PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Sự phát triển như vũ bão của khoa học kỹ thuật và công nghệ đã dẫn
bước cho lịch sử nhân loại bước sang một kỷ nguyên mới:kỷ nguyên của
thông tin, tri thức.Và ngày nay, chìa khóa vàng để mỗi quốc gia tiến bước
vào tương lai, đến với kho tàng của tri thức đú chớnh là giáo dục.
Giáo dục không chỉ cú chỳc năng chuyển tải những kinh nghiệm lịch sử
của thế hệ trước cho thế hệ sau, mà quan trong hơn là trang bị cho mỗi người
phương pháp học tập, tìm cách phát triển năng lực nội sinh, phát triển tư duy
nội tại, thích ứng được với một xã hội học tập thường xuyên và học tập suốt
đời. Để người học đáp ứng được những nhu cầu đó, việc cải cách, đổi mới
GD là một việc hết sức cần thiết và cấp bách, trong đó đổi mới là khâu then
chốt nhất trong quá trình đạt đến mục tiêu đổi mới GD.
Nhận thức được việc đổi mới phương pháp giảng dạy và học tập là một
trong những vấn đề bức thiết hiện nay ở nước ta, Đảng va Nhà nước cũng
như bộ GD và ĐT đã đưa ra nhiều nghị quyết, chỉ thị nhằm thúc đẩy việc đổi
mới phương pháp dạy học ở tất cả các cấp học, bậc học. “Đổi mới phương
pháp dạy và học, phát huy tư duy sáng tạo và năng lực tự đào tạo của người
học, coi trọng thực hành, thực nghiệm, ngoại khóa, làm chủ kiến thức, tránh
nhồi nhét, học vẹt, học chay.”
Luật giáo dục nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2005(điều
5 khoản 2) đã ghi: “Phương pháp dạy học phải phát huy tính tích cực, tự giác
chủ động, tư duy sáng tạo của người học năng lực tự học, khả năng thực
hành, lòng say mê học tập và ý chí vươn lờn”
Ở cấp học PT,mụn GDCD là một trong những môn học cơ bản góp
phần tạo nên nội dung dạy học, GD toàn diện.Việc hình thành và giáo dục
TGQ, PPLKH, đạo đức cho học sinh do tất cả các môn học, các hình thức
giáo dục của nhà trường thực hiện, song chỉ có môn GDCD mới trực tiếp GD
1
cho học sinh những tri thức theo một hệ thống xác định toàn diện về TGQ và
nhân sinh quan, mới cho học sinh hiểu được những quy luật phát triển tất yếu
dụng vào việc giảng dạy nhằm đạt kết quả cao hơn trong giảng dạy môn
GDCD ở trường THPT sau này.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu:
Trình bày khái quát việc dạy học môn GDCD ở trường THPT
Nguyên nhân và thực trạng của việc vận dụng phương pháp thảo luận
nhóm và phương pháp nêu vấn đề ở trường THPT Cẩm Thủy III-tỉnh
Thanh Hóa.
Đề xuất phương hướng và cách giải quyết nhằm vận dụng từng bước
các phương pháp này vào việc dạy học môn GDCD lớp 10 phần “cụng dân
với đạo đức”.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
3.1. Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là kết hợp phương pháp thảo luận
nhóm và phương pháp nêu vấn đề trong dạy học môn GDCD lớp 10 ở trường
THPT Cẩm ThủyIII- Thanh Hóa.
3.2. Phạm vi nghiên cứu:
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này chúng tôi chỉ giới hạn việc sử
dụng phương pháp thảo luận nhóm và phương pháp nêu vấn đề trong dạy
học môn GDCD lớp 10 ở trường THPT Cẩm Thủy III-tỉnh Thanh Hóa.
4. Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu:
4.1. Cơ sở phương pháp luận của đề tài dưa trên cơ sở:
Quan điểm của chủ nghĩa Mỏc-Lờnin về nhận thức và giáo dục.
Quan điểm, chính sách của Đảng về giáo dục và đào tạo.
4.2. Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp nghiên cứu lý luận:
3
Nghiên cứu, phân tích tổng hợp các tài liệu có liên quan đến phương
pháp thảo luận nhóm và phương pháp nêu vấn đề nhằm xây dựng cơ sở lý
luận của đề tài.
Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
ghĩa là “con đường nghiên cữu”, “cỏch thức nhận thức”, nguyên văn là con
đường đi tới một cái gì đó; có nghĩa là cách thức đạt tới mục đích.
PPDH được hiểu là cách thức hoạt động phối hợp thống nhất giữa GV
và HS nhằm thực hiện mục tiêu và nhiệm vụ dạy học.
PPDH GDCD là một khoa học, thuộc chuyên ngành khoa học giáo dục,
một bộ phận của lí luận dạy học.
1.1.1. PP nêu vấn đề trong day học môn giáo dục công dân.
PPDH nêu vẫn đề là PPDH, trong đó GV tạo ra các tình huống mâu
thuẫn, đưa HS vào trạng thái tâm lý tìm tòi, khám phá, từ đó hướng dẫn,
khích lệ HS tỡm cỏc giải quyết để nắm được kiến thức, phát triển trí tuệ và
thái độ học tập.
Đây không phải là một PP dạy học cụ thể đơn thuần mà là một tập hợp
nhiều PP dạy học liên kết chặt chẽ và tương tác với nhau trong đó phần nêu
vấn đề (xây dựng bài túan nhận thức) giữ vai trò chung tâm chủ đạo. PP dạy
học nêu vấn đề là phương pháp dạy học trong đó học HS được lôi cuốn tham
gia vào một cách có hệ thống vào quá trình giải quyết các vấn đề (bài toán
nhận thức), đòi hỏi người học phải tìm tòi phát hiện vấn đề và cách giải
quyết vấn đề.
- Đặc điểm của PP vấn đề là:
+ HS tiếp nhận mâu thuẫn và được đặt vào trạng thái có nhu cầu giải
quyết mâu thuấn giữa cái đã biờt và cái phải tìm .
+ HS tiếp nhận mâu thuẫn và được đặt vào trạng thái có nhu cầu giải
quyết mâu thuẫn, mong muốn giải quyết mâu thuẫn (vẫn đề) đó.
5
Cách thức tiến hành phương pháp nêu vấn đề.
1. Xây dựng tình huốn có vấn đề:
a. Tạo tình huống có vấn đề.
b. Phát hiện nhận dạng vấn đề nảy sinh.
c. Phát biểu vấn đề cần giải quyết.
2. Giải quyết vấn đề đặt ra:
1 GV GV GV HS HV
2 GV GV HS HS GV+HS
3 GV+HS HS HS HS GV+HS
4 HS HS HS HS GV+HS
- Ưu điểm:
+ PPDH nêu vấn đề phát huy được tính tích cực, tự giác học tập của HS,
giúp hình thành tính độc lập và sáng tạo trong tư duy, khắc phục được tình
trạng thụ động trong việc tiếp nhận tri thức của HS.
+ Áp dụng PP này là một biện pháp tốt để biến quá trình đào tạo thành
quá trình tự đào tạo.
+ PPDH nêu vấn đề giúp cho HS vừa nắm được tri thức mới, vừa nắm
được PP chiếm lĩnh tri thức đó. Phát triển tư duy tích cực sáng tạo. chuẩn bị
được một năng lực thích ứng với đời sống xã hội, đó là phát hiện kịp thời và
giải quyết hợp lý các vấn đề mới nảy sinh, thực hiện tốt PP này chính là “dạy
học cách học” cho người học.
+ PPDH nêu vấn đề giúp HS vứng tin vào chân lý của các tư tưởng do
chính mình rút ra và kiêm nghiệm, rèn luyện tác phong mạnh dạn, tự tin, tính
độc lập trong học tập và sinh họat tập thể, tạo niềm vui sướng cho sự khám
phá tri thức cho HS.
+ Áp dụng PP này giúp kiến thức được củng cố và được khắc sâu trong
trí nhớ HS.
+ PPDH nêu vấn đề giúp cho GV thu được những thông tin phản hồi
của HS, tự đú GV điều chỉnh hướng suy nghĩ giải quyết vấn đề của HS được
đúng hướng.
