PHẦN 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là một nước có tiềm năng lớn về đất và rừng để phát triển sản
xuất lâm nghiệp (với 12,61 triệu ha diện tích đất có rừng và 6,16 triệu ha đất trống
đồi núi trọc, chiếm gần 57% diện tích đất tự nhiên của cả nước) [1]. Như vậy,
ngành Lâm nghiệp đã và đang sử dụng diện tích đất lớn nhất trong các ngành kinh
tế quốc dân. Tuy nhiên, diện tích đất lâm nghiệp phân bố chủ yếu ở các vùng đồi
núi, là nơi sinh sống của 25 triệu người với nhiều thành phần dân tộc thiểu số, có
trình độ dân trí thấp, phương thức canh tác lạc hậu, kinh tế chậm phát triển và đời
sống còn nhiều khó khăn [1]. Vì vậy, làm thế nào để cải thiện đời sống cho người
dân sống ven rừng là điều mà các nhà hoạch định chính sách cần phải quan tâm.
Phát triển một lĩnh vực gì mà không đem lại lợi ích cho người dân đặc biệt là vấn
đề kinh tế sẽ gặp nhiều khó khăn trong quá trình thực hiện. Nhận thấy được điều
này Đảng và Nhà nước đã thực hiện chủ trương xã hội hoá công tác bảo vệ và
phát triển rừng nhằm phát huy sức mạnh của toàn xã hội. Trong những năm qua,
Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách quan trọng về bảo vệ và phát triển tài
nguyên rừng, kết hợp giữa bảo vệ rừng với phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói
giảm nghèo như: chính sách giao đất, giao rừng, cho thuê rừng… [3]. Có thể nói
rằng quan điểm và nhận thức về ngành lâm nghiệp của các cấp, các ngành đã có
nhiều chuyển biến mang tính cơ bản. Sự thay đổi về nhận thức đó đã góp phần
mở rộng đối tượng được giao đất, giao rừng, giúp họ sử dụng ổn định, lâu dài. Từ
chỗ chỉ có các lâm trường quốc doanh, các hợp tác xã mới được giao đất, giao
rừng thì sau này các tổ chức, cá nhân và tiếp theo là hộ gia đình, cộng đồng dân
cư thôn, bản cũng là đối tượng được giao đất, giao rừng. [2].
Nam Đông là một huyện miền núi của tỉnh Thừa Thiên Huế được tách ra
từ huyện Phú Lộc vào tháng 10 năm 1990, tổng diện tích đất tự nhiên là
65.051,8 ha, trong đó khoảng 75% diện tích rừng và đất rừng. Sau khi tách
huyện để tạo điều kiện cho người dân phát triển lâm nghiệp như trồng rừng qua
1
các dự án Pam 4304, định canh định cư, 327… huyện cũng tiến hành giao đất
2.1.1. Tổng quan về sản xuất lâm nghiệp
2.1.1.1. Khái niệm và đặc điểm của sản xuất lâm nghiệp.
Lâm nghiệp là một ngành sản xuất vật chất trong nền kinh tế quốc dân có
nhiệm vụ trồng cây gây rừng, nuôi dưỡng, chăm sóc, quản lý, bảo vệ rừng, khai
thác, vận chuyển và chế biến lâm sản.
Sản xuất lâm nghiệp có những đặc điểm sau:
- Chu kỳ sản xuất lâm nghiệp tương đối dài, đối tượng sản xuất là những
cơ thể sống.
Nói đến lâm nghiệp là nói đến rừng, rừng là một quần thể sinh vật rất
phong phú và phức tạp, đó là những cơ thể sống có quy luật sinh trưởng và phát
triển riêng phụ thuộc vào đặc tính sinh học của chúng. Có những cây phát dục
nhanh nên năng suất sinh khối lớn, nhưng có cây phát dục và sinh trưởng chậm
nên năng suất sinh khối kém hơn. Tuy nhiên, dù cây rừng có khác nhau nhưng
nhìn chung chu kỳ sinh trưởng và phát triển của chúng tương đối dài từ hàng
chục đến hàng trăm năm.
