấp ( 9 -11
0
C )
vào tháng 1, 2. Nhiệt độ trung bình 25

tương lai không còn tồn tại lao động nông nghiệp.

17
* Hoạt động sản xuất của người dân
Xã Phong Sơn là một xã ở vùng gò đồi của huyện Phong Điền nên hoạt
động nông nghiệp là hoạt động sản xuất chính của cư dân nơi đây. Các hoạt
động sản xuất chính là: trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, cải tạo vườn tạp và
kinh tế trang trại. tuy gặp nhiều khó khăn trong sản xuất do thời tiết, thị
trường,… nhưng các hoạt động cũng đã thu được những kết quả khá, một số
hoạt động đã vượt chỉ tiêu đề ra của xã, cụ thể như:
- Trồng trọt: Tổng diện tích gieo trồng trong cả năm 1731,5 ha, trong
đó: cây lúa 959,5 ha, tăng 79,5 ha so với cùng kỳ đạt 109% kế hoạch, năng
suất lúa bình quân 51 tạ/ha, giảm 2,3 tạ/ha so với cùng kỳ, đạt 90,1% kế
hoạch; cây lạc: 380 ha, tăng 123ha so với cùng kỳ, đạt 100% kế hoạch, năng
suất lạc 22 tạ/ha, đạt 100% kế hoạch; sắn công nghiệp 220ha, năng suất 25
tấn/ha; đậu các loại 172 ha, năng suất 13,5 tạ/ha.
- Chăn nuôi: tổng đàn trâu hiện có 792 con, giảm 408 con so với cùng
kỳ, đạt 53% kế hoạch; bò 154 con, tăng 39 con so với cùng kỳ, đạt 85,5% kế
hoạch; đàn lợn có 3520 con, đạt 50,3%.
- Lâm nghiệp: bảo vệ, chăm sóc và trồng mới 2.305,1 ha rừng. Hiện
nay số rừng trồng đã bắt đầu cho khai thác tạo một nguồn thu nhập lớn, góp
phần giải quyết công ăn việc làm cho nhiều lao động trên địa bàn xã.
- Cải tạo vườn tạp và kinh tế trang trại: Xã Phong Sơn là một xã gò đồi
nên ở đây có điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế vườn và trang trại. Tính
đến nay, xã đã có 17 trang trại với diện tích hơn 40ha, hầu hết trang trại sản
xuất theo mô hình nông lâm kết hợp, bước đầu đã mang lại giá trị kinh tế cao
cho người dân.
- Thủy sản: Mặc dù là một xã miền núi nhưng Phong Sơn cũng phát
triển hoạt động nuôi trồng thủy sản, với diện tích 25 ha, sản lượng cá thu
hoạch khoảng 05 tấn, đạt 100% kế hoạch đề ra đã cho chúng ta nhận thấy

