MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong tiến trình lịch sử phát triển của tỉnh Thừa Thiên Huế, kể từ khi nhà
Nguyễn chọn đất Huế làm đất định đô, hệ thống làng xã nông thôn của Thuận
Hóa - Phú Xuân lúc bấy giờ đã có những chuyển động cùng với sự ra đời của
những phố chợ, bến cảng … đặc biệt nhu cầu trao đổi hàng hóa đã tạo tiền đề
thúc đẩy sự phát triển của ngành nghề thủ công nghiệp; sau đó quá trình hình
thành và phát triển của làng nghề thủ công nghiệp cũng đồng thời là quá trình
thu hẹp dần kinh tế nông nghiệp và đổi mới diện mạo nông thôn theo huớng
nghề và làng nghề gắn liền với hoạt động sản xuất nông nghiệp trong nền
kinh tế - xã hội nông thôn Việt Nam truyền thống.
Nghề và làng nghề truyền thống đã góp phần tạo dựng bản sắc văn hóa
Huế, đóng góp vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế - xã hội, nhất là đối
với các vùng nông nghiệp, nông thôn. Mặt khác, làng nghề truyền thống góp
phần vào sự phân công lao động trong nền kinh tế nông nghiệp Việt Nam
truyền thống thành ba ngành công - nông - thương nghiệp. Cơ cấu kinh tế này
đã thực sự tạo cho làng xã Việt Nam có thế ổn định lâu dài, vững chắc, thậm
chí cho đến cuối thế kỷ XX đầu thế kỉ XXI với những tiến bộ khoa học công
nghệ tác động vào cũng không làm cho nó thay đổi đáng kể. Vì vậy, trong xu
thế hội nhập kinh tế và văn hóa giữa các nuớc ngày càng phát triển, việc bảo
tồn và phát triển các đặc trưng văn hóa của một vùng, một quốc gia là điều vô
cùng quan trọng, nó vừa giữ gìn, phát triển được truyền thống văn hóa của
dân tộc để có thể “ hòa nhập quốc tế nhưng không hòa tan”, vừa góp phần tích
cực tạo động lực thúc đẩy xóa đói giảm nghèo nâng cao đời sống cho dân cư
và đổi mới bộ mặt nông thôn, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu lao động và cơ cấu
kinh tế nông thôn theo hướng công nghiệp hóa hiện đại hóa.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp - nông thôn phải gắn liền với
quá trình xây dựng nông thôn mới, trong đó phát triển ngành nghề tiểu thủ
công nghiệp và làng nghề là một trong những nhân tố có tính quyết định
1
bởi vì phát triển ngành nghề tiểu thủ công nghiệp và làng nghề trong nông
độc đáo được UNESCO công nhận là di sản văn hoá thế giới.
Với những ưu ái mà thiên nhiên ban tặng cho Huế thì kinh tế du lịch
thực sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn. Tài nguyên du lịch ở Huế rất
phong phú và đa dạng đã tạo nên sự đa dạng của nhiều loại hình du lịch như:
tham quan, chữa bệnh, an dưỡng, học tập, thể thao, tín ngưỡng, lễ hội, làng
nghề truyền thống…
Vì vậy, tỉnh Thừa Thiên Huế là một trong những điểm đến của phần lớn
khách du lịch trong và ngoài nước và trong những năm gần đây loại hình du lịch
làng nghề truyền thống ở đây ngày càng đặc biệt hấp dẫn đối với du khách.
Nghề và làng nghề truyền thống ở Thừa Thiên Huế ra đời, tồn tại và phát
triển luôn gắn liền với những bước thăng trầm của trên 310 năm lịch sử Thuận
Hóa - Phú Xuân - Huế hôm nay. Tuy nhiên, việc khôi phục và phát triển các
làng nghề truyền thống ở tỉnh Thừa Thiên Huế chưa được chú trọng và chưa
khai thác hết tiềm năng nhằm đưa vào phục vụ du lịch ở tỉnh này.