Với đặc điểm trên, sản xuất lâm nghiệp có mức đầu tư lớn, thời gian thu
hồi vốn chậm, việc bố trí các loại cây trồng phải phù hợp giữa các điều kiện
tự nhiên, kinh tế, xã hội của từng vùng với các đặc tính sinh học của từng loại
cây rừng. Tuy nhiên, do chu kỳ sản xuất của lâm nghiệp dài cho nên mức độ dao
động về thời gian lớn hơn sản xuất nông nghiệp. Vì vậy, người ta có thể lựa
chọn thời điểm thích hợp để thu hoạch sản phẩm nhằm thu lợi nhuận cao.
- Trong sản xuất lâm nghiệp, quá trình tái sản xuất kinh tế và tái sản
xuất tự nhiên xen kẽ với nhau, trong đó quá trình tái sản xuất tự nhiên là chủ
yếu và có tác dụng quyết định.
Rừng có khả năng tái sinh và tăng trưởng. Đó là khả năng cây rừng
tự thay thế đời cây này bằng đời cây khác, rừng cây này bằng rừng cây khác. Đó
cũng chính là khả năng cây rừng tự lớn lên theo thời gian kể cả khi không cần
tác động biện pháp kỹ thuật của con người. Đây chính là quá trình tái sản xuất tự
3
nhiên tạo tiền đề quyết định cho tái sản xuất mở rộng kinh tế trong lâm nghiệp.
Sản xuất lâm nghiệp mang tính chất công nghiệp thể hiện ở quá trình khai
thác, vận chuyển và chế biến lâm sản, đối tượng sản xuất của quá trình này
không phải là cây rừng còn sống mà là cây gỗ đã chặt hạ.
- Sản xuất lâm nghiệp có mối quan hệ chặt chẽ giữa tái sinh rừng và khai thác
rừng.
Tái sinh rừng là điều kiện để khai thác rừng, khai thác rừng là một trong
các mục đích của tái sinh rừng. Tuy nhiên, tái sinh rừng và khai thác rừng
có sự ràng buộc lẫn nhau hết sức chặt chẽ, chịu sự tác động của những yếu tố
mâu thuẫn lẫn nhau như: Khai thác rừng lớn do nhu cầu của các sản phẩm từ
rừng của dân cư và nền kinh tế ngày càng tăng, trong khi sự tăng trưởng tự
nhiên của rừng phụ thuộc vào quy mô rừng, điều kiện thời tiết, khí hậu và chủng
loại cây rừng. Mức tăng trưởng của rừng thường thấp hơn nhu cầu khai thác
rừng, do chu kỳ tái sản xuất tài nguyên rừng rất chậm và diễn ra trong thời gian
dài.
Phương thức tái sinh rừng và nói chung là kỹ thuật trồng rừng phụ thuộc
vào phương thức khai thác. Nếu như áp dụng phương pháp khai thác chọn thì
việc khai thác gỗ có liên quan đến việc trồng rừng một cách chặt chẽ đến nỗi
khó có thể xách định được ở đâu là nơi kết thúc trồng rừng và ở đâu là nơi bắt
đầu khai thác gỗ. Từ đây đặt ra vấn đề, cần kết hợp chặt chẽ giữa khai thác và tái
sinh rừng nhằm tạo điều kiện cho rừng luôn tồn tại và phát triển.
- Sản xuất lâm nghiệp có tác dụng nhiều mặt.
Quá trình sản xuất lâm nghiệp tạo ra rừng. Rừng đến tuổi thành thục công
nghệ có tác dụng cung cấp lâm sản cho nền kinh tế quốc dân và đời sống xã hội.
Rừng đang ở giai đoại sinh trưởng và phát triển như: Rừng non, rừng khép tán
có tác dụng phòng hộ, bảo vệ môi trường sống, duy trì cân bằng sinh thái, chống
gió bão, duy trì và điều tiết nguồn nước chống xói mòn đất, giữ gìn và cải thiện
lâm phần. Ngoài ra, có những khu rừng được sử dụng những mục đích phi tài
5
chính như: Nghiên cứu khoa học, cảnh quan du lịch sinh thái, bảo vệ đa dạng
sinh học…
- Vai trò phát triển kinh tế - xã hội.
