luận văn thạc sĩ Làng nghề truyền thống phục vụ du lịch ở tỉnh Thừa Thiên Huế - Pdf 13

lµng nghÒ truyÒn thèng phôc vô du lÞch
ë tØnh thõa thiªn huÕ
Hµ Néi - 2009
Mục lục
Trang
Mở đầu 1
Chơng 1: một số vấn đề lý luận và thực tiễn về làng
nghề truyền thống phục vụ du lịch 6
1.1. Khái niệm làng nghề truyền thống phục vụ du lịch 6
1.2. Mối quan hệ giữa làng nghề truyền thống và hoạt động du lịch 10
1.3. Kinh nghiệm trong việc khôi phục và phát triển làng nghề truyền
thống phục vụ du lịch ở một số địa phơng và một số nớc 35
Chơng 2: thực trạng của các làng nghề truyền thống
phục vụ du lịch ở tỉnh thừa thiên huế trong
những năm gần đây
44
2.1. Khái quát về du lịch và nhu cầu về hàng hoá, dịch vụ của các
làng nghề truyền thống của du khách ở tỉnh Thừa Thiên Huế 44
2.2. Tình hình hoạt động của các làng nghề truyền thống phục vụ du
lịch ở tỉnh Thừa Thiên Huế 49
Chơng 3: phơng hớng và các giải pháp cơ bản nhằm khôi
phục và phát triển các làng nghề truyền
thống phục vụ du lịch ở tỉnh thừa thiên huế 70
3.1. Phơng hớng khôi phục phát triển các làng nghề truyền thống nói
chung và các làng nghề truyền thống phục vụ du lịch nói riêng ở
tỉnh Thừa Thiên Huế 70
3.2. Các giải pháp cơ bản để khôi phục và phát triển các làng nghề
truyền thống nhằm phục vụ du lịch ở tỉnh Thừa Thiên Huế 86
một số đề xuất và kiến nghị
103
Kết luận

57
Biểu đồ 2.3:
Tình hình hoạt động của các làng nghề truyền thống
phục vụ du lịch từ năm 2000 đến tháng 1 năm 2009
59
MỞ ĐẦU
1. Tớnh cấp thiết của đề tài
Trong tiến trỡnh lịch sử phỏt triển của tỉnh Thừa Thiờn Huế, kể từ khi
nhà Nguyễn chọn đất Huế làm đất định đô, hệ thống làng xó nụng thụn của
Thuận Húa - Phỳ Xuõn lỳc bấy giờ đó cú những chuyển động cựng với sự ra
đời của những phố chợ, bến cảng … đặc biệt nhu cầu trao đổi hàng hóa đó tạo
tiền đề thúc đẩy sự phỏt triển của ngành nghề thủ cụng nghiệp; sau đó quá
trỡnh hỡnh thành và phỏt triển của làng nghề thủ cụng nghiệp cũng đồng thời
là quỏ trỡnh thu hẹp dần kinh tế nụng nghiệp và đổi mới diện mạo nụng thụn
theo huớng nghề và làng nghề gắn liền với hoạt động sản xuất nụng nghiệp
trong nền kinh tế - xó hội nụng thụn Việt Nam truyền thống.
Nghề và làng nghề truyền thống đó gúp phần tạo dựng bản sắc văn hóa
Huế, đóng góp vai trũ quan trọng trong đời sống kinh tế - xó hội, nhất là đối
với cỏc vựng nụng nghiệp, nụng thụn. Mặt khỏc, làng nghề truyền thống gúp
phần vào sự phân công lao động trong nền kinh tế nụng nghiệp Việt Nam
truyền thống thành ba ngành cụng - nụng - thương nghiệp. Cơ cấu kinh tế này
đó thực sự tạo cho làng xó Việt Nam cú thế ổn định lõu dài, vững chắc, thậm
chí cho đến cuối thế kỷ XX đầu thế kỉ XXI với những tiến bộ khoa học cụng
nghệ tác động vào cũng không làm cho nó thay đổi đáng kể. Vỡ vậy, trong xu
thế hội nhập kinh tế và văn hóa giữa cỏc nuớc ngày càng phỏt triển, việc bảo
tồn và phỏt triển các đặc trưng văn hóa của một vựng, một quốc gia là điều vụ
cựng quan trọng, nú vừa giữ gỡn, phỏt triển được truyền thống văn hóa của
dõn tộc để cú thể “ hũa nhập quốc tế nhưng không hũa tan”, vừa gúp phần
tớch cực tạo động lực thúc đẩy xóa đói giảm nghèo nâng cao đời sống cho
dân cư và đổi mới bộ mặt nông thôn, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu lao động và

làm quen với những nghệ nhõn, nụng dõn và cú khi cũn được trực tiếp tham
gia vào cỏc quy trỡnh sản xuất sản phẩm thủ cụng.
