yếu tố ảnh hưởng chuyển dịch cơ cấu ngành nghề tại xã hương văn, huyện hương trà, tỉnh thừa thiên huế - Pdf 13

1
Phần 1: ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong quá trình thực hiện công nghiệp hóa (CNH), hiện đại hóa (HĐH)
nền kinh tế Việt Nam đã có bước chuyển biến tích cực, phát triển tương đối toàn
diện, tăng trưởng khá; quan hệ sản xuất từng bước phù hợp với sự phát triển của
nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, từng bước hòa nhập với nền
kinh tế quốc tế. Cơ cấu của nền kinh tế tiếp tục có bước chuyển dịch theo hướng
CNH và từng bước HĐH, phát huy các lợi thế so sánh. "Trong cơ cấu kinh tế
chung, xét cả về giá trị sản phẩm (GDP) và về lao động, tỷ trọng công nghiệp
tiếp tục tăng lên, tỷ trọng nông nghiệp giảm dần. Cơ cấu các ngành sản xuất
nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ có chuyển dịch theo hướng phát huy lợi thế
so sánh, gắn với đáp ứng nhu cầu thị trường. Các ngành kinh tế tiếp tục chuyển
dịch theo hướng tiếp cận công nghệ tiên tiến, hiện đại; tốc độ chuyển dịch công
nghệ tăng; trình độ công nghệ của một số ngành có bước tiến rõ rệt" [13].
Tuy nhiên nền kinh tế nước ta vẫn còn nhiều yếu kém, tốc độ tăng trưởng
chưa tương xứng với mức đầu tư và tiềm năng của nền kinh tế. "CNH, HĐH
nông nghiệp nông thôn còn chậm và có nhiều lúng túng, mang nặng tính tự phát,
thiếu bền vững. Trong công nghiệp, công nghiệp gia công còn chiếm tỷ trọng
lớn, tốc độ đổi mới công nghệ trong các ngành kinh tế còn chậm. Tỷ trọng dịch
vụ trong GDP giảm, cơ cấu các ngành dịch vụ ít thay đổi, các ngành dịch vụ có
giá trị gia tăng cao phát triển chậm, còn thiếu nhiều dịch vụ chất lượng cao. Cơ
cấu lao động chuyển dịch chậm; lao động chuyển sang các ngành nghề khác còn
rất khó khăn, áp lực dư thừa lao động sẽ tiếp tục gay gắt hơn trong những năm
tới. Các vùng kinh tế trọng điểm phát triển chưa tương xứng với tiềm năng, chưa
đi mạnh vào phát triển công nghệ cao và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng
hiện đại hóa để phát huy lợi thế và có sức tác động thục đẩy mạnh mẽ sự phát
triển của toàn vùng" [13].
Thừa Thiên Huế là một trong bốn tỉnh nằm trong vùng phát triển kinh tế
trọng điểm của miền Trung, thời gian qua tình hình phát triển kinh tế có nhiều
2