Với lý do như vậy nên tôi chọn “Làng nghề truyền thống phục vụ du
lịch ở tỉnh Thừa Thiên Huế” làm đề tài luận văn thạc sĩ kinh tế của mình.
2. Tình hình nghiên cứu
- Đề tài “Đánh giá hiện trạng môi trường làng nghề truyền thống Thừa
Thiên Huế" thuộc đề tài cấp Nhà nước: “Nghiên cứu cơ sở khoa học và thực
tiễn cho việc xây dựng các chính sách và biện pháp giải quyết vấn đề môi
trường ở các làng nghề Việt Nam”. Chủ trì: TS. Lê Văn Thăng, thuộc khoa
Môi trường, Đại học Khoa học Huế.
- Các đề tài nghiên cứu các làng nghề truyền thống ở các tỉnh, thành khác:
+ Đề tài: “Vốn cho phát triển làng nghề ở Hà Tây”, Nguyễn Văn Công.
+ Đề tài: “Giải pháp tín dụng ngân hàng nhằm thúc đẩy phát triển làng
nghề ngoại thành Hà Nội”, Nguyễn Thị Mùi.
3
+ Đề tài: “Hoạt động kinh doanh du lịch trên địa bàn thủ đô Hà Nội:
Thực trạng và giải pháp”, Nguyễn Thị Thuý Minh.
+ Đề tài: “Mối quan hệ giữa văn hoá và du lịch trong thời kỳ đổi mới ở
Dựa trên những quan điểm cơ bản của kinh tế chính trị Mác-Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh và quán triệt quan điểm của Đảng và Nhà nước về phát
triển làng nghề truyền thống và du lịch.
Các phương pháp nghiên cứu chính được sử dụng gồm: Phương pháp
biện chứng, duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác-Lênin, phương pháp thống kê,
phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp…
6. Những đóng góp của luận văn
- Đóng góp về lý luận
Luận văn được mở đầu bằng việc hệ thống hóa các vấn đề lý luận liên
quan đến làng nghề truyền thống. Bản thân việc đưa ra các đặc thù của làng
nghề góp phần gợi ý các định hướng, giải pháp phát triển. Các vấn đề lý luận
và thực tiễn trước đây ít được đề cập một cách hệ thống cũng được xem xét
và phát triển, việc chọn và phân tích kinh nghiệm ở các địa phương khác
trong việc khôi phục các làng nghề truyền thống với các mức độ khác nhau
tạo điều kiện thuận lợi cho việc đưa ra các giải pháp cho làng nghề truyền
thống ở tỉnh Thừa Thiên Huế.
- Đóng góp về thực tiễn cho địa phương
Các giải pháp có khả năng ứng dụng thực tiễn cao cũng như được phân
loại theo cấp độ của tầm quan trọng và cấp thiết tạo ra một hệ thống giải pháp
liên kết, có tính logic. Ngoài ra những định hướng đề tài đưa ra tạo điều kiện
cho công tác hoạch định chiến lược đối với các cơ quan quản lý ở địa phương,
góp phần khôi phục, phát triển làng nghề truyền thống phục vụ du lịch ở tỉnh
Thừa Thiên Huế.
7. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
luận văn 3 chương, 8 tiết.
5
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
VỀ LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG PHỤC VỤ DU LỊCH
môn hóa cao đã tạo ra những người thợ chuyên sản xuất hàng thủ công truyền
thống ngay tại làng nghề hay phố nghề ở nơi khác. Quan niệm này về làng
nghề như vậy vẫn chưa đủ. Không phải bất cứ làng nào có vài ba lò rèn hay
dăm ba gia đình làm nghề mộc, nghề khảm… đều là làng nghề. Để xác định
làng đó có phải là làng nghề hay không, cần xem xét tỷ trọng lao động hay số
hộ làm nghề so với toàn bộ lao động và hộ ở làng hay tỷ trọng thu nhập từ
ngành nghề so với tổng thu nhập của thôn (làng).