Huế là cố đô duy nhất cũn giữ lại gần như nguyên vẹn một tổng thể kinh
đô của triều đại phong kiến cuối cựng ở Việt Nam với cỏc cụng trỡnh kiến
trúc độc đáo được UNESCO cụng nhận là di sản văn hoá thế giới.
Với những ưu ái mà thiên nhiên ban tặng cho Huế thỡ kinh tế du lịch
thực sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn. Tài nguyờn du lịch ở Huế rất
phong phú và đa dạng đó tạo nờn sự đa dạng của nhiều loại hỡnh du lịch
như: tham quan, chữa bệnh, an dưỡng, học tập, thể thao, tín ngưỡng, lễ hội,
làng nghề truyền thống…
Vỡ vậy, tỉnh Thừa Thiờn Huế là một trong những điểm đến của phần lớn
khỏch du lịch trong và ngoài nước và trong những năm gần đây loại hỡnh du lịch
làng nghề truyền thống ở đây ngày càng đặc biệt hấp dẫn đối với du khỏch.
Nghề và làng nghề truyền thống ở Thừa Thiờn Huế ra đời, tồn tại và phỏt
triển luụn gắn liền với những bước thăng trầm của trên 310 năm lịch sử Thuận
Húa - Phỳ Xuõn - Huế hụm nay. Tuy nhiờn, việc khụi phục và phỏt triển cỏc
làng nghề truyền thống ở tỉnh Thừa Thiờn Huế chưa được chỳ trọng và chưa
khai thác hết tiềm năng nhằm đưa vào phục vụ du lịch ở tỉnh này.
Với lý do như vậy nờn tụi chọn “Làng nghề truyền thống phục vụ du
lịch ở tỉnh Thừa Thiờn Huế” làm đề tài luận văn thạc sĩ kinh tế của mỡnh.
2. Tỡnh hỡnh nghiờn cứu
- Đề tài “Đánh giá hiện trạng môi trường làng nghề truyền thống Thừa
Thiờn Huế" thuộc đề tài cấp Nhà nước: “Nghiờn cứu cơ sở khoa học và thực
tiễn cho việc xõy dựng cỏc chớnh sỏch và biện phỏp giải quyết vấn đề môi
trường ở cỏc làng nghề Việt Nam”. Chủ trỡ: TS. Lê Văn Thăng, thuộc khoa
Môi trường, Đại học Khoa học Huế.
- Các đề tài nghiờn cứu cỏc làng nghề truyền thống ở cỏc tỉnh, thành khỏc:
+ Đề tài: “Vốn cho phỏt triển làng nghề ở Hà Tõy”, Nguyễn Văn Công.
+ Đề tài: “Giải phỏp tớn dụng ngõn hàng nhằm thúc đẩy phỏt triển làng
nghề ngoại thành Hà Nội”, Nguyễn Thị Mựi.

4.2. Phạm vi nghiờn cứu
Từ năm 2000 đến nay ở tỉnh Thừa Thiờn Huế.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Dựa trờn những quan điểm cơ bản của kinh tế chớnh trị Mỏc-Lờnin, tư
tưởng Hồ Chớ Minh và quỏn triệt quan điểm của Đảng và Nhà nước về phỏt
triển làng nghề truyền thống và du lịch.