người dân đều phải tham gia vào HTX không phân biệt thành phần kinh tế
hay tôn giáo. Một hình thức tham gia vào HTX mà người dân cho rằng là “ép
buộc”. Đến năm 1988, HTX Nam Sơn ra đời tiến hành quản lý các thôn: Hiền
Sỹ và Đồng Dạ.
Ngày 01/01/1997, Luật HTX ra đời làm tiền đề để phát triển mô hình
kinh tế HTX kiểu mới việc xây dựng và hình thành HTX.NN theo luật thời gian
đầu gặp rất nhiều khó khăn, cơ bản nhất vẫn là một bộ phận nông dân nhận thức
còn ngán ngại, dè dặt chưa thật sự ủng hộ, một số ít cán bộ chưa thật sự tin
tưởng với chủ trương của Đảng và Nhà nước về kinh tế hợp tác xã kiểu mới.
19
Trên cơ sở đó, được sự hỗ trợ tích cực của Sở NN&PTNT tỉnh Thừa
Thiên Huế và Hội Nông Dân Việt Nam tỉnh Thừa Thiên Huế mà cụ thể là
Đoàn cán bộ xây dựng HTX nông nghiệp của Tỉnh. Sự chỉ đạo sâu sát của
BTV Huyện Ủy, UBND Huyện, BCĐ Huyện, UBND Xã. Sự kết hợp chặt chẽ
giữa các ngành, địa phương, tập trung đẩy mạnh công tác tuyên tuyền, vận
động làm cho thông suốt từ nội bộ ra tới quần chúng nhân dân, quán triệt luật
HTX, các Nghị định, Chỉ thị của Chính phủ, đồng thời phân biệt rõ giữa HTX
cũ và mới, tính ưu việt của HTX.NN kiểu mới để nông dân tự nguyện, tự giác
tham gia, các HTX trên địa bàn xã bắt đầu đổi tên thành HTX.NN.
Đến năm 2003, khi Luật HTX được sửa đổi, tạo điều kiện thuận lợi
cho các HTX phát triển. Để tiện cho việc quản lý và thực hiện các hoạt động,
các HTX trên địa bàn xã đã tiến hành phân tách và thành lập các HTX mới.
Từ HTX.NN Đông Sơn tách ra làm 2 HTX.NN là Phe Tư và Cổ Bi, từ
HTX.NN Bắc Sơn tách ra thành HTX.NN Phổ Lại và HTX.NN Tứ Chánh.
Theo nguồn phỏng vấn người am hiểu của các HTX thì sau quá trình phân
tách HTX hoạt động có hiệu quả hơn và lợi ích mà HTX mang lại cho người
dân cũng thể hiện rõ hơn.
Tính đến năm 2011, toàn xã Phong Sơn đã có 6 HTX hoạt động trong
lĩnh vực cung cấp dịch vụ nông nghiệp cho xã viên của mình. Các HTX hoạt
động dưới sự chỉ đạo của Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện

4 Nam Sơn 662 662 2.9
5 Cổ Bi 647 647 4.5
6 Phe tư 272 272 3.1
7 BQ/HTX 523.5 523.5 3.6
(Nguồn: báo cáo của các HTX qua các năm)
Nhìn chung, số lượng xã viên của các HTX đều không thay đổi từ
năm 2006 đến nay, do đa số xã viên của HTX là những người trong độ tuổi từ
35-60, họ là những người tham gia từ khi HTX thành lập cho đến bây giờ.
Với 30 hộ là xã viên của các HTX mà tôi tiến hành khảo sát thì độ tuổi trung
bình của những người trả lời phỏng vấn là 48, đây là độ tuổi gần về già, họ
chính là lực lượng chủ chốt tham gia sản xuất nông nghiệp. Theo nhận nguồn
điều tra trong 30 hộ thì có 2 hộ (chiếm 6,7%) thời gian tới sẽ ra khỏi HTX do
gia đình họ sẽ không tham gia vào sản xuất nông nghiệp nữa còn 93,3% số hộ
vẫn tham gia với lý do các hộ này vẫn sản xuất nông nghiệp mà HTX lại quản
lý các khâu đầu tiên của sản xuất nông nghiệp tại địa phương.
21
Biểu đồ 1: Tỷ lệ xã viên của các HTX/xã viên toàn xã
(Nguồn: báo cáo của các HTX năm 2010)
Qua biểu đồ ta thấy, tỷ lệ xã viên của HTX Tây Sơn trên toàn xã là
lớn nhất chiếm 37,82%, đây là HTX có nguồn lực rất mạnh để tiến hành phát
triển sản xuất, với nguồn lao động lớn lại nằm gần trung tâm xã nhất nên ở
đây có đủ điều kiện để tổ chức các hoạt động kinh doanh dịch vụ. Còn HTX
Phổ Lại là HTX mới thành lập chỉ quản lý một thôn lại nằm ở vùng hẻo lánh,
xa trung tâm xã nên số lượng xã viên của HTX cũng thấp nhất. Tỷ lệ xã viên
của các HTX cho ta thấy HTX nào quản lý càng lớn xã viên thì HTX đó có
điều kiện thuận lợi trong việc phát triển sản xuất cũng như tạo thuận lợi trong
việc kinh doanh dịch vụ vì số lượng xã viên sử dụng dịch vụ HTX cung cấp
càng đông.
4.2.2.2. Bộ máy quản lý của HTX
Tiếp tục thực hiện chỉ thị số 20-CT/TW của Ban Bí Thư về tăng