Lâm nghiệp là ngành sản xuất vật chất tham gia vào tái sản xuất tổng sản
phẩm xã hội. Hàng năm, một phần trong tổng số sản phẩm do lâm nghiệp sản
xuất ra dưới dạng hàng hóa đáp ứng cho nhu cầu tiêu dùng của nền kinh tế quốc
dân và đời sống xã hội như gỗ và lâm sản trong khai thác chính, gỗ chặt trong
giai đoạn tỉa thưa, nuôi dưỡng rừng, chặt vệ sinh… hạt giống, cây con và các
sản phẩm ngoài gỗ như cây thuốc, hương liệu…
Trong các sản phẩm đó phải kể đến gỗ. Sản phẩm gỗ cung cấp cho ngành
công nghiệp, nông nghiệp, công nghiệp xây dựng cơ bản, giao thông vận tải và
trong mỗi gia đình. Ngày nay, hầu như không có một ngành nào không dùng tới gỗ,
vì nó là nguyên liệu phổ biến, dễ gia công, chế biến và nhiều tính năng ưu việt khác
nên được nhiều người sử dụng. Trong quá trình phát triển của xã hội, dưới tác động
của tiến bộ khoa học và công nghệ, người ta đã sản xuất ra nhiều sản phẩm thay thế
gỗ. Tuy nhiên, nhu cầu về gỗ và các sản phẩm từ gỗ không ngừng tăng lên cả về số
lượng lẫn chất lượng.
Ngoài sản phẩm gỗ, lâm nghiệp còn cung cấp các sản phẩm ngoài gỗ như
tre nứa, song mây, các loại đặc sản rừng, động vật rừng có giá trị cho tiêu dùng
trong nước và xuất khẩu. Các động vật từ rừng là các thực phẩm quý hiếm và có
giá trị kinh tế cao. Đối với thực vật rừng, có rất nhiều loại được dùng làm thực
phẩm như nấm, mộc nhĩ, măng, các loại rau rừng… Lâm nghiệp còn là nguồn
cung cấp các dược liệu quý hiếm phục vụ cho nhu cầu chữa bệnh và nâng cao
sức khỏe cho con người. Như vậy, lâm nghiệp phát triển có ảnh hưởng đến sự
phát triển của nhiều ngành vì lâm nghiệp cung cấp nguyên liệu cho các ngành
kinh tế đó.
7
Mặt khác, rừng cung cấp gỗ và các lâm đặc sản khác cho tiêu dùng trong
nước và xuất khẩu cho nên đã tạo ra nguồn thu nhập về tài chính cho ngân sách
Trung ương và địa phương, góp phần vào quá trình tích lũy cho nền kinh tế quốc
dân. Rừng cũng là nguồn thu nhập chính của cư dân sống gần rừng. Lâm nghiệp
thực hiện chính sách giao đất, giao rừng đến hộ gia đình và cộng đồng địa
2
của khí quyển trong quá trình đồng hóa của cây xanh đối với môi
trường. Rừng tạo ra sự trong sạch bầu khí quyển, giữ cân bằng lượng O
2
và CO
2
trong khí quyển, duy trì sự sống trên hành tinh của chúng ta. Rừng là tấm màn
xanh coi giữ và làm sạch các nguồn nước, tục ngữ Ấn Độ có câu "rừng là nguồn
nước, nước là sự sống". Vì vậy, số phận của rừng là số phận của hành tinh chúng ta
"nếu rừng nhiệt đới không còn sẽ có khoảng 1 tỷ người không có nguồn sống" (Nigel
Sitwel). Theo tính toán khoa học, mỗi quốc gia cần có ít nhất 1/3 diện tích rừng che
phủ phải phân bố đều trên diện tích cả nước và phân bố trọng điểm là vùng đầu nguồn.
Xã hội càng phát triển, vai trò của rừng càng trở nên cực kỳ quan trọng. Hiệu
quả cân bằng sinh thái của rừng không chỉ tính bằng những giá trị kinh tế thông
thường. Có thể nói chắc chắn thảm thực bì rừng không còn thì sự sống trên hành
tinh chúng ta cũng sẽ bị mất theo.