2.1. Một số khái niệm cơ bản
2.1.1. Cơ cấu kinh tế nông thôn
Kinh tế nông thôn là một phức hợp những nhân tố cấu thành của lực lượng
sản xuất và quan hệ sản xuất trong các ngành nông - lâm - ngư nghiệp, tiểu thủ
công nghiệp, công nghiệp chế biến phục vụ nông nghiệp, các ngành thương
nghiệp và dịch vụ trên địa bàn nông thôn. Tất cả các ngành đó có quan hệ hữu cơ
với nhau trong kinh tế vùng, lãnh thổ và trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân [7].
Như vậy, cơ cấu kinh tế nông thôn là quan hệ tỷ lệ giữa các ngành, các
lĩnh vực kinh tế trên địa bàn nông thôn có quan hệ hữu cơ với nhau, tác động qua
lại lẫn nhau, làm tiền đề cho nhau phát triển trong điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã
hội, trong một thời gian nhất định ở nông thôn. Cơ cấu kinh tế đó được thể hiện
cả về mặt chất lượng và số lượng. Cơ cấu kinh tế nông thôn có vai trò to lớn, ảnh
hưởng chi phối đến đời sống vật chất và tinh thần ở nông thôn [7].
2.1.2. Cơ cấu lao động
Lao động bao giờ cũng là nguồn gốc của mọi của cải. Lao động là hoạt
động có mục đích, có ý thức của con người nhằm tạo ra của cải để phục vụ cho
con người và xã hội. "Cơ cấu lao động có thể hiểu là một phạm trù kinh tế tổng
hợp, thể hiện tỷ lệ của từng bộ phận lao động nào đó chiếm trong tổng số, hoặc
thể hiện sự so sánh của bộ phận lao động này so với bộ phận lao động khác"
[15].
Cơ cấu lao động theo ngành kinh tế thể hiện tỷ lệ lực lượng lao động trong
ba nhóm ngành lớn là nông – lâm – thủy sản, công nghiệp xây dựng, thương mại
và dịch vụ và theo các phân ngành trong từng nhóm ngành. Cơ cấu lao động theo
nhóm ngành kinh tế quốc dân có mối quan hệ chặt chẽ và phản ảnh trình độ phát
triển kinh tế - xã hội. Sự biến đổi cơ cấu lao động theo ngành trong quan hệ với
trình độ phát triển kinh tế - xã hội (thể hiện bằng chỉ tiêu quy mô, tốc độ và cơ
cấu GDP) diễn ra theo quy luật là: trình độ phát triển kinh tế xã hội càng cao,
GDP đầu người càng cao, kinh tế càng phát triển và chất lượng nguồn nhân lực
4
càng cao thì lao động làm việc trong khu vực nông nghiệp càng giảm về tuyệt

nghiệp phát triển gắn liền với sự phát triển của lực lượng sản xuất và phân công
lao động xã hội. Từ sản xuất mang tính chất tự cung, tự cấp với những ngành
rộng, đến sản xuất hàng hóa lớn, chuyên môn hóa cao, tạo ra nhiều sản phẩm
cung cấp cho xã hội và từ đó phân ra các ngành hẹp hơn, chi tiết hơn.
Ngành công nghiệp: Công nghiệp nông thôn bao gồm sản xuất vật liệu xây
dựng, khai thác, dệt may, chế biến, thủ công nghiệp và ngành nghề truyền thống.
Xu hướng của sự phát triển các ngành nghề công nghiệp nông thôn là ngày càng
phát triển nhanh và chiếm tỉ trọng lớn trong cơ cấu kinh tế nông thôn.
Ngành dịch vụ: Bao gồm dịch vụ tài chính, dịch vụ thương mại, dịch vụ
kỹ thuật và dịch vụ đời sống. Các ngành dịch vụ trong nông thôn ngày càng phát
triển để đáp ứng yêu cầu sản xuất và đời sống trong nông thôn. Tỉ trọng của
ngành dịch vụ ngày càng lớn trong cơ cấu kinh tế nông thôn [5].
2.1.4. Chuyển dịch cơ cấu ngành nghề
Là sự thay đổi từng bước từ ngành nghề này sang ngành nghề khác mà
không gây xáo trộn.
Chuyển dịch ngành nghề dưới tác động của quá trình công nghiệp hóa và
hiện đại hóa là quá trình biến đổi ngành nghề của lao động từ lao động chủ yếu
làm từ nông nghiệp chuyển sang các ngành công nghiệp, thương mại, dịch vụ
Trong quá trình chuyển dịch ngành nghề không chỉ đơn thuần chuyển từ
ngành nghề này sang ngành nghề khác của người dân mà còn làm thay đổi cơ
cấu trong từng ngành, giúp cho các ngành phù hợp với cơ chế hiện nay. Vì như
hiện nay nước ta đang tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Quá trình này
đang diễn ra mạnh mẽ ở vùng nông thôn làm cho bộ mặt nông thôn đang có
những bước thay đổi đáng kể. Công nghiệp hóa ở nông thôn làm cho diện tích
đất nông nghiệp ngày càng giảm thay vào đó là các đô thị, khu công nghiệp, nhà
máy, xí nghiệp mọc lên. Đòi hỏi người nông dân muốn tồn tại thì phải có sự thay
đổi sao cho phù hợp với hoàn cảnh thực tiễn thì phải chuyển đổi ngành nghề từ
sản xuất nông nghiệp sang các ngành nghề phi nông nghiệp [5].
Qua đây ta thấy công nghiệp hóa và hiện đại hóa đã tác động trực tiếp làm
cho cơ cấu ngành nghề ở nông thôn có sự chuyển dịch theo hướng giảm dần tỷ