Chủ nhiệm
20
0 16,67 3,33 10 0 0
Phó chủ nhiệm
13,33
0 6,67 6,67 0 0 0
Ban kiểm soát
26,67
0 20 6,67 6,67 3,33 0
Kế toán
23,33
0 13,33 10 3,33 0 0
Thủ quỷ
16,67
0 10 6,67 0 0 0
Tổng
100
0.00 66.67 33.33 20.00 3.33 0.00
(Nguồn: báo cáo của các HTX)
Với trình độ của ban quản lý HTX như trên, tỷ lệ cán bộ đã được đào tạo
chuyên môn chỉ chiếm 23,33% thì làm sao đáp ứng được nhu cầu phát triển.
Hiện nay, yêu cầu về sự hạch toán kinh tế ngày càng cao, trình độ người dân
23
ngày càng được nâng cao thì đòi hỏi bộ máy quản lý của HTX cũng phải nâng
cao trình độ chuyên môn như ban kế toán chỉ có 2 người có trình độ sơ cấp,
trong khi Nhà nước ta quy định các HTX phải công khai minh bạch chứng từ
sổ sách kinh doanh cho xã viên biết trong các lần sơ kết, tổng kết hoạt động
kinh doanh. Nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của ban quản lý các HTX
trong thời gian tới, Sở Nông nghiệp Thừa Thiên Huế phối hợp với Phòng
Nông Nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Phong Điền đã và đang tiến hành

doanh thu cho HTX.
Nhìn chung, trình độ của đội ngũ cán bộ quản lý HTX trong thời gian
qua vẫn có nhiều tiến bộ, khả năng quản lý, kinh doanh , nhạy bén với thị
trường ngày càng được nâng lên. Tuy nhiên, bên cạnh những HTX mạnh dạn
mở rộng các dịch vụ, lĩnh vực hoạt động đem lại nhiều lợi ích cho xã viên, thì
vẫn còn những HTX còn rụt rè, ngại khó, ngại va chạm trong kinh doanh
trong khi “ thương trường là chiến trường”. Một trong những nguyên nhân
chính dẫn đến hạn chế này là trình độ cán bộ còn chưa xứng tầm.
4.2.2.3. Nguồn vốn hoạt động của HTX
Trong quá trình hoạt động, có rất nhiều yếu tố quyết định đến chất
lượng và hiệu quả hoạt động của HTX. Trong đó, nguồn vốn là một yếu tố
quan trọng không thể thiếu.
* Nguồn vốn lưu động:
Theo báo cáo của các HTX, từ khi thành lập cho đến nay xã viên không
hề góp vốn vào hoạt động của HTX, nguồn vốn mà các HTX sử dụng để hoạt
động hàng năm là do huy động từ trong xã viên nộp lệ phí dịch vụ. Chỉ riêng
HTX Phổ Lại và Phe Tư có vốn từ khi mới thành lập là do 2 HTX này tách ra
từ HTX hoạt động trước đó, nhưng nguồn vốn mà họ nhận được không phải
bằng tiền mặt mà là số tiền nợ trong dân khi sử dụng dịch vụ.
Hiện nay, tổng nguồn vốn các HTX trên địa bàn xã Phong Sơn sử dụng
để hoạt động là1.814,204 triệu đồng, bình quân/HTX là 302,367 triệu đồng.
Nguồn vốn hoạt động đã thấp, phần lớn lượng vốn lại nằm trong dân nên hàng
năm tình trạng thiếu vốn sản xuất kinh doanh đều diễn ra ở các HTX. Thiếu
vốn là một hạn chế rất lớn đối với các HTX trong quá trình hoạt động, cụ thể
là không đủ vốn để tăng thêm hoặc mở rộng dịch vụ, trang bị thêm tư liệu sản
xuất, đầu tư vào các hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả khác, không
đủ điều kiện để quan tâm, giúp đỡ các hộ xã viên còn nghèo phát triển sản
xuất. Hầu hết những người được hỏi về chính sách hổ trợ cho hộ nghèo trên
địa bàn HTX đều cho rằng do vấn đề thiều vốn nên không thực hiện được các
biện pháp để nâng cao hiệu quả sản xuất cho những người nghèo. Mặc dù


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status