LUẬN VĂN: Làng nghề truyền thống phục vụ du lịch ở tỉnh Thừa Thiên Huế pot - Pdf 15


LUẬN VĂN:

Làng nghề truyền thống phục vụ du lịch
ở tỉnh Thừa Thiên Huế MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong tiến trình lịch sử phát triển của tỉnh Thừa Thiên Huế, kể từ khi nhà Nguyễn
chọn đất Huế làm đất định đô, hệ thống làng xã nông thôn của Thuận Hóa - Phú Xuân lúc
bấy giờ đã có những chuyển động cùng với sự ra đời của những phố chợ, bến cảng … đặc
biệt nhu cầu trao đổi hàng hóa đã tạo tiền đề thúc đẩy sự phát triển của ngành nghề thủ
công nghiệp; sau đó quá trình hình thành và phát triển của làng nghề thủ công nghiệp
cũng đồng thời là quá trình thu hẹp dần kinh tế nông nghiệp và đổi mới diện mạo nông
thôn theo huớng nghề và làng nghề gắn liền với hoạt động sản xuất nông nghiệp trong
nền kinh tế - xã hội nông thôn Việt Nam truyền thống.
Nghề và làng nghề truyền thống đã góp phần tạo dựng bản sắc văn hóa Huế, đóng
góp vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế - xã hội, nhất là đối với các vùng nông
nghiệp, nông thôn. Mặt khác, làng nghề truyền thống góp phần vào sự phân công lao
động trong nền kinh tế nông nghiệp Việt Nam truyền thống thành ba ngành công - nông -
thương nghiệp. Cơ cấu kinh tế này đã thực sự tạo cho làng xã Việt Nam có thế ổn định

hóa lâu đời và cách sáng tạo sản phẩm thủ công đặc trưng ở mỗi vùng.
Nhiều du khách nước ngoài đã rất thích thú khi tham gia các tour du lịch làng nghề.
Họ từng cho biết lý do thích thăm làng nghề ở Việt Nam vì được ngắm nhìn phong cảnh
làng quê yên bình, được tìm hiểu về các vị tổ nghề, làm quen với những nghệ nhân, nông
dân và có khi còn được trực tiếp tham gia vào các quy trình sản xuất sản phẩm thủ công.
Huế là cố đô duy nhất còn giữ lại gần như nguyên vẹn một tổng thể kinh đô của
triều đại phong kiến cuối cùng ở Việt Nam với các công trình kiến trúc độc đáo được
UNESCO công nhận là di sản văn hoá thế giới.
Với những ưu ái mà thiên nhiên ban tặng cho Huế thì kinh tế du lịch thực sự trở
thành ngành kinh tế mũi nhọn. Tài nguyên du lịch ở Huế rất phong phú và đa dạng đã
tạo nên sự đa dạng của nhiều loại hình du lịch như: tham quan, chữa bệnh, an dưỡng,
học tập, thể thao, tín ngưỡng, lễ hội, làng nghề truyền thống…

Vì vậy, tỉnh Thừa Thiên Huế là một trong những điểm đến của phần lớn khách du lịch
trong và ngoài nước và trong những năm gần đây loại hình du lịch làng nghề truyền thống ở
đây ngày càng đặc biệt hấp dẫn đối với du khách.
Nghề và làng nghề truyền thống ở Thừa Thiên Huế ra đời, tồn tại và phát triển luôn
gắn liền với những bước thăng trầm của trên 310 năm lịch sử Thuận Hóa - Phú Xuân -
Huế hôm nay. Tuy nhiên, việc khôi phục và phát triển các làng nghề truyền thống ở tỉnh
Thừa Thiên Huế chưa được chú trọng và chưa khai thác hết tiềm năng nhằm đưa vào
phục vụ du lịch ở tỉnh này.
Với lý do như vậy nên tôi chọn “Làng nghề truyền thống phục vụ du lịch ở tỉnh
Thừa Thiên Huế” làm đề tài luận văn thạc sĩ kinh tế của mình.
2. Tình hình nghiên cứu
- Đề tài “Đánh giá hiện trạng môi trường làng nghề truyền thống Thừa Thiên Huế"
thuộc đề tài cấp Nhà nước: “Nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc xây dựng
các chính sách và biện pháp giải quyết vấn đề môi trường ở các làng nghề Việt Nam”.
Chủ trì: TS. Lê Văn Thăng, thuộc khoa Môi trường, Đại học Khoa học Huế.
- Các đề tài nghiên cứu các làng nghề truyền thống ở các tỉnh, thành khác:
+ Đề tài: “Vốn cho phát triển làng nghề ở Hà Tây”, Nguyễn Văn Công.