Công nghiệp -
xây dựng
Dịch vụ
1990 38,1 22,7 38,6
1995 27,2 28,8 44,0
2000 24,5 36,7 38,7
2005 20,9 41,0 38,1
2008 20,6 41,6 38,7
(Nguồn: Tổng cục Thống kê, 2008)
Tỷ trọng trong GDP của ngành nông – lâm – ngư nghiệp giảm từ 38,1%
năm 1990 xuống còn 20,6% năm 2008. Ngành công nghiệp – xây dựng và
thương mại – dịch vụ qua các năm có tỷ trọng tăng dần trong GDP cả nước, hai
nhóm này có tỷ trọng lần lượt là 22,7% và 38,6% năm 1990 tăng lên 41,6% và
38,7% trong tổng GDP cả nước, tăng tương ứng là 18,9% và 0,1%. Trong đó, tỷ
trọng trong GDP của ngành công nghiệp – xây dựng là tăng chủ yếu, ngành
thương mại – dịch vụ tăng không đáng kể.
Cơ cấu lao động cũng là chỉ tiêu phản ánh chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế đã làm thay đổi cơ cấu lao động nước ta theo
xu hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Số lao động trong các ngành công
nghiệp và dịch vụ ngày càng tăng lên, trong khi số lao động ngành nông nghiệp
ngày càng giảm đi.
Bảng 2: Cơ cấu lao động nước ta phân theo ngành kinh tế
Ngành
Năm 2000 Năm 2006
Nghìn người % Nghìn người %
Nông - lâm - thủy sản 25054,0 65,3 24368,3 54,7
Công nghiệp - xây dựng 4757,6 12,4 8152,4 18,3
Dịch vụ 8556,0 22,3 12028,2 27
Tổng 38367,6 100 44548,9 100
(Nguồn: Tổng cục Thống kê, 2006)

9
nên xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỉ trọng sản xuất hàng
hóa, hướng về xuất khẩu.
Cơ cấu nền kinh tế đã chuyển dịch tích cực theo hướng mở cửa, hội nhập
vào kinh tế toàn cầu, thể hiện ở tỉ lệ xuất khẩu/GDP ngày càng tăng, nghĩa là hệ
số mở cửa ngày càng lớn, từ 34,7% năm 1992 lên 47% năm 2001, và đến năm
2005 là trên 50%. Tổng kiêm ngạch xuất khẩu 5 năm 2001-2005 đã đạt 111 tỉ
USD, tăng bình quân 17,5%/năm (kế hoạch là 16%/năm), khiến cho năm 2005,
bình quân kim ngạch xuất khẩu/người đã đạt 390 USD/năm, gấp đôi năm 2000.
Năm 2006, kim ngạch xuất khẩu tiếp tục đạt mức cao 40 tỉ USD, tăng 24% so
với năm 2005; năm 2007 đạt gần 50 tỉ USD, tăng 21,5% so với năm 2006; năm
2008 tăng 29,5% so với năm 2007, đưa tỉ lệ xuất khẩu/GDP đạt khoảng 70%.
Nhiều sản phẩm của Việt Nam như gạo, cao su, may mặc, giày dép, hải
sản… đã có sức cạnh tranh cao trên thị trường thế giới. Các hoạt động kinh tế
đối ngoại khác như đầu tư trực tiếp từ nước ngoài (FDI) và viện trợ phát triển
chính thức (ODA) cũng đều tăng trưởng khả quan, đặc biệt là vốn FDI đã có
bước phát triển tích cực, tăng nhanh từ năm 2004 đến nay.
Kết quả chuyển dịch cơ cấu kinh tế sau hơn 20 năm đổi mới là một trong
những nguyên nhân quan trọng và cơ bản nhất đưa đến các kết quả, thành tựu
tăng trưởng kinh tế khả quan, tạo ra những tiền đề vật chất trực tiếp để chúng ta
giữ được các cân đối vĩ mô của nền kinh tế như thu chi ngân sách, vốn tích lũy,
cán cân thanh toán quốc tế…, góp phần bảo đảm ổn định và phát triển kinh tế -
xã hội theo hướng bền vững. Các chương trình mục tiêu quốc gia về xóa đói
giảm nghèo, chương trình về đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội
cho các vùng khó khăn, các chương trình tín dụng cho người nghèo và chính
sách hỗ trợ trực tiếp đã mang lại kết quả rõ rệt. Tỉ lệ hộ nghèo đã giảm từ 17,2%
năm 2006 xuống còn 14,7% năm 2007, và năm 2008 còn 13,1%. Chỉ số phát
triển con người (HDI) đã không ngừng tăng, được lên hạng 4 bậc, từ thứ 109 lên
105 trong tổng số 177 nước…
Những hạn chế, bất cập của chuyển dịch cơ cấu kinh tế: So với yêu cầu

