MỤC LỤC
Trang
I - ĐẶT VẤN ĐỀ………………………………………………………………………2
II- PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU………………………………… ………………3
III – TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU…………………… …………… 3
IV- KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU……………………………………………………… 6
1.Tổng quan về xã Quảng Phú, huyện Quảng Điền……………………………………6
2.Các loại hình tổ chức cộng đồng ở xã Quảng Phú, huyện Quảng Điền…………… 7
3.Vai trò của Hội Nông dân và Hội Phụ nữ trong việc nâng cao năng lực cho người
nông dân ở xã Quảng Phú, Huyện Quảng Điền……………………………………… 7
3.1.Cơ cấu tổ
chức…………………………………………………………………………… 7
3.1.1.Cơ cẩu tổ chức Hội Nông dân xã Quảng
Phú……………………………………… 8
3.1.2.Cơ cấu tổ chức của Hội Phụ nữ xã Quảng Phú…………………………………… 8
3.2.Các hoạt động hỗ trợ nâng cao năng lực cho người nông dân…………………… 9
3.2.1.Các hoạt động hỗ trợ đào tạo nghề, chuyển giao kỷ thuật……………………… .9
3.2.2.Hoạt động hỗ trợ vay vốn để phát triển sản xuất, xây dựng các công trình nước
sạch vệ sinh môi trường nông thôn………………………………………………………….11
3.2.2.1.Hoạt động của Hội Nông dân……………………………………………………….11
3.2.2.2. Hoạt động của Hội Phụ nữ……………………………………………………… 12
3.3.Những khuyết điểm tồn tại:……………………………………………………….13
3.4. Các giải pháp……….…………………………………………………………….14
V- KẾT LUẬN……………………………………………………………………… 15
Tài liệu tham khảo…………………………………………………………………….17
1
I – ĐẶT VẤN ĐỀ.
Từ nhiều năm nay, kinh tế hộ gia đình vẫn là trụ cột, là nền tảng cho việc phát
triển ở nông thôn, tuy nhiên kinh tế hộ gia đình không thể tiếp tục phát triển ổn định,
góp phần nâng cao thu nhập, nếu sản xuất đơn lẻ như trước. Thực tế cho thấy, khi hộ
gia đình sản xuất đơn lẻ không được hỗ trợ từ bên ngoài thì khả năng tiếp cận thị
Hội Nông dân và Hội Phụ Nữ trong việc nâng cao năng lực cho người nông dân ở xã
Quảng Phú, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế”
* Mục tiêu: Tìm hiểu và đánh giá vai trò của tổ chức Hội Nông dân và Hội Phụ
nữ trong việc nâng cao năng lực cho nông dân ở xã Quảng Phú, huyện Quảng Điền,
tỉnh Thừa Thiên Huế; trên cơ sở đó đề ra các giải pháp nhằm cải thiện nâng cao hiệu
quả hoạt động của Hội trong việc hỗ trợ nâng cao năng lực cho nông dân tại địa
phương.
II – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.
1. Chọn điểm: Điểm nghiên cứu có các tổ chức cộng đồng Hội Nông dân và
Hội Phụ nữ Việt Nam và tổ chức đó có tham gia trong việc hỗ trợ nâng cao năng lực
cho nông dân.
2. Phương pháp thu thập thông tin:
- Thu thập số liệu thứ cấp: thu thập từ các báo cáo tổng kết năm của huyện, xã,
hội nông dân xã. Niên giám thống kê của huyện.
- Thu thập số liệu mới:
+ Thảo luận nhóm: tổ chức thảo luận nhóm gồm 6 người (cán bộ Hội Nông Dân
xã, các bộ Hội Phụ Nữ xã, Chi hội trưởng Chi hội Nông dân và Chi Hội Phụ Nữ thôn
và 02 hộ nông dân).
+ Phỏng vấn lãnh đạo địa phương và người am hiểu: vấn 4 người (Phó chủ tịch
xã phụ trách kinh tế, Chủ tịch Hội Nông dân, Chủ tịch Hội Phụ nữ, Trưởng thôn Phú
Lễ )
+ Phỏng vấn hộ: phỏng vấn 04 hộ gia đình có tham gia vào hội.
III – TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU.
* Nông thôn:
Nông thôn có thể coi là khu vực địa lý nơi đó có sinh kế cộng đồng gắn bó, có
quan hệ trực tiếp đến khai thác, sử dụng môi trường và tài nguyên thiên nhiên cho hoạt
động sản xuất nông nghiệp.Trong điều kiện hiện nay ở Việt Nam, nhìn nhận dưới góc
độ quản lý, có thể hiểu nông thôn là vùng sinh sống của tập hợn cư dân, trong đó có
nhiều nông dân. Tập hợp cư dân này tham gia vào các hoạt động kinh tế, văn hóa – xã
hội và môi trường trong một thể chế chính trị nhất định và chịu ảnh hưởng của các tổ
* Tổ chức cộng đồng:
Trong đời sống khái niệm cộng đồng được sử dụng một cách rộng rãi để chỉ
mối quan hệ và tương tác giữa các cá nhân trong những nhóm người khác nhau. Đó
chính là những đặc thù mang tích tập thể trong tất cả các lĩnh vực đời sống và hoạt
động xã hội có những điểm tương đối khác nhau về quy mô và hoạt động. Theo Tô
Duy Hợp và cộng sự (2000), cộng đồng là một thực hể xã hội có cơ cấu tổ chức (chặt
chẽ hoặc không chặt chẽ), là một nhóm người cùng chia sẻ và chịu sự ràng buộc bởi
các đặc điểm và lợi ích chung được thiết lập thông qua tương tác và trao đổi giữa các
thành viên. Các đặc điểm và lợi ích chung đó rất đa dạng. Đó là những đặc điểm về
kinh tế, xã hội, nhân văn, môi trường, huyết thống, tổ chức, vùng địa lý, hoặc các khía
cạnh về tâm lý mối quan tâm và quan điểm (Trương Văn Tuyển, 2007).
Gần đây, khi thực hiện các chương trình phát triển nông thôn, các tổ chức hỗ
trợ lại muốn quay về tiếp cận tổng hợp nhưng với sự tham gia của nông dân vào quá
trình ra quyết định. Phải tạo quyền lực cho các cộng đồng làm việc với chính phủ và
khu vực tư nhân. Phát triển nông thôn trên cơ sở cộng đồng là một tiếp cận giảm
nghèo bằng cách tạo hành động tập thể của cộng đồng và cho họ kiểm tra các sự can
thiệp, lấy các tổ chức cộng đồng làm động lực phát triển.
4
Một tổ chức dựa vào công đồng (Community based organization) là một tổ
chức được hình thành và hoạt động có vai trò rất lớn của cộng đồng và người dân, lấy
cộng đồng làm nền tảng và là đối tượng mục tiêu cho hoạt động. Tổ chức cộng đồng là
một tổ chức gồm các người cùng có một lợi ích chung, như các tổ chức người sản
xuất, các nhóm cùng nguồn lợi, các ban phát triển của làng. Sự phát triển dựa trên
khái niệm về vốn, nhấn mạnh các nguồn vốn khác nhau của cộng đồng: vốn tự nhiên,
vốn vật lý (cơ sở hạ tầng), vốn tài chính, vốn con người (giáo dục), vốn xã hội.Vốn xã
hội là các thể chế, quan hệ và tiêu chuẩn tạo nên chất lượng và số lượng của các tác
động lẫn nhau trong một xã hội. Vốn xã hội theo nghĩa hẹp bao gồm các hội quần
chúng, các mạng lưới xã hội đi đôi với các tiêu chuẩn có tác dụng đến năng suất của
cộng đồng. Vốn xã hội làm dễ dàng sự điều phối và hợp tác. Có ý kiến cho rằng phát
triển nông thôn phải dựa vào việc huy động vốn của cộng đồng, nhất là vốn xã hội.