Các phương pháp nghiên cứu chính được sử dụng gồm: Phương pháp
biện chứng, duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mỏc-Lờnin, phương pháp thống kê,
phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp…
6. Những đóng góp của luận văn
- Đóng góp về lý luận
Luận văn được mở đầu bằng việc hệ thống húa cỏc vấn đề lý luận liên
quan đến làng nghề truyền thống. Bản thõn việc đưa ra các đặc thự của làng
nghề gúp phần gợi ý các định hướng, giải phỏp phỏt triển. Cỏc vấn đề lý luận
và thực tiễn trước đây ít được đề cập một cỏch hệ thống cũng được xem xột
và phỏt triển, việc chọn và phõn tớch kinh nghiệm ở các địa phương khác
trong việc khụi phục cỏc làng nghề truyền thống với cỏc mức độ khỏc nhau
tạo điều kiện thuận lợi cho việc đưa ra các giải phỏp cho làng nghề truyền
thống ở tỉnh Thừa Thiờn Huế.
- Đóng góp về thực tiễn cho địa phương
Cỏc giải phỏp cú khả năng ứng dụng thực tiễn cao cũng như được phõn
loại theo cấp độ của tầm quan trọng và cấp thiết tạo ra một hệ thống giải phỏp
liờn kết, cú tớnh logic. Ngoài ra những định hướng đề tài đưa ra tạo điều kiện
cho cụng tỏc hoạch định chiến lược đối với các cơ quan quản lý ở địa phương,
góp phần khụi phục, phỏt triển làng nghề truyền thống phục vụ du lịch ở tỉnh
Thừa Thiờn Huế.
7. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
luận văn 3 chương, 8 tiết.
Chương 1

thủ cụng, nhiều khi cũng là người làm nghề nông. Nhưng do yêu cầu chuyên
môn hóa cao đó tạo ra những người thợ chuyờn sản xuất hàng thủ cụng truyền
thống ngay tại làng nghề hay phố nghề ở nơi khác. Quan niệm này về làng
nghề như vậy vẫn chưa đủ. Khụng phải bất cứ làng nào cú vài ba lũ rốn hay
dăm ba gia đỡnh làm nghề mộc, nghề khảm… đều là làng nghề. Để xác định
làng đó có phải là làng nghề hay khụng, cần xem xột tỷ trọng lao động hay số
hộ làm nghề so với toàn bộ lao động và hộ ở làng hay tỷ trọng thu nhập từ
ngành nghề so với tổng thu nhập của thụn (làng).
Quan niệm thứ ba: Làng nghề là trung tõm sản xuất thủ công, nơi quy tụ
cỏc nghệ nhõn và nhiều hộ gia đỡnh chuyờn tõm làm nghề truyền thống lâu
đời, cú sự liờn kết hỗ trợ trong sản xuất, bỏn sản phẩm theo kiểu phường hội,
kiểu hệ thống doanh nghiệp vừa và nhỏ, và cú cựng tổ nghề. Song ở đây chưa
phản ánh đầy đủ tớnh chất làng nghề; nó như một thực thể sản xuất kinh
doanh tồn tại và phỏt triển lâu đời trong lịch sử, là một đơn vị kinh tế tiểu thủ
cụng nghiệp cú tỏc dụng to lớn đối với đời sống kinh tế - văn hóa- xó hội một
cỏch tớch cực.
Từ những cỏch tiếp cận trờn chỳng ta cú thể thấy khỏi niệm về làng nghề
liên quan đến cỏc nghề thủ cụng cụ thể. Vào thời gian trước đây, khái niệm
làng nghề chỉ bao hàm cỏc nghề thủ cụng nghiệp, cũn ngày nay với xu hướng
trờn thế giới khu vực kinh tế thứ ba đóng vai trũ quan trọng và trở thành
chiếm ưu thế về mặt tỷ trọng thỡ cỏc nghề buụn bỏn dịch vụ trong nông thôn
cũng được xếp vào cỏc làng nghề. Như vậy, trong làng nghề sẽ cú loại làng
chỉ cú một nghề và làng nhiều nghề, tựy theo số lượng ngành nghề thủ cụng
nghiệp và dịch vụ chiếm tỷ ưu thế cú trong làng. Làng một nghề là làng duy
nhất cú một nghề xuất hiện và tồn tại, hoặc cú một nghề chiếm ưu thế tuyệt
đối, cỏc nghề khỏc chỉ có lác đác ở một vài hộ không đáng kể. Làng nhiều
nghề là làng xuất hiện và tồn tại nhiều nghề cú tỷ trọng cỏc nghề chiếm ưu thế
gần như tương đương nhau. Trong nụng thụn Việt Nam trước đây loại làng
một nghề xuất hiện và tồn tại chủ yếu, loại làng nhiều nghề gần đây mới xuất
hiện và có xu hướng phỏt triển mạnh.

