tìm hiểu vai trò của cây cao su thuộc chương trình đa dạng hoá nông nghiệp đối với kinh tế hộ ở xã hương phú, huyện nam đông, tỉnh thừa thiên huế - Pdf 13

PHẦN 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu.
Cây cao su (Hevea brasiliensis) là cây công nghiệp dài ngày với những
đặc điểm nổi bật so với các loại cây trồng khác. Đây là loại cây trồng cho
khai thác lâu nhất, chỉ trồng một lần để sau 6-7 năm có thể cho thu hoạch
đến 25 năm. Cao su trồng ở những vùng sinh thái có điều kiện tự nhiên thích
hợp có thể cho thu hoạch đều đặn hàng năm suốt chu kỳ khai thác. Theo ước
tính của các nhà khoa học năng suất mủ khô của cây cao su khoảng từ 1,4
đến 1,8 tấn/ha cho lãi suất 2,3 đến 2,5 triệu/tấn. Hiện nay với những tiến bộ
kỹ thuật về công nghệ chế biến gỗ, vườn cao su sau khi được thanh lý thân
cây cao su được sử dụng làm nguyên liệu để sản xuất đồ mộc, đồ gia dụng có
giá trị cao. Tính bình quân một ha cao su có thể cho 100-300 m
3
gỗ, theo thời
giá thị trường hiện tại tương đương với 50-55 triệu đồng. Cây cao su là một
cây trồng nhiệt đới, có nguồn gốc từ lưu vực sông Amazon ở Brazil và các
vùng lân cận. Tính đến nay, vừa tròn 110 năm cây cao su được du nhập vào
Việt Nam (1897) và 100 năm hình thành những đồn điền kinh doanh (1907).
Diện tích trồng cây cao su đã tăng rất nhanh, từ 7.077 ha tập trung tại các
tỉnh Đông Nam Bộ vào năm 1920; đã tăng lên đến xấp xỉ 500 nghìn ha trên
cả nước, cho tổng sản lượng mủ khai thác đạt 600 nghìn tấn, cây cao su đã
phát triển một cách mạnh mẽ và trở thành 1 trong 7 mặt hàng đạt kim ngạch
xuất khẩu hơn 1 tỷ USD, đồng thời đưa Việt Nam lên vị trí thứ 4 về xuất
khẩu và thứ 5 về sản lượng cao su trên thế giới.[14]
Cao su là cây không tưới, hoàn toàn dựa vào nguồn nước tự nhiên do
vậy không cạnh tranh với các loại cây trồng khác và tránh được sự khủng
hoảng do khai thác nguồn nước mặt và nước ngầm quá mức. Tại những nơi
địa có hình cao, mực nước ngầm thấp không thích hợp với các cây dài ngày
khác thì cao su vẫn chịu đựng được và phát triển bình thường. Cây cao su là
một cây rừng, có bộ tán rộng nên có tác dụng che phủ đất tốt, trong giai đoạn

đã trồng được 261 ha, trong đó diện tích khai thác khoảng 100 ha. Nhiều hộ
trồng cao su cho thu nhập cao, đặc biệt có hộ thu từ 20 đến 30 triệu
đồng/năm. Nhờ cây cao su, hiện ở Nam Đông số hộ có đời sống khá trở lên
chiếm 28%, số hộ nghèo đã giảm xuống còn 11,4%.
2
Xã Hương Phú hiện có 428 hộ đã trồng được 703 ha cao su, trong đó đã
có hơn 200 ha trong thời kỳ khai thác, mỗi năm thu được từ 150 đến 200 tấn
mủ tươi, doanh thu từ 600 đến 800 triệu đồng. Nhờ việc trồng cao su mà
trong nhiều năm qua người dân xã Hương Phú đã có thêm nguồn thu nhập,
cuộc sống đã dần đi vào ổn định. Chính vì thế trong đợt thực tập tốt nghiệp
lần này, tôi đã chọn việc " Tìm hiểu vai trò của cây cao su thuộc chương
trình đa dạng hoá nông nghiệp đối với kinh tế hộ ở xã Hương Phú,
huyện Nam Đông, tỉnh Thừa thiên Huế" làm đề tài tốt nghiệp của mình.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu.