+ PP này thích hợp cho mọi cấp học và mọi môn học.
+ PP này không yêu cầu phải sử dụng các phương tiện hiện đại, rất
phù hợp cho điều kiện còn thiếu trang thiết bị day học hiện đại ở trường
PT hiện nay.
7
- Hạn chế:
giác an toàn mà còn xuất hiện những hứng khởi làm tăng hiệu xuất là việc do
có sự tương tác mặt đối mặt giữa các thành viên, có sự phụ thuộc lẫn nhau
một cách tích cực và trách nhiệm phải giải thích vấn đề thuộc về từng cá
nhân trong nhóm và kĩ năng xử lý tình huống trong nhóm.
- Các hình thức thảo luận nhóm.
+ Nhóm nhỏ thông thường: GV chia lớp học thành cỏc nhúm (từ 5 đến
7 HS) để thảo luận một vấn đề cụ thể và nhanh tróng đưa ra kết luận của tập
thể về vấn đề đó. Hình thức này thường được sử dụng kết hợp với các PP
dạy học khác trong một bài học, một tiết học, nội dung thảo luận của một
nhóm nhỏ thông thường là các vấn đề ngắn, thời lượng ít (từ 10 đến 15
phút).
+ Nhóm nhỏ rì rầm: GV chia lớp thành cỏc nhúm “cực nhỏ” tù 2 đến 3
HS (thường là cùng một bàn) để trao đổi (rì rầm) và thống nhất một câu hỏi
trả lời, giải quyết một vấn đề nêu một ý tưởng, một thái độ… để nhóm rì rầm
có hiệu quả, GV cần cung cấp đầy đủ, chính xác các dữ kiện, gợi ý và nêu rõ
yêu cầu đối với các câu trả lời để các thành viên tập trung vào giải quyết.
+ Nhóm kim tự tháp: Đây là hình thức mở rộng của nhóm rì rầm, sau
khi thảo luận theo cặp(nhúm rì rầm) các cặp (nhóm rì rầm) kết hợp thành
một nhóm để hoàn thiện một vấn đề chung. Nếu cầm thiết có thể kết hợp
nhóm này thành nhó lớn hơn (8 – 16 HS).
+ Nhóm đồng tâm: GV chia lớp thành hai nhóm: nhóm thảo luận và
nhóm quan sát (sau đó hoán vị cho nhau) Nhóm thảo luận là nhóm nhỏ (6
đến 12 HS) có nhiệm vụ thảo luận, trình bầy vấn đề được giao, còn lại các
thành viên khác trong lớp đóng vai trò là quan sát và phản biện. hình thức
nhóm này rất có hiệu quả đối với việc dạy học các nội dung tri thức có tính
khái quát, trừu tượng của môn GDCD, nó làm tăng ý thức trách nhiệm của cá
nhân HS trước tập thể và tạo động cơ cho những HS ngại trình bày ý tưởng
của mình trước tập thể.
9
- Ư điểm và hạn chế.
Thảo luận nhóm là phương pháp tốn nhiểu thời gian đặc biệt với những
tri thức khoa học có logic tường minh hoặc những tri thức có tính xác định
cao.
Hiệu quả của PP này phụ thuộc nhiều vào tinh thần tham gia của các
thành viên trong nhóm. Nếu chỉ có vài HS tham gia nhiệt tình và số còn lại
chỉ ngồi nghe, để mặc cho người khác dẫn dắt và quyết định.
Đây là PP dễ gây hưng phấn cho HS nhưng cũng dễ tạo ra trạng thái
mệt mỏi, trì trệ.
PP này đòi hỏi không gian rộng nhưng trên thực tế thì ở các trường
THPT hiện nay, việc sử dụng PP này còn bị hạn chế, đồng thời do thời gian
hạn định của tiết học. Cho nên GV phải biết tổ trức hợp lí và HS đó khỏ
quen với PP này thì mới có kết quả. Cần nhớ rằng, trong hoạt động nhóm, tư
duy tích cực của HS phải được phát huy và ý nghĩa quan trọng của PP này là
rèn luyện năng lực hợp tác giữa các thành viên trong tổ chức lao động. Cần
tránh khuynh hướng hình thức và đề phong lạm dụng, cho rằng tổ chức hoạt
động nhóm là dấu hiệu tiêu biểu nhất cho đổi mới PPDH và hoạt động nhóm
càng nhiều thì chứng tỏ PPDH càng đổi mới.