được gọi là làng nghề truyền thống hay cổ truyền phải là những làng nghề cú cỏc
nghề thủ cụng truyền thống; được hỡnh thành, tồn tại và phỏt triển lõu đời, được
truyền từ đời này sang đời khỏc, sản xuất tập trung, cú nhiều thế hệ nghệ nhân tài
hoa và đội ngũ thợ lành nghề, sản phẩm mang tớnh tiờu biểu và độc đáo.
Để xác định một làng nghề là làng nghề truyền thống thỡ cần cú những
tiờu thức sau:
- Số hộ và số lao động làm nghề truyền thống ở làng nghề đạt từ 50% trở
lờn so với tổng số hộ và lao động của làng.
- Giỏ trị sản xuất và thu nhập từ ngành nghề truyền thống ở làng đạt trờn
50% tổng giỏ trị sản xuất và thu nhập của làng trong năm.
- Sản phẩm làm ra cú tớnh mỹ nghệ mang đậm nột yếu tố văn hóa và bản
sắc dõn tộc Việt Nam.
- Sản xuất cú quy trỡnh cụng nghệ nhất định, được truyền từ thế hệ này
sang thế hệ khỏc [22].
Như vậy, từ những cỏch tiếp cận trờn, cú thể định nghĩa làng nghề truyền
thống là những thụn làng cú một hay nhiều nghề thủ cụng truyền thống được tỏch
ra khỏi nụng nghiệp để sản xuất kinh doanh và đem lại nguồn thu nhập chiếm chủ
yếu trong năm. Những nghề thủ công đó được truyền từ đời này sang đời khác,
thường là nhiều thế hệ. Cựng với thử thỏch của thời gian, cỏc làng nghề thủ công
này đó trở thành nghề nổi trội, một nghề cổ truyền, tinh xảo, với một tầng lớp thợ
thủ cụng chuyờn nghiệp hay bỏn chuyờn nghiệp đó chuyờn tõm sản xuất, cú quy
trỡnh cụng nghệ nhất định và sống chủ yếu bằng nghề đó. Sản phẩm làm ra cú
tớnh mỹ nghệ và đó trở thành hàng húa trờn thị trường [15, tr.13-15].
1.1.2. Khỏi niệm làng nghề truyền thống phục vụ du lịch
Từ khỏi niệm làng nghề truyền thống đề cập ở trờn, cú thể hiểu làng
nghề truyền thống phục vụ du lịch là cú một khụng gian lónh thổ nông thôn
mang đậm nét văn hóa, lịch sử, cú cỏc nghệ nhõn tiờu biểu thực hiện tổ chức
sản xuất một hoặc một số sản phẩm thủ cụng truyền thống, đồng thời cỏc làng
nghề này cũn cung cấp cỏc dịch vụ phục vụ và thu hỳt khỏch du lịch. [11]
Cần phõn biệt rừ sự khác nhau cơ bản giữa làng nghề truyền thống thông

rất lớn đến phỏt triển du lịch ở nước ta.
Do đó, việc phải khụi phục và phỏt triển cỏc làng nghề truyền thống hiện
nay là rất cần thiết, đóng vai trũ quan trọng trong việc phỏt triển du lịch ở
nước ta, biểu hiện cụ thể là:
Thứ nhất, phỏt triển ngành nghề tiểu thủ cụng nghiệp và làng nghề là một
trong những nhõn tố cú tớnh quyết định bởi vỡ phỏt triển ngành nghề tiểu thủ
cụng nghiệp và làng nghề trong nụng thụn sẽ gúp phần thúc đẩy phỏt triển cơ
sở hạ tầng nụng thụn, cải tạo và giữ gỡn mụi truờng sinh thỏi trong cỏc cộng
đồng dân cư nhất là trong quỏ trỡnh phỏt triển cỏc ngành nghề và làng nghề
truyền thống gắn với du lịch sinh thỏi và du lịch làng nghề, cải thiện và nõng
cao mức sống cho cư dân nông thôn.