thực tế, phát triển lên các hình thức tổ chức cao hơn. Việc xây dựng tổ chức nông dân
là một quá trình lâu dài và phức tạp, không thể từ chỗ chưa có gì bước ngay lên các
hình thức tổ chức cao như hợp tác xã. Các tổ chức nông dân kiểu mới là các tổ chức
không phải nhằm giải quyết các quan hệ bên trong nữa mà là tổ chức thêm các mối
quan hệ với bên ngoài như việc giúp cho sự tiếp xúc với thị trường và xã hội. Các tổ
chức nông dân là các cơ cấu trung gian giữa người sản xuất và các tác nhân khác trong
môi trường kinh tế, thể chế và chính trị. Các tổ chức nông dân thường có các chức
năng sau:
- Đại diện và bảo vệ các quyền lợi của người sản xuất như các nghiệp đoàn.
- Chức năng kinh tế và kỹ thuật, cung cấp các dịch vụ cho hội viên.
- Quản lý các nguồn lợi tự nhiên và tài sản, như sử dụng nước, đồng cỏ…
- Chức năng phát triển xã hội, phát triển địa phương.
IV- KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU.
1. Tổng quan về xã Quảng Phú, huyện Quảng Điền.
Xã Quảng Phú nằm về phía Đông Nam của huyện Phong Điền, với tổng diện tích
tự nhiên là 1.189,13ha; tổng dân số 12.470 khẩu và 2350 hộ, trong đó số hộ nghèo là
234 hộ, chiếm 9,9% so tổng số hộ toàn xã. Toàn xã chia làm 13 thôn.
Huyện Quảng Điền nói chung, xã Quảng Phú nói riêng: Khí hậu có hai mùa rõ rệt:
Mùa khô từ tháng 3 đến thàng 8, chịu ảnh hưởng gió Tây Nam nên không khí khô
nóng, oi bức. Mùa mưa từ tháng 9 năm trước đến tháng giêng năm sau. Tháng 9-10
thường kéo theo lũ lụt. Tháng 11 mưa dai dẳng. Nhiệt độ trung bình là 25
0
C, nhiệt độ
trung bình tháng nóng nhất là 29,4
0
C, nhiệt độ trung bình tháng nóng nhất là 19,7
0
C.
Nhiệt độ lúc cao nhất 39,9
0
chức cộng đồng như sau:
- Về các tổ chức chính trị xã hội thành lập theo các quy định pháp lý về hội và hiệp
hội gồm: Hội Nông dân, Hội liên hiệp Phụ nữ, Hội cựu chiến binh, Hội người cao tuổi,
Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Ủy ban mặt trận tổ quốc Việt Nam và Hội
Khuyến học.
- Về các tổ chức kinh tế - nghề nghiệp thành lập theo các quy định pháp luật về tổ
chức kinh tế hợp tác bao gồm: 04 hợp tác xã (02 hợp tác xã nông nghiệp là HTX nông
nghiệp Phú Hòa và Phú Thuận (hai hợp tác xã này hỗ trợ cho nông dân trong phát triển
sản xuất, nhất là lĩnh vực nông nghiệp); HTX dịch vụ và tiêu thụ điện quản lý và cung
ứng điện cho người dân sản xuất và sinh hoạt; HTX Mây tre đan Bao Lam thành lập
năm 2006, hỗ trợ cho xã viên phát triển ngành nghề mây trđà e đan, sản phẩm chủ yếu
là sản phẩm phục vụ du lịch, thị trường tiêu thụ chính là ở Đà Lạt và thành phố Huế);
01 chi hội nghề cá Vạn đò (ở thôn Vạn Hạ Lan, với 43 hội viên, hỗ trợ giúp các hội
viên phát triển nuôi trồng thủy sản dọc sông Bồn).