Thực hiện PP này mất nhiều thời gian để chuẩn bị và tiến hành cuộc
thảo luận. Vì vậy, Người dạy cần phải cân nhắc giữa việc bảo đảm mục tiêu
bài học với thời gian quy định.
Nếu lớp đông mà chia thành nhiều nhúm thỡ người dạy sẽ rất vất vả
trong việc bao quát toàn bộ lớp học.
Sẽ có nhiều yếu tố gây nhiễu và làm mất thời gian trong quá trình thảo
luận. Chẳng hạn tiếng ồn của cỏc nhúm sẽ làm ảnh hưởng đến cỏc nhúm
xung quanh, các thành viên quá tập trung vào một vài vấn đề thú vị.
1.2. Vị trí và vai trò của hai phương pháp này.
11
Vai trò vận dụng hai PP này sẽ giúp người học tham gia vào các hoạt
động học tập ở mức độ cao. Người học không học thụ động, chỉ nghe thầy
giảng và truyền đạt kiến thức, mà học tập tích cực bằng hành động của chính
Hai PP này tạo ra các điều kiện, cơ hội để cho người học làm việc với
nhau, học tập lẫn nhau và giúp đỡ nhau trong quá trình học tập. Điều này sẽ
không thể có được trong các tiếp cận dạy học lấy người dạy làm trung tâm.
Hợp tác, học tập, và giúp đỡ lẫn nhau cũng là một yêu cầu của đào tạo con
người mới toàn diện của môn GDCD.
Vận dụng hai PP này sẽ khuyến khích lòng say mê học hỏi, tính tự giác,
chủ động trong học tập của người học. Từ đó người học nâng cao vai trò,
trách nhiệm của mình trong quá trình học tập, có khả năng tạo ra được tính
chủ động, độc lập hành động cho cuộc sống sau này.
Vận dụng hai PP này sẽ giúp cho người học phát triển các kỹ năng tư
duy và kỹ năng giao tiếp cơ bản. Điều này rất quan trọng trong cuộc sống lao
động sau này của người học và đó là những kỹ năng cần thiết để người học
trở thành người lao động hiờu quả.
1.3. Đặc thù của môn GDCD.
Môn GDCD là một môn khoa học xã hội, có vị trí đặc biệt quan trọng
trong trường THPT. Điều này có được từ chính đặc thù về tri thức của môn
GDCD đem lại. có thể nêu lên một vài điểm riêng biệt về hệ thống tri thức
của nó như sau:
Thứ nhất, nội dung tri thức môn DGCD bao gồm phạm vi kiến thức
rộng lớn, bao quát toàn bộ đời sống xã hội, những tri thức này được khái
quát từ những vẫn đề rất gần gũi, thiết thực trong đời sống thường nhật của
cá nhân công dân, gia đình và xã hội đến những vẫn đề lớn hơn của quốc gia,
dân tộc, nhân loại. Đây là những kiến thức thể hiện tên gọi của một môn học,
dạy và học để làm người công dân. Để trở thành người công dân đúng chuẩn
mực xác định-người công dân Việt Nam trong thời đại mới – khỏe mạnh, tự
trọng, có kiến thức, kĩ năng, có động lực học tập suốt đời, biết quan tâm tới
người khác và có trách nhiệm với xã hội.
13
Hai là, các tri thức môn GDCD mang tính khái quát cao, tính trừu
tượng, tính quy luật, tính logic chặt chẽ. Đây là những tri thức mang tính
Bốn là, tri thức GDCD gắn bó mật thiết với hiện thực, phản ánh một
cách sinh động đời sống hiện thực, nếu việc dạy học tri thức môn GDCD
tách khỏi thực tiến xây dựng và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa Việt Nam
thì sẽ mất hết ý nghĩa và tác dụng. Bởi lẽ, dạy học GDCD là dạy HS trở
thành người công dân có tinh thần trách nhiệm của một thành viên hữu ích
cho đất nước, có những kiến thức và kĩ năng cần thiết để tham gia vào một
thế giới đang thay đổi nhanh chóng. Do đó, quá trình dạy học bộ môn phải
trực tiếp, cụ thể với đời sống, với việc rèn luyện và tu dưỡng của mỗi HS.