Quan niệm thứ ba: Làng nghề là trung tâm sản xuất thủ công, nơi quy tụ
các nghệ nhân và nhiều hộ gia đình chuyên tâm làm nghề truyền thống lâu
đời, có sự liên kết hỗ trợ trong sản xuất, bán sản phẩm theo kiểu phường hội,
kiểu hệ thống doanh nghiệp vừa và nhỏ, và có cùng tổ nghề. Song ở đây chưa
phản ánh đầy đủ tính chất làng nghề; nó như một thực thể sản xuất kinh doanh
tồn tại và phát triển lâu đời trong lịch sử, là một đơn vị kinh tế tiểu thủ công
nghiệp có tác dụng to lớn đối với đời sống kinh tế - văn hóa- xã hội một cách
tích cực.
Từ những cách tiếp cận trên chúng ta có thể thấy khái niệm về làng nghề
liên quan đến các nghề thủ công cụ thể. Vào thời gian trước đây, khái niệm
làng nghề chỉ bao hàm các nghề thủ công nghiệp, còn ngày nay với xu hướng
trên thế giới khu vực kinh tế thứ ba đóng vai trò quan trọng và trở thành
chiếm ưu thế về mặt tỷ trọng thì các nghề buôn bán dịch vụ trong nông thôn
cũng được xếp vào các làng nghề. Như vậy, trong làng nghề sẽ có loại làng
chỉ có một nghề và làng nhiều nghề, tùy theo số lượng ngành nghề thủ công
nghiệp và dịch vụ chiếm tỷ ưu thế có trong làng. Làng một nghề là làng duy
7
nhất có một nghề xuất hiện và tồn tại, hoặc có một nghề chiếm ưu thế tuyệt
đối, các nghề khác chỉ có lác đác ở một vài hộ không đáng kể. Làng nhiều
nghề là làng xuất hiện và tồn tại nhiều nghề có tỷ trọng các nghề chiếm ưu thế
gần như tương đương nhau. Trong nông thôn Việt Nam trước đây loại làng
một nghề xuất hiện và tồn tại chủ yếu, loại làng nhiều nghề gần đây mới xuất
hiện và có xu hướng phát triển mạnh.
Đây là khái niệm được xem là tương đối đầy đủ bởi vì những làng nghề được
gọi là làng nghề truyền thống hay cổ truyền phải là những làng nghề có các nghề
thủ công truyền thống; được hình thành, tồn tại và phát triển lâu đời, được truyền
từ đời này sang đời khác, sản xuất tập trung, có nhiều thế hệ nghệ nhân tài hoa và
đội ngũ thợ lành nghề, sản phẩm mang tính tiêu biểu và độc đáo.
Để xác định một làng nghề là làng nghề truyền thống thì cần có những
tiêu thức sau:
- Số hộ và số lao động làm nghề truyền thống ở làng nghề đạt từ 50% trở
lên so với tổng số hộ và lao động của làng.
- Giá trị sản xuất và thu nhập từ ngành nghề truyền thống ở làng đạt trên
50% tổng giá trị sản xuất và thu nhập của làng trong năm.
- Sản phẩm làm ra có tính mỹ nghệ mang đậm nét yếu tố văn hóa và bản
sắc dân tộc Việt Nam.
- Sản xuất có quy trình công nghệ nhất định, được truyền từ thế hệ này
sang thế hệ khác [22].
Như vậy, từ những cách tiếp cận trên, có thể định nghĩa làng nghề truyền
thống là những thôn làng có một hay nhiều nghề thủ công truyền thống được tách
ra khỏi nông nghiệp để sản xuất kinh doanh và đem lại nguồn thu nhập chiếm chủ
yếu trong năm. Những nghề thủ công đó được truyền từ đời này sang đời khác,
thường là nhiều thế hệ. Cùng với thử thách của thời gian, các làng nghề thủ công
này đã trở thành nghề nổi trội, một nghề cổ truyền, tinh xảo, với một tầng lớp thợ
9
thủ công chuyên nghiệp hay bán chuyên nghiệp đã chuyên tâm sản xuất, có quy
trình công nghệ nhất định và sống chủ yếu bằng nghề đó. Sản phẩm làm ra có tính
mỹ nghệ và đã trở thành hàng hóa trên thị trường [15, tr.13-15].