- Ngoài ra xã có thành lập một số ban giúp xã triển khai thực hiện một số lĩnh vực
như: Ban xóa đói giảm nghèo (theo dõi, chỉ đạo việc xóa đói giảm nghèo ở địa
phương), Ban Thú y xã (phụ trách việc phát triển chăn nuôi và phòng chống dịch bệnh
cho gia súc gia cầm trên địa bàn xã), Ban quản lý dự án Luxembua (phụ trách việc chỉ
đạo triển khai thực hiện dự án về xây dựng phát triển cơ sở hạ tầng và trường học, ban
7
quản lý này mới thành lập cuối năm 2008, đang trong giai đoạn xác định công trình
chuẩn bị xây dựng danh mục đầu tư).
3. Vai trò của Hội Nông dân và Hội Phụ nữ trong việc nâng cao năng lực cho
người nông dân ở xã Quảng Phú, Huyện Quảng Điền.
3.1.Cơ cấu tổ chức.
3.1.1. Cơ cẩu tổ chức Hội Nông dân xã Quảng Phú.
Sơ đồ cơ cấu tổ chức của Hội Nông dân xã Quảng Phú
Tổ chức Hội Nông dân xã bao gồm tổng số 15 chi hội cơ sở tương ứng 13 thôn, các
chi hội chịu sự điều hành quản lý trực tiếp của Hội Nông dân xã. Đứng đầu Hội nông
dân xã là Chủ tịch Hội (làm việc theo chế độ chuyên trách) giúp việc cho Chủ tịch có
thôn
Chi hội
thôn
Chi hội
thôn
Chi hội
thôn
Tổ chi
hội
Tổ chi
hội
Tổ chi
hội
Tổ chi
hội
Tổ chi
hội
Tổ chi
hội
Tổ chi
hội
Tổ chi
hội
Sơ đồ cơ cấu tổ chức của Hội Phụ Nữ xã Quảng Phú
Cơ cấu tổ chức của Hội Phụ nữ xã Quảng Phú: Hội phũ nữ cấp xã, trực tiếp quản lý
điều hành 15 chi hội cơ sở với 34 tổ chi hội. Mỗi chi hội thường có khoảng từ 2 đến 3
tổ chi hội, với 30-200 số lượng hội viên tham gia. Đứng đầu Hội Phụ Nữ xã là Chủ
tịch hội (làm việc theo chế độ chuyên trách) giúp việc cho Chủ tịch có 01 Phó chủ tịch
hội làm việc theo chế độ bán chuyên trách, 15 chi hội trưởng phụ trách 15 chi hội cấp
thôn và 34 tổ trưởng phụ trách các tổ chi hội. Ban chấp hành Hội phụ nữ xã có 19
xuất. Hằng năm, mở nhiều lớp tập huấn về kỷ thuật, về cách làm ăn mới cho bà con
nông dân là thành viên của hội tham gia, trung bình mỗi năm hội mở 2- 4 lớp, vận
động thu hút khoảng 100-140 lượt người tham gia, tập huấn về kỷ thuật trồng trọt,
chăn nuôi, đào tạo nghề truyền thống mây tre đan, tập huấn về chăm sóc sứ khỏe, về
sinh an toàn,…
Hoạt động tổ chức tập huấn kỷ thuật này có sự rất khác biệt giữa hai tổ chức Hội
này, ở Hội Phụ nữ hoạt động tập huấn tổ chức thưa thớt hơn (mỗi năm chỉ tổ chức
được khoảng từ 2-3 lớp, ít hơn 1-2 lớp so với Hội Nông dân), hầu hết các lớp tập huấn
đều do xã lập kế hoạch và tổ chức, cán bộ giảng dạy cũng chỉ là chị em trong hội cấp
xã, kiến thức về . Riêng đối với Hội Nông dân hoạt động này đa dạng hơn, ngoài việc
tổ chức tập huấn kỷ thuật nâng cao năng lực cho người nông dân theo chỉ đạo của hội
cấp trên, Hội Nông dân cùng phối hợp với các Hợp tác xã tổ chức tập huấn theo
Chương trình khuyến nông, chương trình phát triển của địa phương và đối tượng tham
gia đa dạng hơn so với các lớp tập huấn do Hội Phụ nữ tổ chức (có cả nam giời và nữ
giới cùng tham gia), cán bộ truyền đạt kiến thức thường là cán bộ của dự án hoặc là
của huyện, tỉnh có trình độ chuyên môn cao hơn. Thông qua các đợt tập huấn, thành
viên của các tổ chức Hội nắm bắt và nâng cao được trình độ kỷ thuật mới, nhiều hộ áp
dụng vào sản xuất của gia đình.
