Một số kinh nghiệm trong giảng dạy từ ngữ môn ngữ văn từ trong tác phẩm trung đại việt nam - Pdf 13


PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NHƯ THANH
TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ CÁN KHÊ
MỘT SỐ KINH NGHIỆM DẠY TỪ NGỮ
TRONG TÁC PHẨM VĂN HỌC TRUNG ĐẠI VIỆT NAM
Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ
Người thực hiện: Lê Thanh Hưng
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường THCS Cán Khê
SKKN thuộc lĩnh vực (môn): Ngữ văn
NHƯ THANH NĂM 2014

I. ĐẶT VẤN ĐỀ:
Văn học trung đại là một bộ phận quan trọng trong chương trình Ngữ văn bậc
trung học cơ sở. Văn học trung đại Việt Nam bắt đầu từ thế kỷ thứ X đến hết thế
kỷ XIX, nhiều tác phẩm đạt đến mức điêu luyện, tinh xảo về nghệ thuật và nội
dung, đã góp phần không nhỏ về mọi mặt cho nền văn học hiện đại sau này. Vì
vậy, việc giảng dạy từ ngữ trong giờ văn thời kì này rất quan trọng và cần thiết,
không những làm cho học sinh cảm thụ được cái hay, cái đẹp của tác phẩm văn
chương mà còn góp phần vào việc rèn luyện kỹ năng sử dụng ngôn ngữ cho học
sinh, cung cấp cho học sinh một số vốn kiến thức về một thời kì lịch sử hào hùng,
oanh liệt của dân tộc Việt Nam, đồng thời cũng cung cấp cho học sinh một số vốn
từ ngữ cơ bản để vận dụng trong giao tiếp hàng ngày và trong viết văn.
Việc giảng dạy từ ngữ trong Văn học trung đại bên cạnh một số thuận lợi vẫn
còn có không ít những khó khăn. Làm thế nào để cho giờ dạy tác phẩm văn học
trung đại đạt chất lượng, hiệu quả ? Giáo viên cần phải chọn những từ ngữ nào để
giảng dạy cho học sinh? Dạy thế nào để học sinh cảm thụ được hết cái hay, cái đẹp
của tác phẩm trung đại này? Đó còn là một điều nan giải.
Ở trường THCS Cán Khê hiện nay, tình trạng học sinh học đến phần văn học
trung đại có chiều hướng lơ là, không thích thú, điều này có nhiều lí do như khó
hiểu, khó thuộc, khó phân tích và phải nắm vững điều kiện, hoàn cảnh lịch sử…

cái đẹp của những áng văn chương bất hủ của dân tộc.
B. Thực trạng vấn đề dạy và học môn Ngữ văn ở trường THCS:
1. Thuận lợi:
Trong nhiều năm trở lại đây, các phương pháp dạy học theo hướng tích cực
đã được chú trọng (kể cả việc ứng dụng công nghệ thông tin). Nhất là từ khi thực
hiện chương trình thay SGK mới. Việc đổi mới chương trình và phương pháp
giảng dạy khiến cho giáo viên phải đổi mới cách dạy học, đầu tư nhiều hơn trong
giảng dạy. Trong những năm qua, Phòng giáo dục và đào tạo Như Thanh cũng rất
quan tâm đến chất lượng và hiệu quả giờ dạy, cụ thể là tổ chức những chuyên đề
cho giáo viên; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra; phát động phong trào viết
đề tài, sáng kiến kinh nghiệm; tổ chức thi giáo viên dạy giỏi điều đó đã từng
bước nâng cao chất lượng dạy và học ở các nhà trường.
2. Thực trạng của Giáo viên và học sinh
Tại trường THCS Cán Khê, thư viện còn quá sơ sài, tài liệu tham khảo cho
môn ngữ văn hầu như không có, đặc biệt sách viết về các tác phẩm văn học thời
trung đại lại càng thiếu, kể cả không có từ điển Tiếng Việt . Bản thân GV cũng
còn nhiều lúng túng khi khai thác các tác phẩm văn học cổ nhất là về mặt từ ngữ
khi bắt gặp những vấn đề khó.
Về học sinh, ý thức học tập của một số em còn chưa tốt, còn lơ là, ít chú trọng
học môn Văn, nhất là đối với phần Văn học trung đại do còn có nhiều chỗ khó, từ
ngữ thì phải nắm rõ cả hai phần dịch nghĩa (trong văn xuôi, trong thơ) và dịch
thơ.
Một là, văn học trung đại có nhiều từ ngữ cổ, học sinh ít gặp các từ này trong
văn học hiện đại và các em không hiểu nghĩa của từ. Mà muốn hiểu cái hay, cái
đẹp của một tác phẩm thì trước hết phải hiểu từ ngữ đó. Trong SGK có phần chú
giải các từ ngữ khó nhưng chưa giải thích hết được, vẫn còn nhiều thiếu sót. Do
vậy, điều này có ảnh hưởng đến khả năng cảm thụ của học sinh.
Hai là, trong văn học trung đại có nhiều tác phẩm viết bằng chữ Hán do vậy có
nhiều từ gốc Hán. Vì có nhiều từ gốc Hán nên gây cho học sinh ít ham thích đọc
các tác phẩm này, một phần là do từ ngữ khó hiểu, một phần là do không quen