Thiên Huế, từ đó để có những đề xuất nhằm khôi phục và phát triển các làng nghề truyền
thống này.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Từ năm 2000 đến nay ở tỉnh Thừa Thiên Huế.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Dựa trên những quan điểm cơ bản của kinh tế chính trị Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh và quán triệt quan điểm của Đảng và Nhà nước về phát triển làng nghề truyền
thống và du lịch.
Các phương pháp nghiên cứu chính được sử dụng gồm: Phương pháp biện chứng,
duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác-Lênin, phương pháp thống kê, phương pháp phân tích,
phương pháp tổng hợp…
6. Những đóng góp của luận văn

- Đóng góp về lý luận
Luận văn được mở đầu bằng việc hệ thống hóa các vấn đề lý luận liên quan đến làng
nghề truyền thống. Bản thân việc đưa ra các đặc thù của làng nghề góp phần gợi ý các
định hướng, giải pháp phát triển. Các vấn đề lý luận và thực tiễn trước đây ít được đề cập
một cách hệ thống cũng được xem xét và phát triển, việc chọn và phân tích kinh nghiệm
ở các địa phương khác trong việc khôi phục các làng nghề truyền thống với các mức độ
khác nhau tạo điều kiện thuận lợi cho việc đưa ra các giải pháp cho làng nghề truyền
thống ở tỉnh Thừa Thiên Huế.
- Đóng góp về thực tiễn cho địa phương
Các giải pháp có khả năng ứng dụng thực tiễn cao cũng như được phân loại theo cấp
độ của tầm quan trọng và cấp thiết tạo ra một hệ thống giải pháp liên kết, có tính logic.
Ngoài ra những định hướng đề tài đưa ra tạo điều kiện cho công tác hoạch định chiến
lược đối với các cơ quan quản lý ở địa phương, góp phần khôi phục, phát triển làng nghề
truyền thống phục vụ du lịch ở tỉnh Thừa Thiên Huế.
7. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn 3
chương, 8 tiết.

là người làm nghề nông. Nhưng do yêu cầu chuyên môn hóa cao đã tạo ra những người
thợ chuyên sản xuất hàng thủ công truyền thống ngay tại làng nghề hay phố nghề ở nơi
khác. Quan niệm này về làng nghề như vậy vẫn chưa đủ. Không phải bất cứ làng nào có
vài ba lò rèn hay dăm ba gia đình làm nghề mộc, nghề khảm… đều là làng nghề. Để xác
định làng đó có phải là làng nghề hay không, cần xem xét tỷ trọng lao động hay số hộ
làm nghề so với toàn bộ lao động và hộ ở làng hay tỷ trọng thu nhập từ ngành nghề so
với tổng thu nhập của thôn (làng).
Quan niệm thứ ba: Làng nghề là trung tâm sản xuất thủ công, nơi quy tụ các nghệ
nhân và nhiều hộ gia đình chuyên tâm làm nghề truyền thống lâu đời, có sự liên kết hỗ
trợ trong sản xuất, bán sản phẩm theo kiểu phường hội, kiểu hệ thống doanh nghiệp vừa
và nhỏ, và có cùng tổ nghề. Song ở đây chưa phản ánh đầy đủ tính chất làng nghề; nó