- Mục tiêu chung : Tìm hiểu vai trò của cây cao su ở xã Hương Phú
thuộc chương trình đa dạng hóa nông nghiệp đối với sự phát triển kinh tế
nông hộ. Qua đó xem xét lợi ích so sánh giữa phát triển cây cao su với các
loại cây trồng khác và đề xuất những biện pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu
quả của cây cao su đối với kinh tế nông hộ.
- Mục tiêu cụ thể :
+ Tìm hiểu và phân tích những nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của
cây cao su thuộc chương trình đa dạng hóa nông nghiệp ở xã Hương Phú.
+ Đánh giá hiệu quả thực tế mà cây cao su mang lại cho kinh tế nông
hộ, những vấn đề còn tồn tại khi thực hiện nhân rộng mô hình trồng cao su ở
xã Hương Phú.
+ Nêu lên các giải pháp nhằm phát triển quy mô cũng như sản lượng
cao su để từ đó nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội và cải thiện môi trường
sống cho người dân.
3
PHẦN 2

sự xứng với tiềm năng của nó.
2.2. Vai trò kinh tế của cây cao su đối với nông hộ
2.2.1. Vai trò trực tiếp
Cây cao su hiện nay được nhân trồng với quy mô lớn trên thế giới là
nhờ vào sản phẩm đặc biệt của nó, đó là mủ cao su. Mủ cao su là nguyên liệu
cần thiết cho nhiều ngành công nghiệp hiện nay do nó có những đặc tính hơn
hẳn cao su nhân tạo về độ đàn hồi, chống lạnh, dễ sơ luyện Bên cạnh mủ,
cây cao su còn cho các sản phẩm khác không kém phần quan trọng như: gỗ,
dầu hạt
Gỗ cao su hiện nay là nguồn thu đáng kể, vườn cao su già sau 25-30
năm cho mủ sẽ được cưa đốn lấy gỗ, bình quân ước tính cho 50-55 triệu
đồng/ha. Gỗ cao su dùng để làm đồ nội thất, ván sàn, làm đồ chơi trẻ
em Mạt cưa có thể dùng làm giá thể trồng nấm rất tốt.
Dầu hạt cao su ở giai đoạn kinh doanh, mỗi năm cho khoảng 200-300
kg hạt/ha, hàm lượng dầu khoảng 15-20 %, đầu được sử dụng làm xà phòng,
công nghệ sơn
2.2.2. Vai trò gián tiếp
Ngoài các sản phẩm thu được trực tiếp như trên, chúng ta còn có thể thu
được nguồn lợi từ các loại cây trồng xen giữa các hàng cao su trong thời kỳ
kiến thiết cơ bản như các loại cây hoa màu (đậu, lạc, dưa hấu ) cây lương
thực, cỏ chăn nuôi và có thể nuôi ong lấy mật từ hoa, cuống lá cao su non
Đối với vườn cao su trong thời kỳ KTCB, trong 2- 3 năm đầu tiên sau
khi trồng do tán cây còn nhỏ và khoảng trống giữa các hàng cao su tương đối
rộng (6- 7 m) cho nên có thể tận dụng khoảng trống giữa các hàng để trồng
xen các cây lương thực ngắn ngày hoặc trồng các cây thảm mục nhằm tạo
thêm một phần thu nhập cho người trồng, che phủ đất, tiết kiệm chi phí làm
cỏ và cải tạo bồi dưỡng độ phì của đất (đối với các cây họ Đậu). Trong
trường hợp khoảng cách trồng cao su được nới rộng đến 17-20 m (trồng cây
5
hàng kép) có thể các cây dài ngày như cây ăn trái, cà phê hoặc các cây ngắn

1993. Kết quả cho thấy rằng, việc chọn loại cây trồng xen có ảnh hưởng đền
sinh trưởng của cây cao su do vấn đề cạnh tranh về nước và dinh dưỡng. Để
tránh làm giảm sinh trưởng của cao su do sự cạnh tranh của cây trồng xen thì
thời gian trồng xen thích hợp là khi cây cao su được hai năm tuổi và trồng
xen các loại cây hàng năm có thời gian sinh trưởng ngắn.