phân tích kỹ, đó là đoạn: “Ta thường tới bữa quên ăn ta cũng vui lòng”. Tại sao
lại lựa chọn đoạn này? Bởi đây là đoạn văn thể hiện một cách sâu sắc tấm lòng
yêu nước, căm thù giặc, lo lắng vì dân, vì nước của Hưng Đạo Vương. Đoạn này
có tác dụng khích lệ lòng yêu nước và tinh thần chiến đấu của các tướng sĩ thời ấy
đồng thời cũng có tác dụng giáo dục lòng yêu nước cho học sinh thời nay.
Vậy khi giảng dạy bài hịch này ta chọn hình ảnh nào? Ngoài hình ảnh tiêu biểu
của vị chủ tướng như “quên ăn, mất ngủ, ruột đau như cắt, nước mắt đầm
đìa chỉ căm tức chưa xả thịt lột da nuốt gan uống máu quân thù” giáo viên cần
tập trung đến hình ảnh: “nửa đêm vỗ gối”. Có một vấn đề giáo viên cần biết “gối”
ở đây không phải là “đầu gối”, cũng không phải là gối kê đầu, gối đầu khi nằm.
Mà gối này là gối xếp, bọc bằng vải điều, có nhiều tầng. Thời xưa, quan lại hoặc
nhà quyền quý hay dùng. Cái gối đó để cho người ngồi bắt chéo chân lên sập gụ
kê tay và tựa lưng vào (ngày nay không ai dùng gối này nữa). Nếu hiểu rõ hình
ảnh này, học sinh mới thấy được hình ảnh “nửa đêm vỗ gối” thật là đẹp và gây
nhiều xúc động. Đó là hình ảnh Trần Quốc Tuấn thức suốt đêm thâu, tựa gối suy
nghĩ, lo lắng, băn khoăn vì việc nước. Ngoài hình ảnh này, động từ “vỗ” còn cho
ta tưởng tượng ra được nỗi căm giận của vị chủ tướng đối với kẻ thù xâm lược.
Ví dụ 2:
Dạy bài “Nước Đại Việt ta” (lớp 8 tiết 97), giáo viên cần tập trung giải thích
kỹ từ “nhân nghĩa” trong câu mở đầu của bài cáo “Việc nhân nghĩa cốt ở yên
dân”. Tư tưởng nhân nghĩa bản thân nó chỉ là một sự kế thừa, một sự phát huy để
đến Nguyễn Trãi lần đầu tiên trở thành một đạo lý. “Nhân nghĩa” vốn là một khái
niệm, một sản phẩm của Nho giáo. Nó đóng khung trong một phạm trù hẹp, phạm

vi ứng xử của con người với con người, chủ yếu là trong đạo vua tôi của người
quân tử.
Đến Nguyễn Trãi lần đầu tiên khái niệm “nhân nghĩa” được mở rộng ra, nâng
cao hơn, đến cái đích tột cùng là “cốt ở yên dân”. Khái niệm “nhân nghĩa” lúc này
không dừng lại ở mối quan hệ giữa cái riêng với cái chung nữa mà then chốt chủ
yếu là sự nghiệp giữ nước, “yên dân”. Vì vậy, “nhân nghĩa” là nguyên lý cơ bản