như một thực thể sản xuất kinh doanh tồn tại và phát triển lâu đời trong lịch sử, là một
đơn vị kinh tế tiểu thủ công nghiệp có tác dụng to lớn đối với đời sống kinh tế - văn hóa-
xã hội một cách tích cực.
Từ những cách tiếp cận trên chúng ta có thể thấy khái niệm về làng nghề liên quan
đến các nghề thủ công cụ thể. Vào thời gian trước đây, khái niệm làng nghề chỉ bao hàm
các nghề thủ công nghiệp, còn ngày nay với xu hướng trên thế giới khu vực kinh tế thứ
ba đóng vai trò quan trọng và trở thành chiếm ưu thế về mặt tỷ trọng thì các nghề buôn
bán dịch vụ trong nông thôn cũng được xếp vào các làng nghề. Như vậy, trong làng nghề
sẽ có loại làng chỉ có một nghề và làng nhiều nghề, tùy theo số lượng ngành nghề thủ
công nghiệp và dịch vụ chiếm tỷ ưu thế có trong làng. Làng một nghề là làng duy nhất có
một nghề xuất hiện và tồn tại, hoặc có một nghề chiếm ưu thế tuyệt đối, các nghề khác
chỉ có lác đác ở một vài hộ không đáng kể. Làng nhiều nghề là làng xuất hiện và tồn tại
nhiều nghề có tỷ trọng các nghề chiếm ưu thế gần như tương đương nhau. Trong nông
thôn Việt Nam trước đây loại làng một nghề xuất hiện và tồn tại chủ yếu, loại làng nhiều
nghề gần đây mới xuất hiện và có xu hướng phát triển mạnh.
Vậy, làng nghề là gì?
Làng nghề là một cụm dân cư sinh sống trong một thôn (làng) có một hay một số
nghề được tách ra khỏi nông nghiệp để sản xuất kinh doanh độc lập. Thu nhập từ các

tổng số hộ và lao động của làng.
- Giá trị sản xuất và thu nhập từ ngành nghề truyền thống ở làng đạt trên 50% tổng
giá trị sản xuất và thu nhập của làng trong năm.
- Sản phẩm làm ra có tính mỹ nghệ mang đậm nét yếu tố văn hóa và bản sắc dân tộc
Việt Nam.
- Sản xuất có quy trình công nghệ nhất định, được truyền từ thế hệ này sang thế hệ
khác [22].
Như vậy, từ những cách tiếp cận trên, có thể định nghĩa làng nghề truyền thống là những
thôn làng có một hay nhiều nghề thủ công truyền thống được tách ra khỏi nông nghiệp để sản
xuất kinh doanh và đem lại nguồn thu nhập chiếm chủ yếu trong năm. Những nghề thủ công
đó được truyền từ đời này sang đời khác, thường là nhiều thế hệ. Cùng với thử thách của thời

gian, các làng nghề thủ công này đã trở thành nghề nổi trội, một nghề cổ truyền, tinh xảo, với
một tầng lớp thợ thủ công chuyên nghiệp hay bán chuyên nghiệp đã chuyên tâm sản xuất, có
quy trình công nghệ nhất định và sống chủ yếu bằng nghề đó. Sản phẩm làm ra có tính mỹ
nghệ và đã trở thành hàng hóa trên thị trường [15, tr.13-15].
1.1.2. Khái niệm làng nghề truyền thống phục vụ du lịch
Từ khái niệm làng nghề truyền thống đề cập ở trên, có thể hiểu làng nghề truyền
thống phục vụ du lịch là có một không gian lãnh thổ nông thôn mang đậm nét văn hóa,
lịch sử, có các nghệ nhân tiêu biểu thực hiện tổ chức sản xuất một hoặc một số sản phẩm
thủ công truyền thống, đồng thời các làng nghề này còn cung cấp các dịch vụ phục vụ và
thu hút khách du lịch. [11]
Cần phân biệt rõ sự khác nhau cơ bản giữa làng nghề truyền thống thông thường hay làng
nghề thương mại và làng nghề truyền thống phục vụ du lịch ở chỗ làng nghề truyền thống
phục vụ du lịch có lợi thế thu hút khách du lịch (có giá trị văn hóa lịch sử, thuận tiện về mặt vị
trí địa lý…) và các dịch vụ phục vụ du lịch (trưng bày, bán hàng, biểu diễn quy trình sản xuất,
hướng dẫn tham quan…).
Ở đây, cần phải hiểu rõ khái niệm làng nghề truyền thống phục vụ du lịch và du lịch
làng nghề. Du lịch làng nghề là loại hình du lịch khai thác giá trị văn hóa vật thể, các sản
phẩm do nghề thủ công của các làng nghề tạo ra như một đối tượng tài nguyên du lịch có giá