1.1.2. Khái niệm làng nghề truyền thống phục vụ du lịch
Từ khái niệm làng nghề truyền thống đề cập ở trên, có thể hiểu làng nghề
truyền thống phục vụ du lịch là có một không gian lãnh thổ nông thôn mang
đậm nét văn hóa, lịch sử, có các nghệ nhân tiêu biểu thực hiện tổ chức sản
xuất một hoặc một số sản phẩm thủ công truyền thống, đồng thời các làng
hoa trong các làng nghề truyền thống… Vì vậy, việc các làng nghề truyền
thống ngày càng mai một, đội ngũ nghệ nhân tài hoa ngày càng giảm, một số
nghề truyền thống mất hẳn,… là điều tất yếu xảy ra. Đây là việc ảnh hưởng
rất lớn đến phát triển du lịch ở nước ta.
Do đó, việc phải khôi phục và phát triển các làng nghề truyền thống hiện
nay là rất cần thiết, đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển du lịch ở
nước ta, biểu hiện cụ thể là:
Thứ nhất, phát triển ngành nghề tiểu thủ công nghiệp và làng nghề là một
trong những nhân tố có tính quyết định bởi vì phát triển ngành nghề tiểu thủ
công nghiệp và làng nghề trong nông thôn sẽ góp phần thúc đẩy phát triển cơ
sở hạ tầng nông thôn, cải tạo và giữ gìn môi truờng sinh thái trong các cộng
đồng dân cư nhất là trong quá trình phát triển các ngành nghề và làng nghề
truyền thống gắn với du lịch sinh thái và du lịch làng nghề, cải thiện và nâng
cao mức sống cho cư dân nông thôn.
Thứ hai, do nhu cầu, thị hiếu của du khách về các sản phẩm và dịch vụ
mà các làng nghề truyền thống cung cấp.
Sự phát triển của các nghề và các làng nghề truyền thống đã góp phần
đáp ứng thõa mãn nhu cầu tiêu dùng một số sản phẩm thiết yếu của xã hội,
đồng thời từng bước đa dạng hóa sản phẩm phục vụ du lịch trên địa bàn. Do
11
mức sống của người dân trong nước ngày được nâng cao cùng với việc phát
triển giao lưu văn hóa giữa các nước trong quá trình hội nhập và mở cửa nên
nhu cầu hàng thủ công mỹ nghệ ngày càng lớn, đặc biệt là các trung tâm du
lịch trong nước và địa phương.
Thứ ba, do sự phát triển theo hướng ngày càng đa dạng hoá các loại hình
du lịch.
Ngày nay, ngoài những loại hình du lịch cổ điển thì du lịch làng nghề là
loại hình du lịch phổ biến trên thế giới và ở Việt Nam. Nó có ý nghĩa to lớn
về mặt kinh tế - xã hội, văn hóa và giáo dục. Nhu cầu của du khách theo đó
mà phát triển ngày càng đa dạng, phong phú từ sản phẩm đặc trưng của từng
nó bảo lưu những tinh hoa nghệ thuật và kỹ thuật truyền thống mang đậm bản
sắc văn hóa dân tộc. Bởi vậy, việc khôi phục, bảo tồn và phát triển các làng
nghề truyền thống là góp phần tích cực, quan trọng vào việc giữ gìn bản sắc
văn hóa dân tộc Việt Nam trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
1.2.2. Xu hướng phát triển của hoạt động du lịch hiện đại và phát
triển làng nghề truyền thống
Sự phát triển của làng nghề và làng nghề truyền thống trên con đường đi
lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa có tác động to lớn trên các mặt kinh tế - xã
hội không chỉ đối với ngành nghề thủ công truyền thống mà cả đối với nhiệm
vụ công nghiệp hóa hiện đại hóa, nông nghiệp nông thôn. Mặc dù làng nghề
truyền thống có vị trí quan trọng như vậy nhưng trong quá trình công nghiệp
hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế nó vẫn có những thuận lợi và khó khăn
nhất định.