Tóm lại, môn GDCD ở trường THPT đã đề cập và giải quyết một cách
toàn diện hệ thống kiến thức cơ bản, cần thiết của một công dân Việt Nam
trong thời đại mới là tổng hợp tri thức của nhiều môn khoa học. Đào tạo ra
những thế hệ công dân có lập trường vững vàng, có ý thức tự tôn dân tộc, có
lý tưởng cách mạng, tự trọng, giỏi giang là hết sức cần thiết. Điều đó cho
thấy vị trí của môn GDCD là rất quan trọng, phải nhận thức đúng đắn, đầy
đủ về vị trí của môn học này thì mới góp phần thực hiện được “chiến lược
con người” mà chúng ta đang triển khai trong tư duy và hành động.
Kết luận chương I
PPDH là một bộ phận quan trọng trong cấu trúc của quá trình dạy học.
Áp dụng PPDH nêu vấn đề và PP thảo luận là nhằm phát huy tính tích cực,
chủ động, sáng tạo của người học, hai PP này có những dấu hiệu đặc trưng
cơ bản như: dạy học thông qua tổ chức các hoạt động học tập của HS; Dạy
và học chú trọng rèn luyện PP tự học; tăng cường học tập cá thể, phối hợp
với học tập hợp tác, kết hợp đánh giá của thầy với tự đánh giá. Hai PP này
đều có ưu điểm và nhược điểm nhất định, vì vậy tùy thuộc vào nội dung của
môn học, của từng bài học để chúng ta lụa chọn PP nào là thích hợp nhất và
vận dụng kết hợp những PP đó như thế nào để đạt kết quả cao.
15
Trong nhà trường THPT, môn GDCD là môn KHXH có một vị trí quan
trọng trong việc giáo dục trực tiếp HS về thế giới quan và PP luận, về đạo
đức và lỗi sống … mặt khác, tri thức môn nạy lại mang tính khái quát hóa,
tham gia các hoạt động xã hội, thâm nhập cuộc sống từ đó hình thành phẩm
chất, nhân cách của người công dân.
Ở tuổi này các em luôn luôn thể hiện những phẩm chất mang tính đặc
trưng như: năng lực trí tuệ dồi dào, ý chí cảm xúc mãnh liệt, nhạy bén, sáng
tạo và thích tìm tòi những cái mới trong cuộc sống.
17
Tuy nhiên, ở một số trường hợp, những phẩm chất này lại gắn liền với
sự bồng bột, thiếu chín chắn, dễ bị ảnh hưởng do tác động của ngoại cảm. Ở
lứa tuổi này, các em cũng có những nhu cầu mạnh mẽ về tình bạn, tình yêu.
Bên cạnh đú cỏc em cũng bước đầu xây dựng cho bản thân những quan điểm
riêng, quyết định tương lai của mình, kế hoạch cho cuộc sống. Trong quá
trình trình trưởng thành tầm nhìn của các em cũng được mở rộng. Trước
những khám phá mới, có nhiều trường hợp do các em chưa hiểu được bản
chất của vấn đề, chưa đầy đủ bản lĩnh để kiềm chế những tác động của ngoại
cảnh nên dễ dẫn đến hành động bột phát và khi thực hiện các em không hề
nghĩ đến hậu quả do mình gây ra cho xã hội.
Ngoài ra chúng ta có thể nhận thấy một số nét tích cực trong hoạt động
học tập của các em trong độ tuổi THPT đó là: hứng thú học tập của các em
có những thay đổi rõ rệt, bền vững và gắn liền với các khuynh hướng nghề
nghiệp. Đối với các lĩnh vực khoa học, các em đã có thái độ lựa chọn rõ
ràng, thái độ học tập cũng gắn liền với động cơ thực tiễn, nhận thức sau đó là
ý nghĩa của môn học.