phát triển các ngành nghề và làng nghề truyền thống gắn với du lịch sinh thái và du lịch
làng nghề, cải thiện và nâng cao mức sống cho cư dân nông thôn.
Thứ hai, do nhu cầu, thị hiếu của du khách về các sản phẩm và dịch vụ mà các làng
nghề truyền thống cung cấp.
Sự phát triển của các nghề và các làng nghề truyền thống đã góp phần đáp ứng thõa
mãn nhu cầu tiêu dùng một số sản phẩm thiết yếu của xã hội, đồng thời từng bước đa
dạng hóa sản phẩm phục vụ du lịch trên địa bàn. Do mức sống của người dân trong nước
ngày được nâng cao cùng với việc phát triển giao lưu văn hóa giữa các nước trong quá
trình hội nhập và mở cửa nên nhu cầu hàng thủ công mỹ nghệ ngày càng lớn, đặc biệt là
các trung tâm du lịch trong nước và địa phương.

Thứ ba, do sự phát triển theo hướng ngày càng đa dạng hoá các loại hình du lịch.
Ngày nay, ngoài những loại hình du lịch cổ điển thì du lịch làng nghề là loại hình du
lịch phổ biến trên thế giới và ở Việt Nam. Nó có ý nghĩa to lớn về mặt kinh tế - xã hội,
văn hóa và giáo dục. Nhu cầu của du khách theo đó mà phát triển ngày càng đa dạng,
phong phú từ sản phẩm đặc trưng của từng vùng miền, từng làng nghề cho đến dịch vụ
phục vụ cho chuyến du lịch….
Vì vậy, việc khôi phục và phát triển các làng nghề truyền thống cũng là một trong
những nội dung quan trọng nhằm phục vụ và đáp ứng nhu cầu của du khách ngày một
phong phú hơn, mặt khác tạo ra nhiều sản phẩm mới độc đáo, đặc trưng riêng có của từng
làng nghề để phục vụ du khách… Qua đó, thương hiệu du lịch Việt Nam được quảng bá
với các nước trong khu vực và trên thế giới.
Thứ tư, giải quyết việc làm cho lao động ở các vùng nông thôn
Sự khôi phục, phát triển các làng nghề truyền thống đã thu hút được hàng ngàn lao
động nông thôn có việc làm ổn định, tăng thu nhập cho các hộ lao động, nâng cao đời
sống cho cư dân nông thôn tại các địa phương nói riêng và trên cả nước nói chung.
Trong điều kiện hiện nay, ở nông thôn đất đai canh tác ngày càng ít, nguồn vốn hạn
hẹp… do đó, lượng lao động dư thừa ngày càng lớn. Vì vậy, phát triển làng nghề truyền
thống ở nông thôn là biện pháp hữu hiệu để giải quyết việc làm cho người lao động. Việc
phát triển làng nghề truyền thống ở nông thôn với nhiều ngành nghề phong phú với nhiều

nguy cơ không cạnh tranh được ngay ở thị trường trong nước. Đặc biệt đối với một số
mặt hàng truyền thống mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc nhưng không được chú
trọng hiện đại hóa cho nên đã để mất thị trường nội địa cũng thị trường quốc tế, ví dụ:
hàng sơn mài, thêu ren, tranh dân gian…
Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa các làng nghề truyền thống luôn luôn
bị các công nghệ mới cạnh tranh đe dọa như các làng nghề đúc đồng đã mất đi khi có đồ
nhôm thay thế, làng nghề sản xuất mây tre đan bị đồ nhựa thay thế, gần đây một số làng
tranh dân gian bị các công nghệ in hiện đại thay thế…