2006
3.934.037
691.685
1.548.366
1.693.986
2007
4.460.874 703.383 1.838.525 1.918.966
2008
4.909.188
707.249
2.034.128
2.167.811
2009
5.458.900
724.9
2.328.000
2.406.000
II. Tốc độ tăng trưởng (%)
2005
11,2 5,3 16,2 9,8
2006
13,2
4,7
18,0
12,8
11
2007
13,4 1,7 18,7 13,3
2008
10,0

động kinh doanh.
Cải cách và phát triển hệ thống tài chính- tiền tệ quốc gia phù hợp với sự
di chuyển nhanh và phổ biến của dòng vốn đầu tư gián tiếp quốc tế, điều chỉnh
cơ cấu vốn vay, trả nợ một cách linh hoạt và có sự kiểm soát theo hướng cân đối
với quy hoạch đầu tư phát triển, cơ cấu ngành đã lựa chọn.
12
Kiên trì mô hình kinh tế thị trường mở và hội nhập kinh tế khu vực và
quốc tế dựa vào tăng trưởng xuất khẩu các sản phẩm công nghiệp chế biến, chế
tạo trên cơ sở phát huy lợi thế so sánh "tĩnh" và "động" của đất nước.
Đẩy mạnh cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước, phát triển thị trường
chứng khoán để huy động vốn, thu hút vốn nước ngoài, phát huy nguồn vốn
trong nước, thực hiện đầu tư theo cơ cấu ngành đã lựa chọn
Việc hoạch định chính sách cơ cấu ngành kinh tế quốc gia theo hướng
khai thác có hiệu quả nguồn lực bên trong và bên ngoài phù hợp với tiến trình
hội nhập, thích ứng với chuyển đổi kinh tế khu vực và thế giới cần tính đến vai
trò của thể chế kinh tế toàn cầu, tổ chức kinh tế khu vực.
Phát triển cơ cấu hàng hóa xuất khẩu theo hướng đa dạng hóa, lựa chọn
mặt hàng xuất khẩu chủ lực phù hợp tiến trình chuyển dịch cơ cấu ngành trong
từng thời kỳ. Thực hiện đa dạng hóa thị trường xuất khẩu để tăng kim ngạch xuất
khẩu, đồng thời tránh lệ thuộc quá mức vào thị trường nước ngoài.
Tăng cường sự điều chỉnh thị trường đối với việc chọn lựa ngành, lĩnh vực
đầu tư kinh doanh, phân bố nguồn lực; giảm bớt can thiệp trực tiếp của Nhà
nước vào các hoạt động của doanh nghiệp [6].
2.3.2. Kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành các địa phương khác
trong nước
Đẩy mạnh công tác chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật và sản xuất
đồng thời cung cấp các thông tin thị trường cần thiết và có sự hỗ trợ cụ thể cho
mỗi hộ sản xuất để có thể thực hiện chuyển dịch cơ cấu sản xuất nhanh và đạt
hiệu quả
Phát triển công nghiệp chế biến nông - lâm - ngư nghiệp. Củng cố, sắp xếp