Cùng với các hoạt động tự tổ chức hoặc là phối hợp tập huấn, thông qua các buổi
sinh hoạt (thường là 01lần/3 tháng) ngoài việc phổ biến các hoạt động của hội, của hội,
chi hội thường lồng ghép tuyên truyền, thông tin nhiều kiến thức: kiến thức về kỷ thuật
mới, về vệ sinh nước sạch, về giới, về sức khỏe,… nhất là hoạt động nêu gương điển
hình những cá nhân gia đình sản xuất giỏi, những hộ có kế hoạch sản xuất hiệu quả,
khuyến cáo vận động hội viên nên học tập và làm theo. Đây có thể nói là một loại hình
nhân rộng mô hình khuyến nông, mô hình sản xuất tương đối hiệu quả, tiêu biểu như
khi đưa mô hình khuyến nông về 3 tầng sinh thái (nuôi cá, chăn nuôi gà và trồng rau)
năm 2004, mô hình này chỉ đưa về cho hộ ông Hồng – chủ nhiệm HTXNN Phú Hòa,
qua thời gian triển khai, mô hình này cho thu nhập cao, phù hợp với điều kiện cửa địa
phương, nhợ hội vận động, tuyên truyền nên nhiều hộ gia đình trong thôn đã tìm đến
hộ ông Hồng học hỏi kinh nghiệm, đến nay mô hình này đã phát triển ra được 24 hộ
trình về sinh tốt hơn,…
Có thể nói, thông qua sự hỗ trợ của các tổ chức Hội này, hiều hộ gia đình nhất là
nông dân được nâng cao về kỷ thuật mới,về năng lực sản xuất, khả năng tiếp cận với
các yếu tố đầu vào tiến bộ hơn trước, được nâng cao nhận thức về các yếu tố thuộc về
xã hội như nước sạch, vệ sinh, sức khỏe cho cộng đồng,…nhiều gia đình thoát nghèo,
nhiều hộ vươn lên làm giàu như hộ ông Nguyễn Văn Hai, Trần Quang Tròn, Hoàng
Thạnh ở thôn Phú Lễ.
Ngoài việc cải thiện năng lực sản xuất của người dân, hiệu quả từ quá trình tuyên
truyền vận động ý thức của người nông dân có nhiều chuyển biến, từ chỗ trước đây khi
tham gia tập huấn để tiếp thu những kỷ thuật mới, tâm lý người dân đi là nhằm mục
đích là để lấy tiền phụ cấp hơn là đi vì mục đích học hỏi kiến thức; Trong 3 năm trở lại
đây, khi các dự án rút đi, việc hỗ trợ cho người tham gia tập huấn không còn nữa, chỉ
có hỗ trợ cho việc trả thù lao cho thầy giảng dạy và nước uống nhưng không phải vì
thế mà lớp tập huấn ít người đi dự, số lượng người tham gia vẫn đông, và qua tiếp xúc
một vài hội viên khi hỏi nếu mở lớp tập huấn kỷ thuật mới mà không có tiền phụ cấp
bác có dự không?bác nông dân này vui vẻ trả lời ngay với tôi rằng: “đi chứ, đi để học
11
cái mới, Nhà nước đã tạo điều kiện chuyển giao kỷ thuật mình đi là để biết kiến thức
chứ đâu phải để lấy tiền”.
3.2.2.Hoạt động hỗ trợ vay vốn để phát triển sản xuất, xây dựng các công trình
nước sạch vệ sinh môi trường nông thôn.
3.2.2.1.Hoạt động của Hội Nông dân.