yếu tố đó. Đúng là một thủ pháp nghệ thuật đầy sáng tạo. Người đọc có cảm giác
câu thơ bảy chữ bỗng trở nên chật chội bởi năm chi tiết: cỏ, cây, đá, lá, hoa và hai
lần từ “chen” đặt vào giữa chúng. Người đọc hình dung người đến Đèo Ngang như
cũng phải chen chân trong cái um tùm đến rợn ngợp của một vùng thiên nhiên
đầy hoang dã đó. Tác giả của bài thơ đã rất thành công trong việc giới thiệu
một Đèo Ngang vào buổi hoàng hôn. Ví dụ 2:
Dạy văn bản “Cảnh ngày xuân” (lớp 9 tiết 29), cần phân tích các từ “non”,
“xanh”, “trắng”, “điểm” trong hai câu thơ:
Cỏ non xanh tận chân trời
Cành lê trắng điểm một vài bông hoa.
ở đây tác giả đã tiếp thu cách thức miêu tả cảnh mùa xuân của văn học cổ
Trung Quốc, vận dụng thi liệu cổ “Phương thảo liên thiên bích. Lê chi sổ điểm
hoa” (Cỏ thơm liền với trời xanh. Trên cành lê có mấy bông hoa). Mùa xuân trong
thơ Tố Như cũng có cỏ, trời xanh, cành lê và mấy bông hoa như mùa xuân trong
thơ cổ Trung Quốc nhưng trong thơ mình, tác giả đã sáng tạo bằng thể thơ lục bát
miêu tả cảnh cỏ non trải dài nơi chân trời, thể hiện tính chất mới mẻ, tinh khôi,
đầy sức sống của mùa xuân, sử dụng thêm tính từ “non”, “xanh”, “trắng”, động từ
“điểm” là những từ miêu tả có tính chất tạo hình đã tạo ra bức tranh xuân tươi đẹp.
Động từ “điểm” còn có tác dụng giúp người đọc hình dung cảnh vật trở nên sinh
động, có hồn chứ không tĩnh tại. Tính từ “trắng” làm cho bức tranh xuân nổi hẳn
lên.
1.3. Dạy tác phẩm qua bản dịch
Giáo viên cần lưu ý trở lại nguyên bản. Chỗ nào chưa dịch sát thì chỉnh lại
giảng cho rõ ràng, thỏa đáng.
Ví dụ:
Khi dạy bài “Sông núi nước Nam” (lớp 7 tiết 17) có câu “Sông núi nước Nam
vua Nam ở”, giáo viên trở lại nguyên bản “Nam quốc sơn hà Nam đế cư” và phân

nô đang gắn bó với quyền lợi của đất nước, của nhân dân. Trần Hưng Đạo đã nêu
những gương xả thân vì lí tưởng phong kiến như vậy nhằm kích thích tinh thần
chiến đấu vì lí tưởng của các nghĩa sĩ.
Ví dụ 2:
Trong Truyện Kiều của Nguyễn Du, khi giảng dạy đoạn trích “Chị em Thúy
Kiều”, (Lớp 9 tiết 28) cần giảng điển cố “nghiêng nước nghiêng thành”, tác giả
lấy ý tứ từ điển cố “nhất cố khuynh thành, tái cố khuynh quốc” (một lần quay lại,
tướng giữ thành bị mất thành, quay lại lần nữa, nhà vua mất nước). Câu thơ của
Nguyễn Du tạo sự súc tích, có sức gợi lớn, nó còn gợi cho ta liên tưởng tới nụ
cười của Bao Tự, cái liếc mắt của Điêu Thuyền, một chút nũng nịu của Dương
Quý Phi, cái nhăn mặt của Tây Thi, hay một nét sầu não của Chiêu Quân – những
người đã từng làm xiêu đổ bao thành trì và triều đại phong kiến Trung Quốc. Tác
giả ngầm so sánh Kiều cũng có sắc đẹp như các mĩ nhân ấy.
2. Một vài kinh nghiệm giảng dạy từ ngữ trong từng loại thể của văn học
trung đại:
Văn chương trung đại có nhiều loại thể. Mỗi loại thể có một đặc điểm, phong
cách ngôn ngữ riêng. Giáo viên cần nắm vững những đặc điểm đó mới có nội
dung phân tích từ ngữ thích hợp với từng loại thể. Trong chương trình Văn học
trung đại ở trương THCS có những loại thể sau:
- Thơ Đương luật,
- Truyện thơ Nôm,
- Văn cổ (truyện, hịch, cáo, chiếu, tấu),
- Ngoài ra còn có thể thơ song thất lục bát, thơ lục bát.
2.1. Dạy thơ Đường luật
Ta thường gặp trong chương trình Trung học cơ sở các bài thơ Đường luật thất
ngôn bát cú, thất ngôn tứ tuyệt của: Trần Quang Khải, Trần Nhân Tông, Hồ Xuân
Hương, Bà Huyện Thanh Quan, Nguyễn Khuyến
ở thơ Đường luật, các từ ngữ được đặt trong hệ thống niêm luật chặt chẽ. Thơ
thất ngôn bát cú chỉ gói gọn trong tám câu, bảy chữ, năm mươi sáu tiếng. Các
tiếng đó được cấu trúc thành tám câu theo trật tự sóng đôi hai câu một. Chính đặc