Trên mô hình trồng xen tối ưu tại Indonesia được thiết lập cho diện tích
1,4 ha cao su PR261 xen với 0,5 ha cây lương thực và 3 đầu gia súc. Lợi
nhuận ước tính cho mô hình này là trên 1.500 USD/năm tức là khoảng
22.900.000 đồng/năm.
Ở Sri Lanka, hiện nay có khoảng 50% diện tích cao su tiểu điền thực
hiện việc trồng xen canh trong thời kỳ cao su KTCB. Nghiên cứu về ảnh
hưởng của mật độ chuối trồng xen đến phát triển của cây cao su thời kỳ
KTCB cũng như đến năng suất mủ thời kỳ khai thác đã được thực hiện tại
Sri Lanka bắt đầu từ năm 1993. Bốn nghiệm thức so sánh là cao su độc canh
(R); 1 hàng chuối + 1 hàng cao su (BR); 2 và 3 hàng chuối + 1 hàng cao su
(BBR và BBBR). Kết quả cho thấy việc trồng xen chuối làm giảm thời gian
KTCB của cao su 6 tháng và không có sự khác biệt về sinh trưởng, năng suất
của cao su giữa các nghiệm thức. Tính bình quân năng suất mủ cao su ở
nghiệm thức trồng xen mật độ cao thì cao hơn do số cây có thể khai thác sớm
nhiều hơn. [6]
Tóm lại: Bình quân thu nhập thêm từ xen canh, nuôi trồng trên 1 ha
cao su kiến thiết cơ bản đạt khoảng 1.500.000đ/ha/năm. Ngoài ra, còn đem
lại nhiều hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường sinh thái. Đây cũng là một
trong những vấn đề cần nghiên cứu về những giải pháp phát triển bền vững
cho cây cao su thiên nhiên, đặc biệt là cao su tiểu điền.
Bên cạnh đó, cây cao su còn có tác dụng bảo vệ môi trường sinh thái
bền vững (phủ xanh đất trống,đồi núi trọc, chống xói mòn ), cải thiện điều
kiện kinh tế - xã hội (tạo công ăn việc làm, phân bổ dân cư hợp lí ) đặc biệt
là vùng trung du miền núi; đảm bảo ổn định an ninh quốc phòng tại các vùng
biên giới…

bình quân khoảng 4,5%, trong đó CSTN tăng 5,2%, còn CSTH tăng 3,9%.
Có thể nói, do giá dầu biến động mạnh đã phần nào lý giải cho việc tăng
trưởng chậm của CSTH.
Những nước sản xuất CSTN dẫn đầu là Thái Lan, Indonesia, Malaysia,
Ấn Độ, Trung Quốc, Việt Nam và Côdivoa chiếm hơn 90% sản lượng CSTN
của thế giới. Trong đó, Ấn Độ và Trung Quốc chủ yếu tiêu thụ nội địa, còn
các nước khác xuất khẩu vẫn chiếm tỷ lệ lớn. Việt Nam là nước thứ 6 về sản
xuất nhưng đứng thứ 4 về xuất khẩu.
Bảng 2: Năng suất cao su thiên nhiên của một số nước (kg/ha)
Nước
Năm
2000 2001 2002 2003 2004 2005
Thái Lan 1563 1681 1694 1788
Việt Nam 706 1299 1217 1363 1310 1414
Indonesia 743,5
Malaysia 569,6
Thế giới 910,3
[Nguồn: Tổng Cục Thống Kê Việt Nam, 2006]
Tuy nhiên, thiên tai xảy ra trong những năm gần đây như: sóng thần,
hạn hán kéo dài đã làm giảm nguồn cung CSTN của các nước Đông Nam Á,
nơi chiếm hơn 80 % tổng sản lượng CSTN của thế giới, trong đó Thái Lan
và Inđonesia, 2 nước sản xuất CSTN lớn nhất thế giới, bị ảnh hưởng nặng nề
làm giảm đáng kể sản lượng CSTN so với thu hoạch dự kiến.