Ngoài hai tác dụng cung cấp và tác dụng phòng hộ, duy trì cân bằng sinh
thái, bảo vệ môi trường sống, rừng còn có tác dụng quốc phòng, hình ảnh rừng
là căn cứ địa cách mạng "rừng che bộ đội rừng vây quân thù" rất gần gũi với
truyền thống lịch sử chống giặc ngoại xâm của nhân dân ta. Rừng còn có giá trị
xã hội, cảnh quan du lịch, làm tăng vẻ đẹp cho non sông đất nước. Rừng là nơi
tham quan, du lịch, nghỉ mát, rừng và cảnh quan rừng có thể làm tăng sức khỏe
cho con người, làm mạnh thêm quan niệm về đạo đức…
2.1.2. Tổng quan về kinh tế hộ
2.1.2.1. Khái niệm kinh tế hộ
Tuỳ thuộc vào góc độ nghiên cứu và sự nhìn nhận của từng người nghiên
cứu mà người ta có nhiều định nghĩa khác nhau về hộ. Theo từ điển chuyên
ngành kinh tế người ta định nghĩa hộ như sau: “Hộ là tất cả những người sống
chung trong một mái nhà và nhóm người đó có cùng chung huyết tộc, có mối
quan hệ với nhau và cùng làm chung, ăn chung”.
10
thuê của người lao động được trả công và tước đoạt quyền sở hữu phương tiện
sản xuất của người lao động. Người lao động của gia đình là cơ sở của các trang
trại, là yếu tố phân biệt với các xí nghiệp tư bản.
* Tiền vốn và sự tiêu dùng: Một khó khăn nảy sinh khi phân biệt lợi nhuận
từ doanh thu với tiền công lao động của gia đình, đã nêu lên bản chất hai mặt
của sản xuất và tiêu dùng trong hộ gia đình nông dân. Bởi vì người ta quan niệm
rằng: “Người nông dân làm công việc trong gia đình chứ không phải làm công
việc kinh doanh thuần tuý” (Woly, 1996), nó khác với đặc điểm chủ yếu của nền
sản xuất tư bản chủ nghĩa là làm chủ vốn đầu tư và tích lũy.
Tóm lại, ta có thể xem kinh tế nông hộ là một cơ sở kinh tế có đất đai, tư
liệu sản xuất thuộc sở hữu riêng, sử dụng chủ yếu lao động của gia đình để sản
xuất, nằm trong một hệ thống kinh tế rộng hơn với sự tham gia một phần vào thị
trường, chủ yếu có những đặc trưng cơ bản sau:
- Hộ nông dân là một đơn vị kinh tế cơ sở, vừa là một đơn vị sản xuất, vừa
là một đơn vị tiêu dùng.
- Quan hệ giữa tiêu dùng và sản xuất biểu hiện ở trình độ phát triển của hộ
từ tự cung cấp hoàn toàn đến sản xuất hàng hóa. Trình độ này quyết định quan
hệ giữa các nông hộ và thị trường
- Các hộ nông dân ngoài hoạt động nông nghiệp còn tham gia vào các hoạt
động phi nông nghiệp với các mức độ khác nhau.
- Các nguồn lực như đất đai, tư liệu sản xuất, vốn được góp thành vốn
chung cùng chung một ngân sách.
2.1.2.2. Một số đặc điểm của kinh tế nông hộ:
Kinh tế nông hộ là hình thức kinh tế xuất hiện sớm nhất trong lịch sử và tồn
tại khá phổ biến trong nông nghiệp của các nước trên thế giới. Nước ta là một
nước nông nghiệp, gần 80% dân số sống ở nông thôn, kinh tế nông hộ là hình
thức cơ bản trong nông thôn Việt Nam.