Với xu hướng thị trường hóa nền kinh tế, quốc tế hóa kinh tế và việc hội
nhập vào nền kinh tế thế giới và khu vực càng tạo điều kiện cho làng nghề truyền
thống phát triển theo hướng xuất khẩu thuận lợi hơn. Từ đó làng nghề truyền
thống sẽ chuyển từ thủ công nghiệp sang công nghiệp vừa và nhỏ hiện đại.
13
Tuy nhiên, do chính sách mở cửa hàng ngoại nhập tràn vào cũng tạo ra
sự cạnh tranh gay gắt hơn, một bộ phận tiểu thủ công nghiệp của làng nghề
truyền thống có nguy cơ không cạnh tranh được ngay ở thị trường trong
nước. Đặc biệt đối với một số mặt hàng truyền thống mang đậm bản sắc
văn hóa dân tộc nhưng không được chú trọng hiện đại hóa cho nên đã để
mất thị trường nội địa cũng thị trường quốc tế, ví dụ: hàng sơn mài, thêu
ren, tranh dân gian…
Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa các làng nghề truyền
thống luôn luôn bị các công nghệ mới cạnh tranh đe dọa như các làng nghề
đúc đồng đã mất đi khi có đồ nhôm thay thế, làng nghề sản xuất mây tre đan
bị đồ nhựa thay thế, gần đây một số làng tranh dân gian bị các công nghệ in
hiện đại thay thế…
ngành nghề này cần có nhiều ứng dụng cải tiến về kỹ thuật so với truyền
thống để nâng cao chất lượng sản phẩm và hiệu quả trong sản xuất kinh
doanh. Những làng nghề sản xuất ra những sản phẩm này có xu hướng được
khôi phục khai thác và phát triển thành các làng nghề truyền thống phục vụ
du lịch trong tương lai.
Mặt hàng cơ khí sản xuất nông cụ, đúc cán thép: nhu cầu về những mặt
hàng này cho sinh hoạt vẫn rất cần thiết, song đòi hỏi lao động phải được đào
tạo và áp dụng công nghệ tiên tiến vào sản xuất thì mới tồn tại được hoặc phải
làm gia công chi tiết phụ tùng cho công nghiệp đô thị.
Đối với những làng nghề khai thác và sản xuất vật liệu xây dựng: đây là
những ngành nghề mới sử dụng nguyên vật liệu thông thường sẵn có ở nông
thôn và nhu cầu xây dựng ở đây còn lớn do đó ngành này có khả năng phát
triển ổn định trong những năm tới.
Tóm lại, làng nghề truyền thống ở nước ta đang tích cực vận động theo
xu hướng ngày càng mở rộng thị trường tiêu thụ hàng hóa, trên cơ sở đó để
15
duy trì và mở rộng ngành nghề xây dựng làng nghề truyền thống phù hợp với
thời đại. Ngoài ra còn tập trung đổi mới công nghệ, trang thiết bị cơ khí kết
hợp với công nghệ truyền thống để sản phẩm làm ra có chất lượng ngày càng
cao đáp ứng yêu cầu của thị trường khu vực và quốc tế tạo ra những sản phẩm
truyền thống phục vụ du lịch của đất nước. Tất nhiên, trong quá trình công
nghiệp hóa, hiện đại hóa các làng nghề truyền thống qua sàng lọc của kinh tế
thị trường sẽ có một số nghề suy thoái và một số nghề được phát triển lan tỏa
tạo thành xã nghề.