Như vậy một yêu cầu rất lớn được đặt ra là ngoài việc giáo dục tri thức
cho hoc sinh thì nhà trường cũng là nơi đào tạo nhân cách cho người học
sinh, hướng các em đi theo một con đường đúng đắn để trở thành một người
công dân tốt cho xã hội.
2.1.2. Thực trạng của việc dạy và học môn GDCD ở trường THPT
Cẩm Thủy III tỉnh Thanh Hóa:
Qua một số điều tra thì chúng tôi nhận thấy một số thực trạng dạy và
học môn GDCD ở trường THPT Cẩm Thủy III nói riêng và ở một số trường
như không sử dụng. Ngược lại nhóm PP dạy học truyền thống như: thuyết
trình, diễn giải thì GV lại sử dụng thường xuyên.
Qua thực tiễn điều tra chúng tôi nhận thấy rằng:PPDHTC là một thuật
ngữ mới xuất hiện gần đây trong lý luận dạy học ở nước ta. Mặc dù đã xuất
19
hiện rất nhiều trờn cỏc tạp chí chuyên ngành nhưng không phải GV nào cũng
quan tâm để hiểu đúng về nó và áp dụng trong quá trình dạy học của mình.
Đi sâu tìm hiểu chúng tôi đã nhận thấy cái yếu của GV chính là ở PP
dạy học, thể hiện ở những điểm sau:
Thứ nhất: Khi lựa chọn PPDH, GV chưa chú ý đến việc tìm hiểu thật kĩ
nội dung để từ đó lựa chọn phương pháp cho phù hợp.Việc lựa chọn phương
pháp tùy tiện không có cơ sở khoa học, việc sử dụng PP không theo một quy
trình chặt chẽ. Giáo viên thuyết trình là chủ yếu.
Thứ hai: Thông qua một vài lần tham gia dự giờ các tiết GDCD chung
tôi nhận thấy rằng các bài giảng của GV trước khi lên lớp còn rất sơ sài,
chưa đầu tư thời gian, công sức và tâm huyết.
Thứ ba: Nhận thức của GV về phương pháp dạy học, những ưu điểm,
nhược điểm của phương pháp dạy học và đặc biệt là PPDHTC còn rất mơ
hồ.
Thứ tư: Về cấu trúc giờ học đa số các GV đều làm theo khuôn mẫu
không tạo được điểm nhấn cho tiết học chính vì thế mà dễ gây ra tình trạng
nhàm chán cho bài giảng, các em học sinh không tìm thấy điều gì mới lạ nờn
khụng chú tâm thậm chí thờ ơ với bài giảng của giáo viên.
Những điểm hạn chế nói trên đã làm ảnh hưởng đến tính tích cực nhận
thức cuả học sinh và do đó làm giảm chất lượng học tập bộ môn. Đúng như
đồng chí Phạm Văn Đồng khẳng định: Vỡ sao chất lượng giáo dục phổ
thông chưa tốt. Đó là vì trình độ của GV chưa đủ tốt để dạy tốt Ngoài
ra,cũn nhiều nguyờn nhân khác nữa, nhưng cái chủ yếu, cái có tác dụng
quyết định nhất vẫn là đội ngũ GV chưa đủ trình độ về mọi mặt: Kiến thức,
PP, Kinh nghiệm, nhiệt tình yêu nghề”
luận nhóm và nêu vấn đề có nhiều ưu điểm, nhưng việc áp dụng còn nhiều
khó khăn.
Do viờc vận dụng các PPDH tích cực vào giảng dạy bộ môn này còn
nhiều hạn chế cùng với nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan khác cho
nên
21
Chưa tạo được sự hứng thú trong học tập của HS, Từ đó làm giảm hiệu
quả và chất lượng của tiết học.
• Nhận xét chung:
Qua kết quả điều tra thu được về thực trạng học tập môn GDCD và qua
trò chuyện tâm sự với các em HS, chúng tôi nhận thấy:
- Đa số các em học sinh lớp 10 chưa nhận thức đúng vị trí vai trò tầm
quan trọng việc học tập môn GDCD. Có 65,5%HS cho rằng đó chỉ là môn
học phụ, học cũng được mà không học cũng được.