Thứ hai, do nhu cầu, thị hiếu của du khỏch về cỏc sản phẩm và dịch vụ
mà cỏc làng nghề truyền thống cung cấp.
Sự phỏt triển của cỏc nghề và cỏc làng nghề truyền thống đó gúp phần
đáp ứng thừa món nhu cầu tiờu dựng một số sản phẩm thiết yếu của xó hội,
đồng thời từng bước đa dạng húa sản phẩm phục vụ du lịch trên địa bàn. Do
mức sống của người dân trong nước ngày được nõng cao cựng với việc phỏt
triển giao lưu văn húa giữa các nước trong quỏ trỡnh hội nhập và mở cửa nờn
nhu cầu hàng thủ cụng mỹ nghệ ngày càng lớn, đặc biệt là cỏc trung tõm du
lịch trong nước và địa phương.
Thứ ba, do sự phỏt triển theo hướng ngày càng đa dạng hoỏ cỏc loại
hỡnh du lịch.
Ngày nay, ngoài những loại hỡnh du lịch cổ điển thỡ du lịch làng nghề là
loại hỡnh du lịch phổ biến trờn thế giới và ở Việt Nam. Nú cú ý nghĩa to lớn
về mặt kinh tế - xó hội, văn hóa và giáo dục. Nhu cầu của du khách theo đó
mà phát triển ngày càng đa dạng, phong phỳ từ sản phẩm đặc trưng của từng
vựng miền, từng làng nghề cho đến dịch vụ phục vụ cho chuyến du lịch….
Vỡ vậy, việc khụi phục và phỏt triển cỏc làng nghề truyền thống cũng là
một trong những nội dung quan trọng nhằm phục vụ và đáp ứng nhu cầu của
du khỏch ngày một phong phú hơn, mặt khỏc tạo ra nhiều sản phẩm mới độc

triển làng nghề truyền thống
Sự phỏt triển của làng nghề và làng nghề truyền thống trên con đường đi
lên sản xuất lớn xó hội chủ nghĩa có tác động to lớn trờn cỏc mặt kinh tế - xó
hội khụng chỉ đối với ngành nghề thủ cụng truyền thống mà cả đối với nhiệm
vụ cụng nghiệp húa hiện đại húa, nụng nghiệp nụng thụn. Mặc dự làng nghề
truyền thống cú vị trớ quan trọng như vậy nhưng trong quá trỡnh cụng nghiệp
húa, hiện đại húa và hội nhập quốc tế nú vẫn cú những thuận lợi và khó khăn
nhất định.
Với xu hướng thị trường húa nền kinh tế, quốc tế húa kinh tế và việc hội
nhập vào nền kinh tế thế giới và khu vực càng tạo điều kiện cho làng nghề truyền
thống phỏt triển theo hướng xuất khẩu thuận lợi hơn. Từ đó làng nghề truyền
thống sẽ chuyển từ thủ cụng nghiệp sang cụng nghiệp vừa và nhỏ hiện đại.
Tuy nhiờn, do chớnh sỏch mở cửa hàng ngoại nhập tràn vào cũng tạo ra
sự cạnh tranh gay gắt hơn, một bộ phận tiểu thủ cụng nghiệp của làng nghề
truyền thống có nguy cơ không cạnh tranh được ngay ở thị trường trong
nước. Đặc biệt đối với một số mặt hàng truyền thống mang đậm bản sắc
văn hóa dân tộc nhưng không được chỳ trọng hiện đại hóa cho nên đó để
mất thị trường nội địa cũng thị trường quốc tế, vớ dụ: hàng sơn mài, thêu
ren, tranh dân gian…
Trong quỏ trỡnh cụng nghiệp húa, hiện đại húa cỏc làng nghề truyền
thống luụn luụn bị cỏc cụng nghệ mới cạnh tranh đe dọa như các làng nghề
đúc đồng đó mất đi khi có đồ nhụm thay thế, làng nghề sản xuất mây tre đan
bị đồ nhựa thay thế, gần đây một số làng tranh dõn gian bị cỏc cụng nghệ in
hiện đại thay thế…
Trong điều kiện mới hiện nay cỏc làng nghề truyền thống được phục hồi
và phỏt triển có xu hướng đổi mới ngành nghề theo nhu cầu của thị trường.