Xuất phát từ đặc trưng của nông nghiệp nhiệt đới với trình độ thấp, kinh tế
nông hộ nước ta có đặc điểm sau:
12
nông nghiệp nông thôn. Gia đình là chủ tư liệu sản xuất chủ động được kế hoạch
sản xuất, có sự phân công lao động chặt chẽ và làm chủ được việc phân phối các
sản phẩm làm ra. Có điều kiện giáo dục các thành viên trong hoàn cảnh thực tiễn
lao động. Trong một số ngành nghề thủ công tinh xảo có tính chất truyền thống
thì gia đình là một trường học và đó là điều kiện do sự tiếp nối nghề nghiệp.
Như vậy, kinh tế hộ luôn luôn có mối quan hệ chặt chẽ với mỗi gia đình.
Hai là sản xuất nông nghiệp có những đặc thù riêng so với các ngành sản
xuất khác cụ thể là:
- Đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt không thể thay thế. Mặt khác, đất đai có
nhiều hạng, nhiều lại phân bố trên một không gian rộng lớn, có vị trí cố định, diện
tích đất sử dụng vào sản xuất nông nghịêp có giới hạn nhất định và ngày càng bị
thu hẹp.
- Đối tượng của sản xuất nông nghiệp là cây trồng vật nuôi có đặc điểm
sinh lý và sinh trưởng khác nhau, chúng phản ứng rất nhạy cảm đối với sự thay
đổi của môi trường xung quanh. Những quy luật khách quan trên đòi hỏi người
lao động phải gắn mình với đối tượng sinh học.
- Trong sản xuất nông nghiệp, quá trình tái sản xuất kinh tế và tái sản xuất
tự nhiên quan hệ đan xen chặt chẽ với nhau. Trong đó, quá trình tái sản xuất tự
nhiên của cây trồng vật nuôi là một quá trình liên tục, hoàn chỉnh, không thể
chia cắt về mặt về mặt không gian và thời gian, đòi hỏi phải có bàn tay chăm sóc
của con người từ đầu đến cuối.
Tóm lại, những đặc thù riêng của sản xuất nông nghiệp nó đòi hỏi sự thống
nhất giữa quá trình quản lý và quá trình lao động sản xuất, phân phối và tiêu
dùng, sự thống nhất giữa chủ thể kinh tế và hoạt động kinh tế, đặc tính này quy
định sự tồn tại khách quan của kinh tế hộ.
2.2. Cơ sở thực tiễn
2.2.1. Tình hình phát triển lâm nghiệp
2.2.1.1. Tình hình phát triển lâm nghiệp ở Việt Nam
13
định Đối tác tự nguyện (VPA). Để làm được điều này rất cần sự chung tay, giúp
đỡ của các tổ chức quốc tế, phi chính phủ.
2.2.1.2. Tình hình phát triển lâm nghiệp Thừa Thiên Huế:
Hiện tại theo báo cáo kết quả rà soát quy hoạch lại 3 loại rừng của tỉnh
Thừa Thiên Huế, tổng diện quy hoạch cho rừng đặc dụng 74.430,7 ha. Sau khi
xem xét hiện có một số diện tích đất trống chưa sử dụng nằm trong các khu bảo
tồn là: 13.055,5 ha (Khu bảo tồn loài ALưới, Nam Đông: 1.809,6 ha; Khu Bảo
tồn thiên nhiên Phong Điền: 11.245,9 ha) đưa vào quy hoạch cho rừng đặc dụng
để tạo điều kiện thuận lợi cho việc quản lý và bảo tồn đa dạng sinh học.
Như vậy diện tích quy hoạch cho rừng đặc dụng tăng lên là: 13.886,0 ha,
đưa tổng diện tích quy hoạch cho rừng đặc dụng: 88.316,7 ha, (trong đó đất có
rừng: 70.454,6 ha, đất trống chưa sử dụng: 17.862,1 ha). Rừng phòng hộ giảm:
920,8 ha, nguyên nhân: giảm 250,9 ha do chuyển 4 khoảnh của hai tiểu khu 378,
379 của Ban quản lý rừng phòng hộ Nam Đông sang quy hoạch sản xuất. Giảm
305,1 ha ở tiểu khu 153, 154 huyện Hương Thuỷ; giảm 364,8 ha Thành phố Huế
để chuyển lại quy hoạch rừng đặc dụng cảnh quan (Tây nam thành phố Huế).