- Đa số học sinh còn chưa hứng thú trong việc học tập môn GDCD
(54,1%HS). Thậm chí cũn cú một số HS chán học môn học này.
Có 2 nguyên nhân chính dẫn đến thực trạng học sinh không thích học
môn GDCD là do nội dung môn học khó học, khó nhớ(39,6%HS)và do thầy
giảng bài không hấp dẫn(49,2%HS)
- Do nhận thức chưa đúng về vị trí vai trò của bộ môn GDCD và do GV
giảng bài không hấp dẫn lại thêm nội dung môn học khó học, khó nhớ dẫn
đến một thực trạng phổ biến là HS chưa thích học môn GDCD và do vậy kết
quả học tập cũng chưa cao. Đa số HS trường THPT Cẩm thủy III chỉ xếp loại
khá và trung bình (chiếm 96,6%HS)
2.2. Nguyên nhân chính của những tồn tại và hạn chế:
2.2.1. Nguyên nhân chủ quan:
- Một số học sinh yếu kém đó là do các em chưa nhận thức rõ được vai
trò quan trọng của môn giáo dục công dân trong việc hình thành, phát triển
và hoàn thiện cả về mặt tri thức lẫn nhân cách.
Hay nguyên nhân cũng là do khả năng nắm bắt và tiếp thu những tri
đạo đức và lối sống. Mặt khác, tri thức môn học này lại mang tính khái quát
hóa rất cao, vì vậy, đối với HS lớp 10, việc lựa chọn và vận PPDHTC vào
giảng dạy nhằm mang lại mục đích GD cao nhất là điều vô cùng cần thiết.
Vận dụng PPDHTC vào bài giảng GDCD phải đạt được những yêu cầu cơ
23
bản như:Phỏt triển năng lực tư duy, rèn luyện quá trình nắm vững kĩ năng, kĩ
xảo; phối hợp hài hòa giữa các PPDHTC; HS học tập mọt cách tích cực, chủ
động và sáng tạo
Thực tiễn dạy học môn GDCD ở trường THPT Cẩm Thủy III cho thấy,
đa số GV giảng dạy bộ môn đều sử dụng các phương pháp truyền thống, vì
vậy, chưa phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học.
Vấn đề đăt ra là cần nhanh chóng vận dụng các PPDHTC vào dạy học bộ
môn để nâng cao chất lượng học tập môn GDCD, góp phần thực hiện tốt
nhiệm vụ giáo dục toàn diện, giáo dục con người lao động mới trong sự
nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc.
2.2. Vận dụng phương pháp thảo luận nhóm và phương pháp nêu
vấn đề trong việc giảng dạy một số kiến thức cụ thể trong phần đạo đức
môn GDCD lớp 10.
Cũng như phương pháp dạy học của các môn học khác, phương pháp
dạy học môn GDCD phải theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng
tạo của HS hoặc loại bỏ thói quen học tập theo lối thụ động: thầy giảng-trũ
nghe, thầy đọc-trũ chộp, và học thuộc lòng. Vì vậy trong dạy học GV phải
huy động khai thác tối đa kinh nghiệm sống của HS tạo cơ hội cho HS bày tỏ
quan điểm, ý kiến cá nhân về vấn đề đang học, khuyến khích các em nếu
thắc mắc trong khi nghe giảng,đặt ra câu hỏi cho thầy, cho bạn tranh luận,
thảo luận, trao đổi, tạo nên mối quan hệ hợp tác trong giao tiếp giữa thầy và
trò, giữa trò với trò trong quá trình chiếm lĩnh nội dung học tập. Thông qua
thảo luận, tranh luận trong tập thể ý kiến cá nhân được bác bỏ hoặc khẳng
định, HS sẽ nâng cao trình độ nhận thức.
Bài học cần vận dụng vốn hiểu biết kinh nghiệm của mỗi học sinh và cả
III. PHƯƠNG PHÁP – HÌNH THỨC TỔ CHỨC DẠY HỌC
Bài này vừa có tính lý luận vừa có tính thực tiễn vì vậy người dạy sử
dụng phương pháp thuyết trình kết hợp với diễn giảng, đàm thoại.
25