Đồng thời nhiều làng nghề mới xuất hiện trên cơ sở lan tỏa của làng nghề
truyền thống.
Ở nhiều làng nghề truyền thống đó cú xu hướng và đang đưa cơ khí thay
thế một phần lao động thủ công như nghề mộc đó sử dụng máy cưa, bào, máy

tạo và ỏp dụng cụng nghệ tiờn tiến vào sản xuất thỡ mới tồn tại được hoặc
phải làm gia cụng chi tiết phụ tựng cho cụng nghiệp đô thị.
Đối với những làng nghề khai thỏc và sản xuất vật liệu xõy dựng: đõy là
những ngành nghề mới sử dụng nguyờn vật liệu thông thường sẵn cú ở nụng
thụn và nhu cầu xõy dựng ở đây cũn lớn do đó ngành này có khả năng phát
triển ổn định trong những năm tới.
Túm lại, làng nghề truyền thống ở nước ta đang tích cực vận động theo
xu hướng ngày càng mở rộng thị trường tiờu thụ hàng hóa, trên cơ sở đó để
duy trỡ và mở rộng ngành nghề xõy dựng làng nghề truyền thống phự hợp với
thời đại. Ngoài ra cũn tập trung đổi mới cụng nghệ, trang thiết bị cơ khí kết
hợp với cụng nghệ truyền thống để sản phẩm làm ra cú chất lượng ngày càng
cao đáp ứng yờu cầu của thị trường khu vực và quốc tế tạo ra những sản phẩm
truyền thống phục vụ du lịch của đất nước. Tất nhiờn, trong quỏ trỡnh cụng
nghiệp húa, hiện đại húa cỏc làng nghề truyền thống qua sàng lọc của kinh tế
thị trường sẽ cú một số nghề suy thoỏi và một số nghề được phỏt triển lan tỏa
tạo thành xó nghề.
1.2.3. Mối quan hệ giữa làng nghề truyền thống và hoạt động du lịch
Hệ thống làng nghề truyền thống là một trong những nguồn tài nguyờn
du lịch quan trọng của nước ta. Theo cỏc chuyờn gia, tiềm năng du lịch
làng nghề truyền thống Việt Nam hiện nay rất lớn, mỗi làng nghề gắn với
một vùng văn hóa, hệ thống di tớch và truyền thống riêng. Tuy nhiên, để
làng nghề du lịch phỏt triển tương xứng với tiềm năng cũn là cả một quỏ
trỡnh lõu dài.
Điểm chung của cỏc làng nghề truyền thống là thường nằm ở trung tõm
hoặc gần các đô thị lớn, cỏc trục giao thông đường bộ, đường sông, do đó rất
thuận tiện cho việc xõy dựng cỏc tour, tuyến du lịch làng nghề. Hiện nay, cỏc
tỉnh thành như Hà Tây, Hũa Bỡnh, Bắc Ninh, Thừa Thiờn - Huế, Đà Nẵng
đang triển khai mạnh mẽ loại hỡnh du lịch này. Tuy nhiờn, nhỡn chung hiệu
quả cũn chưa cao. Một số làng nghề như gốm Bỏt Tràng, Lụa Vạn Phỳc, mộc
Đồng Kỵ, tranh Đông Hồ, đá Non Nước đó thu hỳt khỏ nhiều du khách,

ta cú truyền thống lâu đời, phỏt triển đa dạng và phong phú, được thể hiện bởi
một số đặc điểm cơ bản sau đây:
Thứ nhất, làng nghề truyền thống phỏt triển đa dạng về quy mô, cơ cấu
ngành nghề và gắn chặt với sản xuất nụng nghiệp.