Trong điều kiện mới hiện nay các làng nghề truyền thống được phục hồi và phát
triển có xu hướng đổi mới ngành nghề theo nhu cầu của thị trường. Đồng thời nhiều làng
nghề mới xuất hiện trên cơ sở lan tỏa của làng nghề truyền thống.
Ở nhiều làng nghề truyền thống đã có xu hướng và đang đưa cơ khí thay thế một
phần lao động thủ công như nghề mộc đã sử dụng máy cưa, bào, máy mộc vạn năng;
nghề làm bún, bánh đa đã làm bằng máy; ở làng dệt phần lớn các gia đình đều chuyển
sang dệt bằng máy.
Vì vậy, trong quá tình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế làng nghề
truyền thống vẫn tồn tại và phát triển nhưng cần cải tiến cho phù hợp với yêu cầu của thị
trường, cụ thể là:
Ở những làng nghề chế biến nông lâm thủy sản thì đây là làng nghề có những
mặt hàng tương đối thông dụng mà kỹ thuật và công nghiệp hiện đại dần dần thay
thế nhất là lĩnh vực chế biến lương thực, thực phẩm. Trong tương lai, ở các ngành
này sản xuất thủ công như cũ sẽ không có triển vọng phát triển mạnh như sản xuất
rượu, bia, nước mắm… xuất phát từ tình hình thực tế nguồn nguyên liệu, công nghệ
chế biến nông sản tập trung chủ yếu trong các làng nghề là chế biến lương thực, thực
phẩm, rau quả, bánh kẹo… nhưng các máy móc trang bị cho lĩnh vực này là cũ kĩ lạc
hậu, do vậy cần đổi mới, áp dụng ngay kỹ thuật hiện đại và công nghệ sinh học với
quy mô vừa và nhỏ để chế biến nông, lâm, hải sản, đặc biệt là chế biến lương thực,
thực phẩm nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm, đảm bảo vệ sinh công nghiệp, đồng
thời phát huy các ngành nghề chế biến truyền thống trong vùng nhằm đáp ứng nhu

thống Việt Nam hiện nay rất lớn, mỗi làng nghề gắn với một vùng văn hóa, hệ thống
di tích và truyền thống riêng. Tuy nhiên, để làng nghề du lịch phát triển tương xứng
với tiềm năng còn là cả một quá trình lâu dài.
Điểm chung của các làng nghề truyền thống là thường nằm ở trung tâm hoặc gần
các đô thị lớn, các trục giao thông đường bộ, đường sông, do đó rất thuận tiện cho việc
xây dựng các tour, tuyến du lịch làng nghề. Hiện nay, các tỉnh thành như Hà Tây, Hòa
Bình, Bắc Ninh, Thừa Thiên - Huế, Đà Nẵng đang triển khai mạnh mẽ loại hình du lịch

này. Tuy nhiên, nhìn chung hiệu quả còn chưa cao. Một số làng nghề như gốm Bát
Tràng, Lụa Vạn Phúc, mộc Đồng Kỵ, tranh Đông Hồ, đá Non Nước đã thu hút khá
nhiều du khách, nhưng vẫn chỉ ở mức độ tự phát.
Nguyên nhân trước hết là thiếu sự phối hợp giữa các ngành liên quan trong xây
dựng, quy hoạch du lịch làng nghề. Sự biến động của thị trường, khó khăn trong cạnh
tranh, tiêu thụ hàng hóa khiến nhiều làng nghề chỉ còn hoạt động cầm chừng, không tạo
được môi trường du lịch có sức hút mạnh. Bên cạnh đó, các yếu tố về cơ sở hạ tầng, vệ
sinh môi trường cảnh quan cũng cần được chú trọng.
Thực tế hiện nay, du khách muốn đến tận làng nghề để tham quan, tìm hiểu về các
vị tổ nghề hoặc danh nhân văn hóa. Và hơn thế, nhiều người muốn tận tay tham gia vào
quá trình sản xuất ra sản phẩm ấy, thậm chí đó là một sản phẩm theo ý tưởng, mẫu thiết
kế riêng của du khách. Đáp ứng được những nhu cầu đó, các làng nghề nước ta sẽ là điểm
dừng chân thú vị và độc đáo của du khách trong nước lẫn quốc tế, bởi đó là sẽ là kỷ niệm
thú vị với họ, tránh sự nhàm chán, đơn điệu cho du khách.
Trong khai thác du lịch làng nghề, các đơn vị đưa khách đến cần thực hiện phân
chia lợi nhuận thu được qua các hình thức đóng góp xây dựng đối với cộng đồng làng
nghề và trả lương cho những nghệ nhân, thợ thủ công ở các cơ sở để họ yên tâm với
nghề. Đồng thời, nên bố trí một hệ thống dịch vụ, bán sản phẩm, đồ lưu niệm cho du
khách, giúp tăng thu nhập cho nhân dân trong vùng.
Việc phát triển các làng nghề truyền thống có lợi thế về du lịch thành các làng nghề
truyền thống phục vụ du lịch sẽ thực sự hấp dẫn với du khách khi ngành du lịch các địa
phương quan tâm thực hiện những dự án đầu tư đúng mức, thiết thực, mang tính bền