Rừng phòng hộ là 87.903,9 ha, qua hiệu chỉnh giảm 920,8 ha, như vậy tổng
diện tích quy hoạch cho rừng phòng hộ là: 86.983,1 ha. Diện tích quy hoạch
rừng sản xuất: 132.480,9 ha, qua hiệu chỉnh tổng diện tích rừng sản xuất là:
132.571,2 ha, (đất có rừng 122.164,1 ha, đất trống chưa sử dụng 10.407,1 ha).
2.2.2. Tình hình phát triển kinh tế hộ
Sự phát triển kinh tế hộ ở nước ta trải qua nhiều bước thăng trầm, gắn liền
với bối cảnh và thời điểm lịch sử nhất định của dân tộc.
- Giai đoạn 1945 - 1954:
Ngày 19/2/1945, Chính phủ thành lập Uỷ ban Trung ương phụ trách vấn đề
sản xuất các ban ngành khuyến nông cũng được tổ chức ở các địa phương. Để
thực hiện khẩu hiệu: "Không một tấc đất bỏ hoang", ngày 16/11/1945 Bộ quốc
dân kinh tế ra Thông tư quy định việc kê khai ruộng đất công và ruộng đất tư để
khuyến khích nông dân gia tăng sản xuất. Chính phủ quyết định giảm thuế điền
15
Đại hội Đại biểu toàn quốc lầm thứ V (3-1982) đã khẳng định đúng đắn kịp
thời của Chỉ thị 100 CT-TW, nhấn mạnh sự cần thiết hoàn thiện cơ chế khoán
sản phẩm và Chỉ thị 38 của Ban bí thư cho phép các hộ gia đình tạm dùng mọi
nguồn lực đất đai mà hợp tác xã và nông - lâm trường chưa sử dụng hết để dùng
vào sản xuất. Nhà nước chủ trương không đánh thuế kinh doanh đối với kinh tế
hộ gia đình.
- Giai đoạn sau năm 1986:
Chỉ thị 100 CT-TW ra đời và hoạt động được một thời gian lại bắt đầu có
những hạn chế. Về cơ bản mô hình hợp tác xã vẫn dựa trên chế độ công hữu về
tư liệu sản xuất. Sự phấn khởi của nông dân nói chung cũng như Nhà nước chỉ
được vài năm đầu. Sau đó bị chững lại do mức khoán tăng đầu tư của hợp tác xã
không tương xứng. Tất cả các xã viên tuy được nhiều điểm nhưng lại được nhận
ít thóc. Do vậy, ở nhiều địa phương xã viên bắt đầu trả lại ruộng khoán.
Trước thực trạng đó, ngày 5 tháng 4 năm 1988 TW Đảng đã ra Nghị quyết X
về đổi mới kinh tế nông nghiệp. Nội dung của nó là giao đất tập thể hóa cho xã
viên trực tiếp sử dụng và thừa nhận hộ gia đình là kinh tế tự chủ. Từ khi mới ra
đời Nghị quyết X và hàng loạt các chính sách sau Nghị quyết X đến năm 1992 đã
làm cho cơ chế tập trung quan liêu bao cấp giữa nông nghiệp và kinh tế nông thôn
bị xoá bỏ một phần quan trọng. Những thay đổi lớn về vị trí vai trò của kinh tế hộ
đã khơi dậy những tiềm năng to lớn ẩn dấu trong bản thân từng hộ gia đình và đạt
được những thành tựu đáng kể.
Thành tựu nỗi bật nhất là đã giải quyết vững chắc an toàn lương thực quốc
gia, biến Việt Nam từ một nước thiếu lương thực (1989) thành nước xuất khẩu
gạo thứ 2 thế giới tính chung trong 12 năm, nước ta đã xuất khẩu 30,5 triệu tấn
gạo với tổng giá trị gần 7 tỷ. Trong 15 năm qua, giá trị sản xuất nông nghiệp nói
chung tăng trưởng liên tục với tốc độ 4,3%/năm. Năm 2000 sản lượng cafe xuất
khẩu đạt 660.000 tấn, sản lượng thuỷ sản tăng 5%/năm giá trị xuất khẩu 1.609
triệu USD nhờ đó mà thu nhập của người nông dân được cải thiện. Thu nhập của
dân cư tăng bình quân 10% trong 15 năm đổi mới, số hộ giàu tăng lên. Đạt thành
17
hộ trong lĩnh vực thủy sản (chiếm khoảng 6%), lâm nghiệp (chiếm khoảng
0,3%) vẫn bị đánh giá là còn quá thấp, chưa tương xứng với tiềm năng thực tế.