1.2.3. Mối quan hệ giữa làng nghề truyền thống và hoạt động du lịch
Hệ thống làng nghề truyền thống là một trong những nguồn tài nguyên
du lịch quan trọng của nước ta. Theo các chuyên gia, tiềm năng du lịch
làng nghề truyền thống Việt Nam hiện nay rất lớn, mỗi làng nghề gắn với
một vùng văn hóa, hệ thống di tích và truyền thống riêng. Tuy nhiên, để
làng nghề du lịch phát triển tương xứng với tiềm năng còn là cả một quá
làng nghề truyền thống phục vụ du lịch sẽ thực sự hấp dẫn với du khách khi
ngành du lịch các địa phương quan tâm thực hiện những dự án đầu tư đúng
mức, thiết thực, mang tính bền vững. Bên cạnh đó là công tác quảng bá, thu
hút khách và giúp các làng nghề tiêu thụ sản phẩm, duy trì sản xuất.
1.2.4. Đặc điểm, vai trò và các nhân tố ảnh hưởng đến làng nghề
truyền thống phục vụ du lịch
1.2.4.1. Đặc điểm làng nghề truyền thống phục vụ du lịch
Làng nghề truyền thống phục vụ du lịch trước tiên phải có đầy đủ các
đặc điểm làng nghề truyền thống thông thường. Làng nghề truyền thống nước
ta có truyền thống lâu đời, phát triển đa dạng và phong phú, được thể hiện bởi
một số đặc điểm cơ bản sau đây:
Thứ nhất, làng nghề truyền thống phát triển đa dạng về quy mô, cơ cấu
ngành nghề và gắn chặt với sản xuất nông nghiệp.
Các làng nghề truyền thống ở nước ta đều ra đời và tách dần từ nông
nghiệp. Ban đầu, người lao động ở nông thôn do nhu cầu việc làm và thu nhập
17
đã làm nghề thủ công bên cạnh làm ruộng, nghề chính là làm ruộng, nghề phụ
là nghề thủ công. Khi lực lượng sản xuất đã phát triển thì thủ công nghiệp
tách ra thành ngành độc lập, vươn lên thành ngành sản xuất chính ở một số
làng; song để đảm bảo cuộc sống, người dân bao giờ cũng làm thêm nghề
nông hay buôn bán hoặc làm thêm nghề khác. Sự kết hợp đa nghề này thường
thể hiện trong một làng hay trong từng gia đình bởi vì người thợ thủ công vốn
là người nông dân tách ra làm nghề thủ công, từ đó nghề thủ công truyền
thống ra đời nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt của nông dân, nông nghiệp và
thúc đẩy nhau cùng phát triển.
Về cơ cấu ngành nghề đã có sự thích ứng với cơ chế thị trường, một số
ngành phát triển mạnh như sản xuất vật liệu xây dựng, chế biến nông sản-thực
phẩm, cơ kim khí. Có thể nói cơ cấu ngành nghề của các ngành nghề truyền
thống trong vùng rất đa dạng và phong phú. Ở các địa phương khác nhau thì
tỷ lệ các ngành nghề cũng khác nhau do nhu cầu tiêu thụ và tiêu dùng cũng
truyền thống không chỉ đơn giản cung cấp tư liệu tiêu dùng mà còn là nơi trao
đổi tư liệu sản xuất với nhau.
Các sản phẩm của các làng nghề truyền thống đều là sự giao kết giữa
phương pháp thủ công tinh xảo với sự sự sáng tạo nghệ thuật của nghệ nhân,
chính điều này đã tạo ra những đặc thù khác nhau của hàng thủ công truyền
thống như tính riêng lẻ, tính đơn chiếc mạnh hơn tính đồng loạt; chiều sâu
nhiều hơn chiều rộng, mang tính tính trường phái, gia tộc giữ bí quyết hơn là
sự phổ cập, phổ biến rộng rãi; đầy chất trí tuệ trí thức lâu đời. Ngoài ra việc
sử dụng các sản phẩm này đồng thời phải thưởng thức tính nghệ thuật của nó.