- Yếu tố hộ gia đình: Trình độ học vấn, trình độ chuyên môn của lao động; Sự
năng động của các hộ; Thu nhập từ ngành nông nghiệp.
3.1.5. Vai trò của chuyển dịch cơ cấu ngành nghề đối với đời sống của người
dân xã Hương Văn
- Vai trò của chuyển dịch ngành nghề đến thu nhập của hộ
- Vai trò của chuyển dịch ngành nghề đến chi tiêu của hộ
3.2. Phương pháp nghiên cứu
3.2.1. Chọn điểm nghiên cứu
Điểm nghiên cứu được chọn là xã Hương Văn, huyện Hương Trà, tỉnh
Thừa Thiên Huế, gồm 2 thôn: Giáp Thượng và Giáp Ba.
Thôn Giáp Ba là thôn trục đường quốc lộ 1A đi qua nên ở đây khá phát
triển các ngành nghề dịch vụ như: sản xuất vật liệu xây dựng, cơ khí, buôn bán,
15
Thôn Giáp Thượng, đây là thôn nông nghiệp trọng điểm của xã. Đặc biệt
nơi đây đang thừa lao động và hiện tại đang cung cấp lao động rất nhiều cho các
ngành nghề khác nhau.
3.2.2. Phương pháp thu thập số liệu
Số liệu thứ cấp được thu thập là: (1) Tập hợp và tham khảo các sách báo,
báo cáo khoa học, tài liệu nghiên cứu, tạp chí, thông tin trên mạng internet liên
quan đến đề tài; (2) Thu thập dữ liệu thứ cấp tại xã bao gồm các báo cáo về tự
nhiên- kinh tế xã hội năm 2008-2010; (3) Các tài liệu liên quan khác.
Số liệu thứ cấp được thu thập nhằm tìm hiểu điều kiện tự nhiên, tình hình
kinh tế - xã hội của địa phương, thực trạng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế của
xã, những khái niệm liên quan tên đề tài, vấn đề thường nảy sinh trong quá trình
chuyển dịch ngành nghề, các tài liệu nghiên cứu của các nhà khoa học liên quan
đến yếu tố chuyển dịch ngành nghề.
Số liệu sơ cấp được thu thập thông qua phỏng vấn người am hiểu; thảo
luận nhóm, phỏng vấn hộ bằng bảng hỏi.
Phỏng vấn sâu: Nghiên cứu tiến hành phỏng vấn sâu với các đối tượng
khác nhau nhằm thu thập các thông tin liên quan sự chuyển dịch ngành nghề ở

CNH, HĐH; (5) Định hướng của địa phương trong thời gian tới.
Công cụ sử dụng: Liệt kê và so sánh cặp đôi; Phân tích SWOT.
Phỏng vấn hộ: Đề tài tiến hành phỏng vấn 30 hộ trong đó có 5 hộ thuần
nông; 19 hộ hỗn hợp; 6 hộ phi nông nghiệp. Hộ được chọn ngẫu nhiên có định
hướng, việc phỏng vấn hộ nhằm thu thập những thông tin về: (1) Tình hình sử
dụng lao động của hộ; (2) Thông tin nguồn thu nhập và giá trị thu nhập của hộ
giữa hiện tại và 3 năm trước; (3) Các yếu tố ảnh hưởng chuyển dịch ngành nghề;
(4) Những khó khăn và thuận lợi của hộ trong quá trình chuyển dịch ngành nghề;
(5) Ảnh hưởng của chuyển dịch ngành nghề đối với đời sống của người dân.
Ngoài ra, phương pháp quan sát cũng được sử dụng để xác minh các thông tin
cần thu thập.
3.3. Phương pháp xử lí thông tin
Số liệu thu thập của đề tài được xử lí bằng phần mềm EXCEL
17
Phần 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế- xã hội của xã Hương Văn
4.1.1. Điều kiện tự nhiên xã Hương Văn
Hương Văn là xã nằm ở vị trí trung tâm của Huyện Hương Trà, có trục
đường quốc lộ 1A và tuyến đường sắt Bắc Nam chạy qua nên rất thuận lợi trong
việc giao lưu hàng hóa.