Với vai trò là tổ chức của nông dân, Hội Nông dân xã đã nắm bắt nguyện vọng,
tình hình thực tế và nhu cầu phát triển của hội viên mình, hội đã đứng ra tín chấp và
tiếp nhận 3,8 tỷ đồng từ nguồn ngân hàng chính sách xã hội để cho khoảng 80% hội
viên vay để tiếp cận nguồn nước sạch và cải thiện các điều kiện về vệ sinh môi trường
nông thôn, trong đó cho vay để sử dụng nước sạch (2 triệu đồng/hộ, lãi suất
0,9%/tháng, thời hạn vay là 5 năm), xây dựng công trình hợp vệ sinh (4 triệu đồng/hộ
lãi suất 0,9%/tháng , thời hạn vay 5 năm), vay cho sinh viên học (60 sinh viên, lãi suất
0,5%, thời hạn là 6 năm), trong đó đối tượng được ưu tiên là hộ nghèo. Nhờ được hỗ
ruộng năng suất thấp và chăn nuôi heo nái, nhờ được vay 10 triệu đồng từ Hội, các chị
mạnh dạn đào ao, cải tạo mảnh ruộng năng suất thấp đó để nuôi cá theo mô hình 3
tầng sinh thái, đến nay cho tho nhập đáng kể, thu nhập của hộ trung bình 50 - 80 triệu
đồng/năm; không chỉ co 02 chi mà còn nhiều hội viên khác như chị Phạm Thị Tha,
Ngô Thị Tuyết,… phát triển kinh tế nhờ vốn vay từ Hội. Tuy nhiên, mức cho vay vốn
của hội ít (cao nhất là 10 triệu đồng- đối với vốn của Ngân hàng CSXH, đối với các
nguồn vốn khác mức tối đa là 1 triệu đồng) điều này nó đã làm hạn chế đến việc phát
triển sản xuất nông nghiệp theo hướng hiện đại, ví như trong chăn nuôi lợn với mức
vay 1-3 triệu đồng chỉ hộ nông dân chỉ đủ để mua lợn giống và với qui mô nhỏ, đó là
chưa kể phải đầu tư cám tăng trọng, thuốc phòng bệnh, thuốc tăng trọng khác,…
Có thể nói, Tổ chức Hội (Hội Nông dân, Hội phụ nữ) có hỗ trợ hết sức thiết thực
trong việc nâng cao khả năng tiếp cận nguồn vốn vay dễ dàng cho những đối tượng
không có khả năng thuế chấp, đây là chức năng mà không một tổ chức tín dụng nào có
thể làm được, trong tổng số 90 hộ thoát nghèo từ trong năm 2008 có đóng góp rất lớn
từ hoạt động cho vay và hỗ trợ nâng cao trình độ kỷ thuật, phát triển ản xuất cho hộ gia
đình của Hội Nông dân và Hội phụ nữ xã Quảng Phú.
3.3.Những khuyết điểm tồn tại:
Mặc dù Hội Nông dân và Hội Phụ Nữ xã Quảng Phú có nhiều đóng góp trong quá
trìh nâng cao năng lực cho người nông dân ở địa phương, tuy nhiên trong hoạt đọng
của hội còn rất nhiều vấn đề tồn tại mà chúng cần phải đề cập đến:
Thứ nhất, phương thức hỗ trợ nâng cao năng lực cho nông dân chưa phong phú, đa
dạng chỉ đơn thuần là phối hợp tổ chức các lớp tập huấn về các kỷ thuật, nêu gương
điển hình thông qua các buổi sinh hoạt. Hầu như các lớp tập huấn này đều xuất phát từ
kế hoạch cấp trên phân bổ về, chứ chưa thực sự xuất phát từ nhu cầu của người dân.
Chính vì vậy, nhiều lớp tập huấn rất khó thu hút được hội viên tham gia, hoặc nếu có
thma gia thì chỉ được tập trung một số hộ.