Chính sự giao kết này đã tạo nên tính cá biệt và sắc thái riêng của mỗi
làng nghề, nó giải thích tại sao làng nghề cụ thể này không có sản phẩm bằng
làng nghề kia, nghệ nhân ở làng nghề này không thể thay thế bằng nghệ nhân
ở làng nghề khác. Mặc dù, ở các làng nghề ấy đều cùng làm một nghề và sản
xuất ra cùng một loại sản phẩm.
19
Sản phẩm thủ công truyền thống Việt Nam bao giờ cũng phản ánh sâu
sắc tư tưởng tình cảm và quan niệm thẩm mỹ của dân tộc Việt Nam, bản sắc
văn hóa Việt Nam. Từ những con rồng, phượng, lân, rùa… chạm trổ ở các
đình chùa, hoa văn trên các trống đồng, cửu đỉnh, màu men và các họa tiết
trên đồ gốm sứ đến những nét chấm phá trên các bức thêu… tất cả đều mang
vóc dáng dân tộc, quê hương, chứa đựng ảnh hưởng về văn hóa tinh thần,
quan niệm về nhân văn, tín ngưỡng tôn giáo của người Việt chúng ta. Chính
yếu tố tài hoa đậm nét này của sản phẩm thủ công truyền thống đã tạo nên vị
trí quan trọng của các sản phẩm này trên thương trường và giao lưu quốc tế.
Thứ ba, làng nghề truyền thống có khả năng giải quyết tốt việc làm, tăng
thu nhập cho người lao động.
Do đặc điểm của làng nghề truyền thống lao động thủ công vẫn là chủ
yếu nên lao động trong các làng nghề truyền thống là những người lao động
thủ công có trình độ, tay nghề tinh xảo, khéo léo, có đầu óc thẩm mỹ và đầy
tính sáng tạo.
Đồng Kỵ (Từ Sơn- Bắc Ninh); làng gốm sứ Bát Tràng (Hà Nội), làng cơ khí
Vân Chàng (Nam Định), Đồng Sâm (Thái Bình), v.v. Đặc biệt là nghề gốm sứ
sử dụng một cách phổ biến máy nghiền đất, đá, máy phun men, lò điện và bắt
đầu dùng lò gas vào quá trình sản xuất. Tuy nhiên, trong quá trình vận động để
phát triển, các hộ gia đình sẽ xảy ra nhiều vấn đề bất cập như: quy mô sản xuất
không được mở rộng, không có điều kiện để đầu tư lớn cho sản xuất.
Thứ năm, làng nghề truyền thống là một sự kết tinh giá trị văn hóa văn
minh lâu đời của dân tộc.
Từ xa xưa, người nước ngoài hiểu Việt Nam, quan hệ mật thiết với Việt
Nam, trước hết là từ yếu tố văn hóa. Nói như vậy không có nghĩa là chúng ta
coi nhẹ các yếu tố khác. Một đặc điểm nổi bật là những làng thủ công truyền
thống mang chất văn hóa dân tộc rất đậm đà và là những bảo vật vô giá.
21
Trống đồng Ngọc Lũ; tượng Phật nghìn mắt, nghìn tay; tranh sơn mài, tranh
lụa, tranh dân gian khắc trên đá, trên gốm…Đó là những minh chứng cho đời
sống sinh hoạt, cảnh quan thiên nhiên và phong tục tập quán của dân tộc ta
qua từng thời kỳ lịch sử.
Các phố cổ của Hà Nội như: Hàng Lược, Hàng Mắm, Hàng Đào, Hàng
Khoai, Hàng Quạt, Hàng Da, Hàng Khay, Hàng Bạc, Hàng Trống, Hàng Sắt,
vv , là nơi mà những người thợ thủ công vùng ven đô vào làm ăn sinh sống.
Các sản phẩm thủ công truyền thống Việt Nam vừa phản ánh những nét
văn hóa chung của dân tộc, vừa có những nét riêng của làng nghề. Ngay cả
người Việt Nam sống ở nước ngoài khi nhớ về quê hương là nhớ ngay đến
dấu ấn đậm nét của mỗi làng nghề với bao sản phẩm độc đáo. Như vậy làng
nghề truyền thống không chỉ là những đơn vị kinh tế, thực hiện mục tiêu sản
xuất hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu mà còn mang nét đặc sắc, biểu trưng
của nền văn hóa dân tộc, văn hóa cộng đồng làng xã Việt Nam nói chung và
vùng ven đô Hà Nội nói riêng.