tổ chức sản xuất của làng nghề truyền thống cũng bắt đầu mang dáng vẻ của hình thức
sản xuất công nghiệp đô thị hoặc các khu công nghiệp tập trung. Đó là các công ty, các
doanh nghiệp ở nông thôn. Đặc biệt là trong những năm gần đây, do nhu cầu của thị
trường còn xuất hiện những nghề mới như chế biến nông sản, thực phẩm, sản xuất vật
liệu xây dựng và xây dựng…

Về trình độ kỹ thuật - công nghệ, đã có sự đan xen kết hợp yếu tố truyền thống với
yếu tố hiện đại trên cơ sở tận dụng tiềm năng và lợi thế lao động của mỗi địa phương,
đồng thời kết hợp tay nghề cao với công cụ cơ giới hóa, hiện đại hóa và áp dụng công
nghệ tiên tiến và sản xuất như thiết bị chế biến lương thực, thực phẩm, công nghệ sinh
học…
Thứ hai, sản phẩm của các làng nghề truyền thống mang tính đơn chiếc và tính mỹ
thuật cao.
Mỗi một sản phẩm là một tác phẩm văn hóa nghệ thuật và văn hóa tinh thần kết tinh
trong văn hóa vật thể. Quá trình sản xuất tuân theo công nghệ truyền thống và thường
nhạy bén với thị trường trong việc đổi mới mẫu mã, chất lượng và có điều kiện linh hoạt
thay đổi hướng sản xuất. Nhờ bám sát thị trường, am hiểu thị hiếu nên các mặt hàng của
làng nghề truyền thống được cải tiến nhanh chóng và đáp ứng nhu cầu của người tiêu
dùng, sản phẩm của họ ngày càng chiếm ưu thế trên thị trường trong nước và quốc tế.
Đây là nét nổi trội mang tính cách tân của làng nghề truyền thống. Mỗi một sản phẩm là
một tác phẩm nghệ thuật, thể hiện rất rõ trên những bức chạm khảm bằng vàng bạc, thêu
ren và những bộ gốm sứ cao cấp… Hơn nữa, các làng nghề truyền thống không chỉ đơn
giản cung cấp tư liệu tiêu dùng mà còn là nơi trao đổi tư liệu sản xuất với nhau.
Các sản phẩm của các làng nghề truyền thống đều là sự giao kết giữa phương pháp
thủ công tinh xảo với sự sự sáng tạo nghệ thuật của nghệ nhân, chính điều này đã tạo ra
những đặc thù khác nhau của hàng thủ công truyền thống như tính riêng lẻ, tính đơn
chiếc mạnh hơn tính đồng loạt; chiều sâu nhiều hơn chiều rộng, mang tính tính trường
phái, gia tộc giữ bí quyết hơn là sự phổ cập, phổ biến rộng rãi; đầy chất trí tuệ trí thức lâu
đời. Ngoài ra việc sử dụng các sản phẩm này đồng thời phải thưởng thức tính nghệ thuật
của nó.

dần “Đội ngành nghề” hay “Hợp tác xã thủ công nghiệp” hoạt động kém hiệu quả không
tồn tại được nữa.
Từ khi bước vào cơ chế mới, quy mô sản xuất trở về với mô hình truyền thống là
hộ gia đình, đồng thời xuất hiện các doanh nghiệp tư nhân, công ty cổ phần, các hình