Cỏc làng nghề truyền thống ở nước ta đều ra đời và tỏch dần từ nụng
nghiệp. Ban đầu, người lao động ở nụng thụn do nhu cầu việc làm và thu nhập
đó làm nghề thủ cụng bờn cạnh làm ruộng, nghề chớnh là làm ruộng, nghề
phụ là nghề thủ cụng. Khi lực lượng sản xuất đó phỏt triển thỡ thủ cụng
nghiệp tỏch ra thành ngành độc lập, vươn lên thành ngành sản xuất chớnh ở
một số làng; song để đảm bảo cuộc sống, người dõn bao giờ cũng làm thờm
nghề nụng hay buụn bỏn hoặc làm thờm nghề khỏc. Sự kết hợp đa nghề này
thường thể hiện trong một làng hay trong từng gia đỡnh bởi vỡ người thợ thủ
cụng vốn là người nụng dõn tỏch ra làm nghề thủ cụng, từ đó nghề thủ cụng
truyền thống ra đời nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt của nụng dõn, nụng
nghiệp và thúc đẩy nhau cựng phỏt triển.
Về cơ cấu ngành nghề đó cú sự thớch ứng với cơ chế thị trường, một số
ngành phỏt triển mạnh như sản xuất vật liệu xõy dựng, chế biến nụng sản-
thực phẩm, cơ kim khí. Có thể nói cơ cấu ngành nghề của cỏc ngành nghề
truyền thống trong vựng rất đa dạng và phong phỳ. Ở các địa phương khác
nhau thỡ tỷ lệ cỏc ngành nghề cũng khỏc nhau do nhu cầu tiờu thụ và tiờu
dựng cũng khỏc nhau.
Về quy mô, đại bộ phận các cơ sở sản xuất kinh doanh trong làng nghề
truyền thống cú quy mụ nhỏ, vốn ớt, bỡnh quõn mỗi hộ gia đỡnh cú vài ba
chục triệu đồng. Tính đặc thự của làng nghề truyền thống là phỏt triển với
nhiều loại mụ hỡnh sản xuất, hỡnh thức tổ chức của các đơn vị sản xuất cũng
mang đậm sắc thỏi nụng nghiệp nông thôn như các hộ, tổ hợp tỏc, hợp tỏc
xó… Trong những điều kiện kinh tế xó hội nhất định ấy, cỏc hỡnh thức tổ
chức sản xuất của làng nghề truyền thống cũng bắt đầu mang dỏng vẻ của
hỡnh thức sản xuất cụng nghiệp đô thị hoặc cỏc khu cụng nghiệp tập trung.
Đó là các công ty, các doanh nghiệp ở nụng thụn. Đặc biệt là trong những

làng nghề kia, nghệ nhõn ở làng nghề này khụng thể thay thế bằng nghệ nhõn
ở làng nghề khỏc. Mặc dự, ở cỏc làng nghề ấy đều cựng làm một nghề và sản
xuất ra cựng một loại sản phẩm.
Sản phẩm thủ cụng truyền thống Việt Nam bao giờ cũng phản ỏnh sõu
sắc tư tưởng tỡnh cảm và quan niệm thẩm mỹ của dõn tộc Việt Nam, bản sắc
văn hóa Việt Nam. Từ những con rồng, phượng, lõn, rựa… chạm trổ ở các
đỡnh chựa, hoa văn trờn cỏc trống đồng, cửu đỉnh, màu men và cỏc họa tiết
trên đồ gốm sứ đến những nột chấm phỏ trờn cỏc bức thờu… tất cả đều mang
vúc dỏng dõn tộc, quê hương, chứa đựng ảnh hưởng về văn hóa tinh thần,
quan niệm về nhân văn, tín ngưỡng tụn giỏo của người Việt chỳng ta. Chớnh
yếu tố tài hoa đậm nột này của sản phẩm thủ cụng truyền thống đó tạo nờn vị
trớ quan trọng của cỏc sản phẩm này trên thương trường và giao lưu quốc tế.
Thứ ba, làng nghề truyền thống cú khả năng giải quyết tốt việc làm, tăng
thu nhập cho người lao động.