Bên cạnh đó, giá dầu thô nguồn nguyên liệu chính để sản xuất CSTH
đang tăng mạnh và chưa có dấu hiệu hạ nhiệt làm tăng chi phí sản xuất
CSTH nên nhiều nhà sản xuất đã chuyển sang sử dụng CSTN thay cho
9
CSTH. Theo báo cáo của Tập đoàn nghiên cứu cao su Quốc tế (IRSG) đến
năm 2010, tiêu thụ cao su thiên nhiên thế giới có thể đạt 9,6 triệu tấn, cao
hơn 300.000 tấn so với dự báo về năm ngoái. Nếu không có sụ thay thế, bổ

Việt Nam là một trong những quốc gia có sản lượng khai thác CSTN
nhiều nhất thế giới, nên diễn biến tích cực của ngành CSTN thế giới thời
gian qua đã tác động tăng trưởng ngành Cao su Việt Nam. Tuy nhiên,
khoảng cách về sản lượng khai thác hàng năm của Việt Nam so với các nước
khác như Thái Lan (gần 3 triệu tấn), Indonesia (2 triệu tấn) và Malaysia (trên
1 triệu tấn) là rất lớn nên Việt Nam hầu như không chủ động được về giá
cũng như cung cầu sản lượng mà hoàn toàn phụ thuộc vào biến động của thị
trường thế giới.
Theo số liệu cục Thống kê, sản lượng cao su xuất khẩu của Việt Nam
năm 2005 đạt 574 ngàn tấn và đạt 474 triệu USD, tăng 16% so với năm 2004
về lượng nhưng về giá trị xuất khẩu tăng hơn 32%. Trung Quốc và Hàn
Quốc là hai thị trường xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam chiếm lần lượt là
60% và 6%. Ngoài ra, còn có những thị trường xuất khẩu tiềm năng khác
như Mỹ, Đức, Nhật Bản
Tại Việt Nam, sản xuất và xuất khẩu cao su có tốc độ phát triển mạnh
trong những năm gần đây, Việt Nam đã đứng hàng thứ 4 thế giới về xuất
khẩu cao su, sau Thái lan, Indonesia và Malaysia. Theo Hiệp hội Cao su Việt
Nam, các doanh nghiệp rất cố gắng xuất khẩu cao su năm 2007 mới chạm tới
ngưỡng 760.000 tấn, như vậy con số 780.000 tấn cao su đưa ra để phấn đấu
đã không đạt được.
Hiện nay Việt Nam xuất khẩu cao su đến 40 nước và vùng lãnh thổ trên
thế giới với thị trường xuất khẩu lớn nhất là Trung Quốc (chiếm 64% lượng
xuất khẩu) tiếp theo là Singapore, Hàn Quốc, Đài Loan, Đức, Hoa Kỳ Từ
năm 1995, số lượng cao su thiên nhiên Việt Nam xuất khẩu sang Trung
Quốc khá lớn và có sự tăng vọt từ năm 2005 đến nay. Sở dĩ vì nhu cầu cao su
thiên nhiên của Trung Quốc là 1,7 triệu tấn/năm, trong khi sản xuất không
đáp ứng nổi nhu cầu phát triển của ngành công nghiệp chế biến.
Tuy nhiên, có một thực tế là xuất khẩu cao su của Việt Nam tập trung
chủ yếu vào các sản phẩm CSTN chưa được xử lý, với gần 60% là CSTN đã
định chuẩn về kỹ thuật và CSTN ở dạng nguyên thủy. Mặc dù được quan

tư trồng và năm 2007 trồng mới được khoảng 300 ha cao su. Lợi nhuận cao
còn tạo điều kiện cho nhiều doanh nghiệp cao su Việt Nam đầu tư để nâng
cao năng suất vườn cây và chất lượng cao su sơ chế, đồng thời cải thiện việc
xử lý môi trường nước thải và nhà máy cao su.