thức hợp tác xã kiểu mới…Trên cơ sở các hình thức sở hữu này, các doanh nghiệp,
các hợp tác xã có bước phát triển và được pháp luật thừa nhận. Chính cơ chế đổi mới
đã tạo điều kiện thuận lợi để khuyến khích đa dạng hóa các hình thức tổ chức sản xuất
kinh doanh trong làng nghề truyền thống. Tuy nhiên, trong những năm qua, hình thức
sản xuất kinh doanh theo hộ gia đình vẫn còn chiếm ưu thế ở các làng nghề truyền
thống, có nơi lên tới 90%.
Hiện nay, trong quá trình phát triển đi lên sản xuất cơ giới hóa, kế thừa và phát huy
kinh nghiệm chuyển từ hợp tác xã thủ công nghiệp lên trình độ hợp tác xã tiểu công
nghiệp, các hộ sản xuất kinh doanh trong làng nghề truyền thống vẫn tiếp tục đẩy mạnh,
đẩy nhanh trang bị cơ sở vật chất cho sản xuất như: làng dệt lụa Vạn Phúc (Hà Tây); làng
rèn Đa Hội, làng mộc mỹ nghệ Đồng Kỵ (Từ Sơn- Bắc Ninh); làng gốm sứ Bát Tràng (Hà
Nội), làng cơ khí Vân Chàng (Nam Định), Đồng Sâm (Thái Bình), v.v. Đặc biệt là nghề
gốm sứ sử dụng một cách phổ biến máy nghiền đất, đá, máy phun men, lò điện và bắt đầu
dùng lò gas vào quá trình sản xuất. Tuy nhiên, trong quá trình vận động để phát triển, các
hộ gia đình sẽ xảy ra nhiều vấn đề bất cập như: quy mô sản xuất không được mở rộng,
không có điều kiện để đầu tư lớn cho sản xuất.
Thứ năm, làng nghề truyền thống là một sự kết tinh giá trị văn hóa văn minh lâu đời
của dân tộc.
Từ xa xưa, người nước ngoài hiểu Việt Nam, quan hệ mật thiết với Việt Nam, trước
hết là từ yếu tố văn hóa. Nói như vậy không có nghĩa là chúng ta coi nhẹ các yếu tố khác.
Một đặc điểm nổi bật là những làng thủ công truyền thống mang chất văn hóa dân tộc rất
đậm đà và là những bảo vật vô giá. Trống đồng Ngọc Lũ; tượng Phật nghìn mắt, nghìn
tay; tranh sơn mài, tranh lụa, tranh dân gian khắc trên đá, trên gốm…Đó là những minh
chứng cho đời sống sinh hoạt, cảnh quan thiên nhiên và phong tục tập quán của dân tộc ta
qua từng thời kỳ lịch sử.

động du lịch.
Làng nghề truyền thống phục vụ du lịch nói riêng luôn huy động được các nguồn
lực sẵn có ở nông thôn như: tài nguyên thiên nhiên, nguồn nguyên liệu, phế phẩm của

nông nghiệp được huy động vào quá trình sản xuất kinh doanh và khai thác một cách có
hiệu quả nguồn vốn trong nhân dân, cơ sở vật chất kỹ thuật và những kỹ năng, kỹ xảo của
người lao động. Trên cơ sở đó đẩy mạnh được hoạt động sản xuất nhằm tạo ra ngày càng
nhiều hàng hóa có chất lượng tốt, phục vụ đắc lực cho tiêu dùng trong nước và cho xuất
khẩu tại chỗ thông qua hoạt động du lịch.
Ngày nay, sản xuất của làng nghề truyền thống phát triển theo hướng chuyên môn
hóa, đa dạng hóa sản phẩm đã làm cho các làng nghề năng động hơn. Trong khi chưa có
điều kiện để phát triển kinh tế trang trại thì việc làng nghề truyền thống đẩy mạnh sản
xuất những mặt hàng may mặc, gốm sứ, đồ gỗ mỹ nghệ … phục vụ tiêu dùng trong nước
và xuất khẩu là rất quan trọng. Điều quan trọng hơn cả là thời gian qua ở các làng nghề
truyền thống đã có hàng trăm ngàn hộ nông dân chuyển sang phát triển ngành nghề
truyền thống hoặc vừa sản xuất nông nghiệp, vừa sản xuất làm ngành nghề, do đó đã tăng
cường cơ sở vật chất kỹ thuật và năng lực cho kinh tế nông thôn. Việc sản xuất trong các
làng nghề truyền thống đang hướng vào những sản phẩm kỹ thuật cao, thị trường tiêu thụ
rộng khắp, chứng tỏ rằng, sản xuất và lưu thông hàng hóa của làng nghề truyền thống
phát triển mang tính hàng hóa tập trung khá rõ nét.
Chính việc phát triển sản xuất trong các làng nghề truyền thống đã góp phần quan
trọng trong việc đa dạng hóa sản phẩm thủ công truyền thống, kích thích cầu tiêu dùng,
nhất là trong lĩnh vực du lịch. Từ đó có tác động trở lại là ngày càng làm cho các làng
nghề truyền thống phục vụ du lịch phát triển mạnh hơn, hợp lý hơn theo xu thế của thời
đại.
Thứ hai, làng nghề truyền thống phục vụ du lịch giải quyết việc làm một cách hữu
hiệu cho người lao động ở nông thôn.
Trong những năm gần đây, Đảng và Nhà nước đã có nhiều biện pháp để giải quyết
việc làm cho lao động ở nông thôn như: đẩy mạnh việc hợp tác lao động quốc tế, đưa dân
đi xây dựng vùng kinh tế mới, thâm canh tăng vụ, phát triển chăn nuôi, phát triển thương