Xã Hương Văn
Vị trí địa lý của điểm nghiên cứu
Đặc điểm địa hình của xã Hương Văn gồm hai kiểu địa hình hành chính,
kiểu địa hình vùng đồi và kiểu địa hình vùng đồng bằng.
Về khí hậu, Hương Văn có khí hậu mang những đặc tính chung của khí
hậu khu vực Trung bộ, với chế độ nhiệt đới gió mùa. Khí hậu hằng năm phân
thành hai mùa tương đối rõ rệt. Mùa nóng hạn bắt đầu từ tháng 3 đến tháng 8 với
nhiệt độ tương đối cao, cao nhất là 41
0

- Đất trồng cây lâu năm 1,5 0,26
So với đất SXNN
1.2. Đất lâm nghiệp 147 20,18
So với đất NN
Đất rừng sản xuất 147 20,18
So với đất lâm nghiệp
1.3. Đất nuôi trồng thủy sản 4,5 0,62
So với đất NN
2. Đất phi nông nghiệp 616,1 44,91
So với đất tự nhiên
2.1. Đất ở nông thôn 227 36,84
So với đất phi NN
2.2. Đất sản xuất kinh
doanh phi nông nghiệp,
Công nghiệp-TTCN, kho
tàng
141,56 23
So với đất phi NN
2.4. Đất phi nông nghiệp
khác
154,6 40,16
So với đất phi NN
19
3. Đất chưa sử dụng 27,4 1,99 So với đất tự nhiên
3.1. Đất đồng bằng 24,36 88,91
So với đất chưa sử dụng
3.2. Đất đồi núi 1,41 11,09
So với đất chưa sử dụng
(Nguồn: Hiện trạng sử dụng đất xã Hương Văn năm 2010)
Qua bảng trên cho thấy, diện tích đất nông nghiệp chiếm tỷ lệ khá cao

khôi phục… Đặc biệt là xã quan tâm xây dựng mở mang trường học, trạm xá,
nhà ở nhằm cải thiện đời sống nhân dân.
Với những chuyển biến về kinh tế xã hội, xã Hương Văn đã và đang dần
chuyển hoá, phát triển để phù hợp với định hướng phát triển trong quá trình công
nghiệp hoá, đô thị hoá.
4.2. Đặc điểm của các hộ điều tra
Đặc điểm về nhân khẩu, lao động, ngành nghề của các hộ điều tra được
thể hiện ở bảng dưới đây:
Bảng 5: Đặc điểm của các hộ điều tra
Chỉ tiêu Đơn vị tính Kết quả
Hộ thuần nông % 16,67
Hộ hỗn hợp % 63,33
Hộ ngành nghề % 20
Bình quân khẩu/hộ Khẩu/hộ 5,367
Bình quân lao động/hộ Lao động/hộ 2,6
Thu nhập bình quân Tr.đ/người/năm 9,35
(Nguồn: Số liệu điều tra 2011)
Hộ thuần nông chiếm 16,67 % các hộ điều tra. Hộ hỗn hợp chiếm 63,33%.
Hộ ngành nghề 20%. Bình quân nhân khẩu/hộ là 5,367 khẩu/hộ, bình quân lao
động/hộ là 2,6. Tỷ lệ này cho biết số người làm việc trong hộ và số người sinh
sống tại hộ nhưng không tham gia vào hoạt động sản xuất. Tỷ lệ này tại các hộ
điều tra thấp, chứng tỏ số lượng người tham gia lao động thấp, từ đó sẽ gây sức
ép về việc làm cho người lao động của các hộ điều tra nói riêng và các hộ ở xã
21
Hương Văn nói chung. Thu nhập bình quân (triệu đồng/người/năm) là 9,35; cao
gần bằng thu nhập bình quân của xã
4.3. Thực trạng chuyển dịch cơ cấu ngành nghề của xã Hương Văn
4.3.1. Thực trạng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế của xã Hương Văn giai
đoạn 2008 - 2010
a. Cơ cấu thu nhập của các nhóm ngành kinh tế giai đoạn 2008- 2010