Hỗ trợ chuyển giao kiến thức chứ chưa có sự hỗ trợ trong việc liên kết giữa yếu tố
sản xuất (thị trường đầu vào), công nghệ chế biến đi kèm và tìm kiếm thị trường tiêu
thụ cho sản phẩm đầu ra. Ví dụ: Quảng Phú là vùng sản xuất lạc rất nhiều (trên 200ha)
vậy mà dường như chưa được chuyển giao công nghệ chế biến hoặc bảo quản, do đó
cắt khoảng hỗ trợ này cho các cán bộ quản lý chi hội chính vì thế mà nhiều cán bộ
dường như bỏ ngỏ công tác, không mặn mà công việc, nhiều chi hội hàng nhiều tháng
liền không sinh hoạt hội họp, chia sẻ kinh nghiệm; mỗi khi Hội cấp huyện muốn nắm
thông tin cấp thôn, lãnh đạo Hội cấp xã lại “vác sổ” đến từng chi hội để nắm thông tin
rồi tổng hợp báo cáo. Còn riêng việc phù cấp đối với Chi Hội trưởng các chi hội tuy
có khá hơn chi Hội Nông dân vì họ được hưởng phần trăm hoa hồng từ hoạt động cho
vay, nhưng con số này quá nhỏ so với khoảng thời gian họ bỏ ra hoạt động cho hội, do
đó làm ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động hội.
3.4.Các giải pháp.
Để phát huy vai trò và hiệu quả hoạt động của Hội Nông dân và Hội Phụ Nữ xã
Quảng Phú trong công tác hỗ trợ nâng cao năng lực cho hội viên mình nói riêng và cho
người nông dân xã Quảg Phú nói chung, thiết nghĩ cần phải thực hiện một số giải pháp
sau:
14
Thứ nhất: Hội phải đổi mới và đa dạng các hoạt động trong hội, ngoài các
chương trình hỗ trợ từ bên ngoài, hội cần phát huy nội lực bên trong, huy động sự
đóng góp của ác thành viên trong phát triển hội, chẳng hạn thành lập tổ giúp nhau phát
triển kinh tế gia đình, phát động phong trào thi đua trong hội từ cấp xã cho đến cơ sở,
…Song song với việc hỗ trợ nâng cao năng lực về kỷ thuật, cần hỗ trợ, vận động nâng
cao năng lực cho hội viên tiếp cận tốt với các nguồn lực đầu vào (vốn, giống chất
lượng, ), thị trường đầu ra cho sản phẩm.
Thời gian sinh hoạt hội tổ chức tăng thêm (1lần/1 tháng) để các hội viên có cơ
hội tiếp xúc, trao đổi học hỏi lẫn nhau. Trong các buổi sinh hoạt đó, cán bộ chi hội nên
là người thúc đẩy hội viên tham gia ý kiến hơn là truyền đạt, cần chú ý tạo điều kiện
cho tất cả hội viên tham gia đóng góp ý kiến. Trong hoạt động nêu gương điển hình,
nên mời người đó tham dự để họ trực tiếp chia sẻ kinh nghiệm cho các hội viên khác
nghe, điều đó hiệu quả hơn là cán bộ hội truyền đạt.
Hội cần phải tăng cường quan hệ, tạo mối liên kết và phối hợp tốt với các Hội
đoàn thể khác, các tổ chức cộng đồng, các tổ chức kinh tế khác, nhằm tạo điều kiện
thuận lợi trong công tác của hội cũng như là có thể tranh thủ được sự giúp đỡ của các
1. Trương Văn Tuyển, giáo trình phát triển cộng đồng lý luận và ứng dụng
trong phát triển nông thôn, 2007.
2. http://www.kinhtenongthon.com.vn
3.Báo cáo tổng kết tình hình kinh tế xã hội năm 2008 và phương hướng nhiệm
vụ giải pháp năm 2009 của xã Quảng Phú.
4. Niên giám thống kê Huyện Quảng Điền.
5. Báo cáo tổng kết năm 2008 của Hội Nông dân, Hội Phụ nữ xã Quảng Phú.
6. http://www.cuctrongtrot.gov.vn
17