Do đặc điểm của làng nghề truyền thống lao động thủ cụng vẫn là chủ
yếu nờn lao động trong cỏc làng nghề truyền thống là những người lao động
thủ cụng cú trỡnh độ, tay nghề tinh xảo, khéo léo, có đầu úc thẩm mỹ và đầy
tớnh sỏng tạo.
Một đặc điểm nổi bật là lao động trong cỏc làng nghề truyền thống chủ
yếu là trong cỏc hộ gia đỡnh (chiếm khoảng 90%), chỉ khoảng 10% nằm ở
cỏc doanh nghiệp. Chớnh vỡ vậy, đó giải quyết được phần lớn lao động nụng
nhàn bằng cỏch thu hỳt họ làm việc ở những công đoạn sơ chế…
Thứ tư, về hỡnh thức tổ chức sản xuất kinh doanh của làng nghề truyền
thống.
Làng nghề truyền thống ở nước ta bờn cạnh nghề làm ruộng cũn cú
những ngành nghề tiểu thủ cụng nghiệp tồn tại lâu đời. Thời kỳ mới hỡnh
thành, quy mụ sản xuất trong cỏc làng nghề truyền thống chủ yếu là hộ gia
đỡnh (huyết thống) gắn với các phường nghề, hội nghề như: phường gốm,
phường mộc, phường đúc đồng…
Trong thời kỳ tập trung quan liờu bao cấp, làng nghề truyền thống được

Trống đồng Ngọc Lũ; tượng Phật nghỡn mắt, nghỡn tay; tranh sơn mài, tranh
lụa, tranh dõn gian khắc trên đỏ, trờn gốm…Đó là những minh chứng cho đời
sống sinh hoạt, cảnh quan thiờn nhiờn và phong tục tập quỏn của dõn tộc ta
qua từng thời kỳ lịch sử.
Cỏc phố cổ của Hà Nội như: Hàng Lược, Hàng Mắm, Hàng Đào, Hàng
Khoai, Hàng Quạt, Hàng Da, Hàng Khay, Hàng Bạc, Hàng Trống, Hàng Sắt,
vv , là nơi mà những người thợ thủ công vùng ven đô vào làm ăn sinh sống.
Cỏc sản phẩm thủ cụng truyền thống Việt Nam vừa phản ỏnh những nét
văn hóa chung của dõn tộc, vừa cú những nột riờng của làng nghề. Ngay cả
người Việt Nam sống ở nước ngoài khi nhớ về quê hương là nhớ ngay đến
dấu ấn đậm nột của mỗi làng nghề với bao sản phẩm độc đáo. Như vậy làng
nghề truyền thống khụng chỉ là những đơn vị kinh tế, thực hiện mục tiờu sản
xuất hàng tiờu dựng và hàng xuất khẩu mà cũn mang nột đặc sắc, biểu trưng
của nền văn hóa dân tộc, văn hóa cộng đồng làng xó Việt Nam nói chung và
vùng ven đô Hà Nội núi riờng.
Ngoài những đặc điểm cơ bản núi trờn thỡ làng nghề truyền thống phục
vụ du lịch cũn cú những đặc thự sau:
Thứ nhất, cú lợi thế về giỏ trị văn hóa lịch sử hay về mặt vị trí địa lí để
thu hỳt khỏch du lịch.
Thứ hai, sản phẩm của cỏc làng nghề này có tính độc đáo riêng có, không
làng nghề nào có được và đặc trưng cho nền văn hóa dân tộc Việt Nam, mang
tớnh mỹ thuật cao do những nghệ nhõn tài hoa làm ra, không được sản xuất
hàng loạt theo cụng nghệ hiện đại.
Thứ ba, cỏc dịch vụ phục vụ du lịch như trưng bày, bán hàng, biểu diễn
quy trỡnh sản xuất, hướng dẫn tham quan, hướng dẫn du khỏch làm những
sản phẩm của làng nghề… là phỏt triển hợp lý phự hợp với nhu cầu cũng như
thị hiếu của du khỏch trong và ngoài nước.
Thứ tư, nơi sản xuất cũng là địa điểm làm du lịch (như là tham quan
trưng bày, mua bán sản phẩm …)
1.2.4.2. Vai trũ của làng nghề truyền thống phục vụ du lịch


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status