năm 2010 chiếm 31%, ngành thương mại và dịch vụ đã có những chuyển biến
mạnh, đa dạng các loại hình dịch vụ như cung ứng thu mua vật tư, nông sản,
dịch vụ làm đất trong nông nghiệp, dịch vụ vận tải trong hoạt động xây dựng,
đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu về sản xuất, phát triển hạ tầng và phục vụ đời
sống vật chất, tinh thần cho người dân.
Qua phân tích trên cho thấy xã Hương Văn vẫn là xã thuần nông, sản xuất
còn phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên, ngành công nghiệp - TTCN vẫn
chưa thực sự thu hút lao động địa phương. Xã Hương Văn có trục đường quốc lộ
1A và đường sắt Bắc, Nam đi qua trung tâm do đó ngành thương mại, dịch vụ rất
được chú trọng phát triển, ngành chiếm tỷ trọng tăng hàng năm.
23
b. Chuyển dịch cơ cấu lao động theo ngành nghề ở xã Hương Văn giai
đoạn 2008- 2010
Cơ cấu về hộ gia đình và lao động của xã được thể hiện ở bảng
Bảng 6: Cơ cấu hộ và lao động theo ngành nghề của xã giai đoạn 2008 -
2010
Chỉ tiêu ĐVT 2008 2009 2010
Chênh lệch
(+/-)
Hộ thuần nông % 12,59 11,78 10,92 -1,67
Hộ hỗn hợp % 78,9 78,32 76,45 -2,45
Hộ ngành nghề % 8,51 9,9 12,63 +4,12
Tỷ lệ lao động NN % 53,65 52,7 51,03 -2,62
Tỷ lệ lao động CN-TTCN % 31,32 32,75 33,6 -2,28
Tỷ lệ lao động TM, DV % 15,03 14,55 15,35 +0,32
Bình quân thu nhập
Tr.
đồng/năm/
người
6,8 7,4 9,8 +3

điều tra theo mốc hiện tại cuộc điều tra và 3 năm trước, sự dịch chuyển lao động
được thể hiện ở bảng sau:
25
Biểu đồ 2: Chuyển dịch lao động theo ngành nghề của các hộ điều tra
(Nguồn: Số liệu điều tra 2011)
Qua biểu đồ 2 cho thấy lao động trong nông nghiệp vẫn chiếm ưu thế vượt
trội cả hiện tại và 3 năm trước, tuy có giảm nhưng không đáng kể, 3 năm trước
chiếm tỷ lệ 53,03 %, giảm 5,97% hiện tại chiếm 47,06%. Lao động trong ngành
công nghiệp - TTCN tăng khá cao so với ngành thương mại, dịch vụ, 3 năm
trước chiếm tỷ lệ 13,64% tăng 4,01% hiện tại chiếm 17,65%. Đối với ngành
thương mại, dịch vụ tuy tăng không mạnh nhưng tỷ lệ lao động trong ngành này
vẫn chiếm tỷ lệ khá cao, 3 năm trước chiếm tỷ lệ 33,33% tăng 1,96% hiện tại
chiếm tỷ lệ 35,29%, cho thấy mức ổn định và lâu dài của lao động ngành thương
mại và dịch vụ khá cao so với ngành công nghiệp - TTCN. Lao động của các hộ

Trích đoạn Yếu tố ảnh hưởng chuyển dịch cơ cấu ngành nghề Đối với chính quyền
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status