Trong bản thân kinh tế hộ trang trại cũng có sự phát triển về chất, xuất
hiện nhiều nhu cầu đầu tư vốn lớn, thuê đất canh tác và lao động thường xuyên
hoặc theo thời vụ, chuyển dịch mạnh mẽ cơ cấu cây, con theo hướng đáp ứng
ngày một tốt hơn nhu cầu thị trường. Chẳng hạn, trang trại chăn nuôi tăng rất
nhanh, bên cạnh số trang trại sản xuất cây hàng năm và cây lâu năm cũng có sự
phát triển về số lượng và chất lượng. Lượng hàng hóa nông sản của các trang
trại đang ngày càng có vị trí trên thương trường. Một số các trang trại lớn đã bắt
đầu phát triển thương hiệu, mở rộng các quan hệ làm ăn với các công ty lớn
trong chế biến, thu mua và xuất khẩu.
Khi nhắc tới những thành tựu chung của kinh tế đất nước như giữ được vị
thứ thứ hai thế giới về xuất khẩu gạo (tính đến năm 2009), đứng đầu về xuất
khẩu cà phê rô-bu-sta và hạt tiêu, một trong 10 nước hàng đầu về thủy sản , thì
phải nói, kinh tế hộ nông nghiệp trong nông thôn đã đóng vai trò chính trong
việc tạo ra lượng hàng hóa lớn để phục vụ xuất khẩu. Trong lĩnh vực nông
nghiệp nói riêng, đã có 5 mặt hàng đã đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỉ USD.
Đó là thủy sản (3,8 tỉ USD), gỗ (2,4 tỉ USD), cà phê (1,86 tỉ USD), gạo (1,46 tỉ
USD), cao su (1,4 tỉ USD).
2.3. Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu của đề tài
- Tổng giá trị sản xuất (GO): Là tổng giá trị sản phẩm mà hộ tạo ra trong
một một thời kỳ nhất định thường là một năm.
GO = Qi x Pi.
Trong đó: - GO là giá trị sản xuất.
- Qi là sản lượng lâm sản khai thác.
- Pi là là giá lâm sản.
- Chi phí trung gian (IC): Là bao gồm những khoản chi phí vật chất và
dịch vụ bằng tiền mặt mà hộ bỏ ra trong từng hoạt động sản xuất. Chi phí trung
gian không bao gồm công lao động, khấu hao tài sản cố định và chi phí tự có.
19
B
t
– C
t
(1 + r)
t
NPV =
∑
n
t = 0
B
t
(1 + r)
n-t
-
NFV =
∑
C
t
(1 + r)
n-t
∑
n
t = 0
PHẦN 3
PHẠM VI, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
3.1. Phạm vi nghiên cứu:
- Về không gian: Nghiên cứu được tiến hành tại xã Hương Phú;
+ Phỏng vấn hộ: bằng bảng hỏi bán cấu trúc. Thông thu thập: số nhân
khẩu, lao động, nhà ở, trình độ chủ hộ, tiếp cận dịch vụ vay vốn, số lượng các
loại LSNG người dân khai thác, vị trí, thời gian khai thác, chi phí trồng rừng,
sản lượng rừng thu hoạch năm 2010, chi phí và thu nhập từ các hoạt động tạo
thu nhập khác của hộ…
+ Phỏng vấn người am hiểu: Ông Hồ Sĩ Tiến - cán bộ lâm nghiệp xã
Hương Phú. Thông tin thu thập: Tình hình lâm nghiệp của xã, đồng thời xác
định được thôn nào trồng rừng nhiều nhất xã cũng như thu hoạch trong năm
2010 phục vụ cho mục đích phỏng vấn hộ;
+ Thảo luận nhóm: Nhằm kiểm chứng các thông tin và thu thập các thông
tin liên quan đến các chính sách, sự biến động các nguồn tài nguyên rừng qua
các mốc thời gian, thu nhập từ hoạt động trồng rừng của các hộ. Tổ chức 2 đợt
thảo luận nhóm cho các đối tượng khác nhau. Nhóm đối tượng cung cấp thông
tin là những người nắm rõ về hoạt động trồng và khai thác rừng. Trong quá trình
thảo luận nhóm, chúng tôi đã sử dụng các công cụ như phân tích cây vấn đề, cây
22
mục tiêu về nguyên nhân của sự suy giảm tài nguyên rừng (LSNG, gỗ và động
vật rừng).