Theo bà Trần Thị Thuý Hoa, Tổng thư ký của hiệp hội cao su Việt
Nam, thì Việt Nam đang tập trung để tăng sản lượng cao su lên gấp 2 lần
(tức 1 triệu tấn) vào năm 2020 bằng việc mở rộng diện tích và nâng cao năng
suất. Năng suất này hy vọng là sẽ tăng từ 1,4 tấn/ha (năm 2006) tới ít nhất là
1,6 tấn/ha. Và cũng theo bà Hoa dự đoán thì diện tích có thể sẽ tăng thêm
500.000 ha nữa. Cùng với sự đầu tư về trang thiết bị, công nghệ chế biến thì
sản lượng cao su của Việt Nam sẽ ngày càng tăng lên, đáp ứng nhu cầu tiêu
thụ cao su trên thế giới và góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển mạnh. [2]
2.3. Tình hình phát triển cao su tiểu điền
2.3.1 Trên thế giới
Trên thế giới, hình thức sản xuất cao su tùy vào từng quốc gia, có nơi
trồng cao su trên diện tích rộng từ 500-10.000 ha hoặc lớn hơn nữa gọi là cao
su đại điền, có nơi lại trồng diện tích hẹp dưới 10 ha với quy mô nhỏ gọi là
cao su nông hộ hay gọi là tiểu điền. Trên phạm vi toàn thế giới thì cao su tiểu
điền chiếm 80-90% tổng diện tích cao su; tuy nhiên đa số tiểu điền chỉ sở
hữu khoảng 2 ha hoặc ít hơn và nói chung nguồn thu nhập của họ là tương
đối thấp.
13
Từ năm 1998 đến năm 2006, sản lượng cao su tiểu điền thế giới đã tăng
từ 5.270.000 tấn (chiếm 77,3% tổng sản lượng thế giới) lên 7.314.000 tấn
(chiếm 80,2%) tương ứng với mức tăng trưởng bình quân trong giai đoạn
này là 4,3%/năm. Tổng diện tích cao su thế giới tính đến năm 2004 là
khoảng 9,4 triệu ha, trong đó cao su tiểu điền chiếm khoảng 80% . Điều này
cho thấy rằng cao su tiểu điền đóng một vai trò rất đặc biệt trong ngành cao
su.
Thái Lan: Cao su tiểu điền của Thái Lan chiếm 90% tổng diện tích với

chức hỗ trợ phát triển như: NES/PIR Kế hoạch đại điền hạt nhân (1977)
nhằm hỗ trợ phát triển diện tích canh tác mới của cây cao su.[1]
Qua đó ta thấy, để cao su tiểu điền đạt được mức độ thành công cao,
ngoài việc tận dụng các điều kiện thiên nhiên thuận lợi, chính phủ các nước
này đã triển khai các chính sách hỗ trợ nông hộ có hiệu quả. Quan trọng nhất
là phần tài trợ vốn trồng xong các diện tích cao su mới giao cho dân đồng
thời cấp vốn dưới hình thức cho vay và nông hộ sẽ trả nợ sản phẩm cao su
thu hoạch được, nguồn vốn này chuyển qua các ngân hàng địa phương hoặc
các tổ chức tín dụng dược nhà nước giao nhiệm vụ.
2.3.2 Trong nước
Cao su tư nhân tồn tại dưới hai hình thức là cao su tiểu điền và trung-đại
điền. Cao su tiểu điền (còn gọi là trang trại gia đình) có qui mô sản xuất nhỏ
1-10 ha/điền chủ. Chủ hộ là người trực tiếp quản lý sản xuất kinh doanh, sản
phẩm chủ yếu là mủ nguyên liệu chưa qua chế biến. Cao su trung và đại điền
có qui mô sản xuất trên mức tiểu điền, quản lý theo hình thức 2 cấp trở lên,
sản phẩm có thể sơ chế ở mức độ thấp (mủ tời xông khói RSS) để tiêu thụ
trong nước.