Ngoài những đặc điểm cơ bản nói trên thì làng nghề truyền thống phục
vụ du lịch còn có những đặc thù sau:
hơn. Trong khi chưa có điều kiện để phát triển kinh tế trang trại thì việc làng
nghề truyền thống đẩy mạnh sản xuất những mặt hàng may mặc, gốm sứ, đồ
gỗ mỹ nghệ … phục vụ tiêu dùng trong nước và xuất khẩu là rất quan trọng.
Điều quan trọng hơn cả là thời gian qua ở các làng nghề truyền thống đã có
hàng trăm ngàn hộ nông dân chuyển sang phát triển ngành nghề truyền thống
hoặc vừa sản xuất nông nghiệp, vừa sản xuất làm ngành nghề, do đó đã tăng
cường cơ sở vật chất kỹ thuật và năng lực cho kinh tế nông thôn. Việc sản
xuất trong các làng nghề truyền thống đang hướng vào những sản phẩm kỹ
thuật cao, thị trường tiêu thụ rộng khắp, chứng tỏ rằng, sản xuất và lưu thông
hàng hóa của làng nghề truyền thống phát triển mang tính hàng hóa tập trung
khá rõ nét.
23
Chính việc phát triển sản xuất trong các làng nghề truyền thống đã góp
phần quan trọng trong việc đa dạng hóa sản phẩm thủ công truyền thống, kích
thích cầu tiêu dùng, nhất là trong lĩnh vực du lịch. Từ đó có tác động trở lại là
ngày càng làm cho các làng nghề truyền thống phục vụ du lịch phát triển
mạnh hơn, hợp lý hơn theo xu thế của thời đại.
Thứ hai, làng nghề truyền thống phục vụ du lịch giải quyết việc làm một
cách hữu hiệu cho người lao động ở nông thôn.
Trong những năm gần đây, Đảng và Nhà nước đã có nhiều biện pháp để
giải quyết việc làm cho lao động ở nông thôn như: đẩy mạnh việc hợp tác lao
động quốc tế, đưa dân đi xây dựng vùng kinh tế mới, thâm canh tăng vụ, phát
triển chăn nuôi, phát triển thương mại và dịch vụ… Những biện pháp này ít
nhiều đã có tác động tích cực giải quyết một phần công ăn việc làm cho người
lao động ở nông thôn.
Song sản xuất nông nghiệp, bản thân nó không thể có khả năng giải
quyết số lao động dư thừa ở nông thôn hiện nay. Vì vậy việc phát triển làng
nghề truyền thống ở nông thôn không chỉ thu hút lao động ở gia đình, làng xã
mình mà còn thu hút được nhiều lao động từ các địa phương khác đến làm
thuê mà còn kéo theo nhiều nghề dịch vụ khác phát triển, tạo nhiều công ăn
động, từ lao động thời vụ nông nhàn trên độ tuổi hay dưới độ tuổi lao động,
trẻ em vừa học vừa tham gia sản xuất dưới hình thức học nghề hay giúp việc
(lực lượng này chiếm một tỷ lệ đáng kể trong tổng số lao động làng nghề).
Bên cạnh đó, chính việc phát triển các làng nghề truyền thống tạo việc
làm tại chỗ sẽ là tiền đề để thực hiện “ly nông bất ly hương”, đóng vai trò
quan trọng trong việc hạn chế di dân tự do ra các trung tâm đô thị, thành phố
góp phần giữ vững ổn định an ninh trật tự xã hội.
Thứ tư, làng nghề truyền thống phục vụ du lịch góp phần tăng thu nhập, cải
thiện đời sống dân cư ở nông thôn và xây dựng nông thôn mới văn minh, hiện đại.
25