3.4.4. Phương pháp xử lí số liệu: Số liệu được mã hóa, nhập và xử lý trên
phần mềm excel và SPSS 12.0
PHẦN 4
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1. Tổng quan về địa bàn nghiên cứu
Hương Phú có diện tích đất rừng tự nhiên và đất trồng rừng chiếm khoảng
80% tổng diện tích tự nhiên. Địa bàn rộng, chia cắt bởi nhiều khe suối. Toàn xã
chia làm 3 vùng và có 8 thôn. Đời sống kinh tế chung của địa phương qua từng
năm đều có bước phát triển; mặc dù vậy thu nhập của người dân từng vùng có
khác nhau, thu nhập của người dân trong vùng vẫn chưa được đồng đều, tập
quan canh tác vẫn còn mang tính tự cung tự cấp. Cơ sở hạ tầng phục vụ cho sản
xuất, giao thông, học tập và sinh hoạt của nhân dân được đầu tư xây dựng khá
”
vĩ Bắc, 107
0
34
’
27
”
kinh đông
- Điểm cực đông: 16
0
05
’
32
”
vĩ Bắc, 107
0
48
’
48
”
kinh đông
- Điểm cực nam: 16
0
10
’
26
”
vĩ Bắc, 107
0
44
vùng Phú Mậu. Hướng nghiên chung của địa hình là hướng Bắc - Nam. Phía
Nam được bao bọc bởi các dãy núi có nhiều đỉnh cao trên 1000m.
Với dạng địa hình được núi bao bọc ba phía, đình hình thấp dần về phía
trung tâm xã, tạo thành một khu vực bằng phẳng ở trung tâm xã có độ cao trung
bình 248 m so với mực nước biển. Địa hình xã Hương Phú được phân chia thành
hai bộ phận chinh:
Vùng gò đồi xen vùng thấp trũng trung tâm xã có dạng một lòng chảo kéo
dài theo hướng Đông Bắc - Tây Nam.
Vùng núi thấp trung bình chiếm diện tích lớn, phân bố phía Nam và một
phần nhỏ ở phía Bắc.
4.1.1.3. Điều kiện khí hậu - thủy văn
- Khí hậu
Nằm trong khu vực Bắc Trung Bộ nên khí hậu xã Hương Phú nói riêng và
huyện Nam Đông nói chung thuộc vùng nhiệt đới gió mùa, có mùa đông không
lạnh. Hương Phú ít chịu ảnh hưởng của gió tây nam khô nóng vào mùa hè vì nó
đã bị các dãy núi phía tây của lãnh thổ chặn lại nên về phía mùa hè có khí hậu
khác hơn, mưa nhiều hơn so với khu vực đồng bằng.
+ Chế độ bức xạ nhiệt:
Nằm trong vành đai nhiệt đới bắc bán cầu, được thừa hưởng một chế độ
bức xạ dồi dào (tổng lượng bức xạ thực tế khoảng 122 – 131 kcal/cm
2
, cán cân
bức xạ từ 70 -80 kcal/cm
2
) nên Hương Phú có một nền nhiệt cao. Nhiệt độ trung
bình năm ở vùng gò đồi khoảng 24
0
C, nhưng vùng núi cao là khoảng 22
0
C, biên