Ở nước ta trước 1975, cao su tư nhân chiếm tỷ lệ thấp khoảng 4% tổng
diện tích (4000 ha/102.000 ha). Từ khi có các chính sách đổi mới của Đảng
và Nhà nước về chủ trương giao đất, giao rừng, cấp quyền sử dụng đất, lập
các dự án cấp vốn cây trồng gây rừng, cây công nghiệp phủ xanh đất trống
đồi núi trọc như dự án 327, Dự án đa dạng hoá nông nghiệp người dân đã
mạnh dạn vay vốn hay tự huy động vốn để trồng cao su.[5]
15
Tính đến 1996, tổng diện tích cao su tiểu điền là 48.000 ha, được phân
bổ như sau:
- Vùng Đông Nam Bộ: 40.232 ha chiếm 14% tổng diện tích và 82,5%
diện tích tiểu điền.
- Vùng Tây nguyên: 4.578 ha chiếm 1,6% tổng diện tích, 9,4% diện
tích tiểu điền

diện tích dưới 4 ha/hộ là phổ biến với 72,5% tổng diện tích cao su tiểu điền.
Số hộ có qui mô diện tích trên 4 ha chiếm 10% và chiếm 27,5 % trong tổng
diện tích. Đây là khu vực hiện đang có nhiều lợi thế trong quản lý, chăm sóc,
khai thác và hiệu quả sản xuất.[6]
Hiện nay, cao su tiểu điền đang được Nhà nước quan tâm phát triển.
Chính sách giao đất giao rừng, và các chính sách tín dụng, khuyến nông đã
bước đầu tạo điều kiện cho cao su tiểu điền phát triển. Tuy nhiên, cao su tiểu
điền cũng còn gặp rất nhiều khó khăn trong sản xuất nhất là vốn đầu tư, giá
các yếu tố đầu vào và tiêu thụ sản phẩm. Nguồn vốn chủ yếu trong các tổ
chức này là nguồn vốn vay từ ngân hàng phát triển nông nghiệp. Lượng vốn
được vay tuỳ thuộc vào qui mô diện tích. Hiện nay, sản phẩm của các tổ
chức này chủ yếu là mủ thô cung cấp cho các DNNN hoặc tư nhân làm công
tác chế biến, giá cả không ổn định. [5]
17
PHẦN 3
ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là các hộ gia đình có trồng cao, không trồng su
tại xã Hương Phú.
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Ở xã Hương Phú hiện tại có 8 thôn trong đó đề tài tập trung nghiên cứu
ở 4 thôn là Đa Phú, Thanh An, Phú Hoà và Ka tư.
Thời gian thực hiện từ tháng 02/01 đến tháng 05 năm 2008.
3.3 Nội dung nghiên cứu
3.3.1 Những thông tin chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội
của xã Hương Phú
- Điều kiện tự nhiên
- Kinh tế và xã hội
- Đất đai và tình hình sử dụng đất ở xã Hương Phú
3.3.2 Thực trạng trồng cao su ở xã Hương Phú

- Thu thập thông tin qua sách, báo và mạng internet,
3.4.2 Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp
- Thu thập thông tin sơ cấp bằng cách phỏng vấn bảng câu hỏi các hộ
gia đình trồng nấm và không trồng nấm (PRA), phỏng vấn những người am
hiểu biết ở địa bàn 4 thôn kể trên.
Trong tiến trình phỏng vấn bằng cách lấy mẫu ngẫu nhiên, có phân loại
theo tiêu chí hộ nghèo, trung bình và hộ khá giàu. Chọn 60 hộ tại 4 thôn để
phỏng vấn và tập trung vào những hộ điển hình.
19
3.4.3 Phương pháp quan sát, đánh gia
Ngoài việc phỏng vấn và lấy thông tin từ các cơ quan chức năng, các hộ
nông dân tôi còn tiến hành quan sát trên thực tế các vùng trồng cao su để xác
minh, kiểm chứng lại các thông tin mà mình đã thu thập được.
3.4.4 Phương pháp xử lý số liệu
Tiến hành mã hoá và thống kê các số liệu thu thập được trên các phần
mềm, sau đó tiến hành đánh giá và phân tích định tính, định lượng.
Đối với các thông tin định tính thì phân tích, đánh giá. Đối với các
thông tin định lượng thì tiến hành nhập trên bảng tính excel và dùng một số
hàm như: SUM, AVERAGE, SUMPRODUCT, để tính toán.