hoạt động sản xuất kinh doanh. Mặt khác, do đặc điểm của các làng nghề sử dụng
phương pháp sản xuất thủ công là chủ yếu, nơi sản xuất cũng chính là nơi ở của người lao

động. Vì vậy, có khả năng tận dụng và thu hút được nhiều lao động, từ lao động thời vụ
nông nhàn trên độ tuổi hay dưới độ tuổi lao động, trẻ em vừa học vừa tham gia sản xuất
dưới hình thức học nghề hay giúp việc (lực lượng này chiếm một tỷ lệ đáng kể trong tổng
số lao động làng nghề).
Bên cạnh đó, chính việc phát triển các làng nghề truyền thống tạo việc làm tại chỗ
sẽ là tiền đề để thực hiện “ly nông bất ly hương”, đóng vai trò quan trọng trong việc hạn
chế di dân tự do ra các trung tâm đô thị, thành phố góp phần giữ vững ổn định an ninh
trật tự xã hội.
Thứ tư, làng nghề truyền thống phục vụ du lịch góp phần tăng thu nhập, cải thiện đời
sống dân cư ở nông thôn và xây dựng nông thôn mới văn minh, hiện đại.
Việc cải thiện và nâng cao đời sống nhân dân chỉ có thể thực hiện được trên cơ sở
ổn định việc làm và nâng cao thu nhập. Ở những vùng nông thôn có nghề và làng nghề
truyền thống phát triển đều thể hiện sự giàu có hơn hẳn vùng thuần nông. Thu nhập từ
ngành nghề tiểu thủ công nghiệp chiếm tỷ lệ lớn trong tổng thu nhập đã đem lại cho
người dân ở đây cuộc sống đầy đủ hơn cả về vật chất lẫn tinh thần.
Khi làng nghề truyền thống và làng nghề mới phát triển đã xuất hiện một số người
mạnh dạn rời bỏ nông nghiệp (rời ruộng không rời làng) để làm nghề. Đây chính là cơ sở
vững chắc của việc nâng cao đời sống vật chất tinh thần cho người lao động. Ở những
làng nghề có uy tín, nhiều hộ gia đình hàng năm tích lũy được hàng trăm triệu đồng. Thu
nhập từ ngành nghề ngày càng cao, đời sống người làm nghề được cải thiện, những biểu
hiện tiêu cực trong xã hội từ đó mà giảm dần.
Do vậy, sự phát triển của các làng nghề truyền thống trong nông thôn không những
tự bản thân nó yêu cầu phải có kết cấu hạ tầng kỹ thuật phát triển mà nó còn kích thích
phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật và nâng cao dân trí ở nông thôn, thúc đẩy quá trình xây
dựng nông thôn mới văn minh, hiện đại và thu dần khoảng cách giữa thành thị với nông
thôn.
Thứ năm, làng nghề truyền thống phục vụ du lịch góp phần đa dạng hóa kinh tế

Trích đoạn Dự bỏo cỏc nhõn tố cú tỏc động đến việc khụi phục và phỏt triển làng nghề truyền thống ở tỉnh Thừa Thiờn Huế Dự bỏo về cỏc yếu tố kinh tế Dự bỏo về tiến trỡnh đụ thị húa Dự bỏo về thị trường cho cỏc sản phẩm, hàng húa của cỏc làng nghề truyền thống ở tỉnh Thừa Thiờn Huế trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế Dự bỏo một số yếu tố khỏc
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status