20
PHẦN 4
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1. Đặc điểm vùng nghiên nghiên cứu
4.1.1. Đặc điểm tự nhiên
4.1.1.1. Vị trí địa lý
[Bản đồ hành chính huyện Nam Đông- Vị trí địa lý xã Hương Phú]
Hương Phú là một xã miền núi nằm ở phía Bắc của huyện Nam Đông, cách
đường Quốc Lộ 1A 21 km và cách thành phố Huế trên 50 km.
Có thể tóm lược vị trí của xã như sau:
- Phía Đông giáp huyện Phú Lộc

C, lượng mưa bình
quân cả năm là 4.600 mm với độ ẩm bình quân cả năm là 86,26%. Về mùa
hè trên địa bàn xã thường hay nắng nóng từ tháng 3 đến tháng 7 và mưa
nhiều vào tháng 8 đến tháng 2 năm sau, có năm với lượng mưa đo được cao
nhất khu vực.[15]
22
Sông suối ở đây nhiều nhưng ngắn, độ dốc cao, đất đai màu mỡ dễ bị
rữa trôi, lượng phù sa không đáng kể. Nạn lũ lụt hàng năm thường xuyên xảy
ra gây thiệt hại cho hoa màu và cơ sở hạ tầng. Chính vì điều kiện thời tiết ở
đây khắc nghiệt như thế nên việc sản xuất kinh doanh hằng năm của người
dân gặp rất nhiều khó khăn, đặc biệt là vào mùa mưa lũ.
Bảng 4 : Tổng hợp trung bình khí hậu thời tiết xã Hương Phú giai đoạn
2003-2007
Tháng
Nhiệt độ tb
(
0
C)
Lượng mưa
tb (mm)
Giờ nắng tb
(giờ)
Độ ẩm tb
(%)
Gió Tây
Nam (ngày)
1 19,2 100,2 120 90 -
2 20,1 47,6 122 89 -
3 23,3 14,4 177 86 -
4 27,3 98,8 176 83 7,5

toàn xã. Cùng với chính sách giao đất khoán rừng của nhà nước, hiện nay
phần lớn diện tích rừng sản xuất và diện tích đất lâm nghiệp đã được cấp sổ
đỏ và giao khoán đến tận tay người dân. Ngoài ra trên địa bàn xã cũng có
một phần diện tích đất rừng đặc dụng của vườn Quốc gia Bạch Mã đang
được chính quyền địa phương quản lý bảo vệ.
24
Bảng 5: Cơ cấu sử dung đất đai của xã Hương Phú năm 2008
Thứ tự Mục đích sử dụng đất Diện tích (ha) Tỷ lệ (%)
Tổng diện tích đất tự nhiên 7962.18 100.00
1 Đất nông nghiệp 6907.17 86.74
1.1 Đất sản xuất nông nghiệp 1170.70 14.70
1.1.1 Đất trồng cây hằng năm 289.58 3.63
1.1.1 Đất trồng lúa 53.21 0.66
1.1.1 Đất trồng cỏ chăn nuôi 11.00 0.13
1.1.1 Đất trồng cây hằng năm khác 225.37 2.83
1.1.2 Đất trồng cây lâu năm 881.12 11.06
1.2 Đất lâm nghiệp 5729.45 71.95
1.2.1 Đất rừng đặc dụng 3607.40 45.30
1.3 Đất nuôi trồng thuỷ sản 7.02 0.08
2 Đất phi nông nghiệp 329.14 4.13
2.1 Đất ở 126.09 1.58
2.2 Đất chuyên dùng 72.15 0.90
2.2.1 Đất quốc phòng 10.00 0.12
2.2.2 Đất sản xuất, kinh doanh 5.62 0.07
2.2.3 Đất có mục đích công cộng 56.15 0.70
2.3 Đất nghĩa trang, nghĩa địa 5.00 0.06
2.4 Đất sông suối, mặt nước 124.50 1.56
3 Đất chưa sử dụng 725.87 9.11
3.1 Đất bằng chưa sử dụng 68.68 0.86
3.2 Đất đồi núi chưa sử dụng 657.19 8.25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status