ở thơ Đường luật được Việt hóa nhiều khi không tuân thủ mọi quy tắc niêm
luật, giáo viên cần lưu ý để giảng giải cho học sinh.
Ví dụ:
Khi phân tích bài “Qua Đèo Ngang” (lớp 7 tiết 29) ta cần giảng giải đảo ngữ
trong hai câu thực:
Lom khom dưới núi tiều vài chú,
Lác đác bên sông chợ mấy nhà.
Từ láy “lom khom”, “lác đác” được đảo ra đầu câu đã làm nổi bật được hình
ảnh cúi người cong lưng xuống của mấy chú tiều và hình ảnh thưa thớt của mấy
nhà chợ bên sông. Điều này làm tăng thêm vẻ hoang vắng ở Đèo Ngang, có con
người đấy nhưng vừa ít ỏi, vừa nhỏ bé, họ như bị chìm lút đi dưới bóng núi và ở
bên kia sông còn có vài túp lều tranh rời rạc cách xa nhau gợi cho người đọc một
cảm giác buồn tẻ, mênh mang, vắng lặng.
Trong thơ Đường luật còn sử dụng phép đối. Phép đối không chỉ làm cho câu
thơ có vẻ của sự cân đối mà còn có tác dụng tạo nghĩa mới mà các từ ngữ đó nếu
nằm riêng rẽ, không đối nhau sẽ không tạo ra được. Khi phân tích từ ngữ cần làm
sáng rõ hơn tín hiệu đó.
Ví dụ:
Trong bài “Qua Đèo Ngang” (Lớp 7 tiết 29), hai câu luận sử dụng phép đối rất
chỉnh:
Nhớ nước đau lòng con quốc quốc
Thương nhà mỏi miệng cái gia gia.

Phép đối làm cho giọng thơ có âm điệu du dương, trầm bổng của khúc nhạc
rừng, của khúc nhạc lòng người lữ khách. Nghệ thuật đối kết hợp với nghệ thuật
đảo ngữ, lối chơi chữ, phép nhân hóa và cách dùng điển cố một cách điêu luyện,
tài tình thể hiện được cái vắng lặng trên đỉnh Đèo Ngang trong khoảnh khắc hoàng
hôn đồng thời còn thể hiện được nỗi nhớ kinh kì Thăng Long thân thuộc của nữ sĩ.
Cũng như phép đảo ngữ, phép đối không có trong chương trình Ngữ văn THCS
nhưng khi dạy, giáo viên cũng nên mở rộng kiến thức cho học sinh để các em hiểu

Khác nào Triệu Tử phá vòng Đương Dương”
Đây là đoạn trích trong bài “Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga” (Lớp 9
tiết 38 - 39). Tác giả sử dụng các từ ngữ: ghé lại, bẻ cây, xông vô, tả đột hữu xông
miêu tả trận giao chiến không cân sức giữa Lục Vân Tiên và bọn cướp. Nhà thơ
Nguyễn Đình Chiểu không miêu tả tỉ mỉ trận đánh mà chỉ dùng ngôn ngữ kể
chuyện, kể ngắn gọn bằng mấy dòng thơ, một câu so sánh và dăm ba từ đặc sắc

nêu trên để kể việc Lục Vân Tiên chiến đấu vì người dân gặp nạn, cứu dân trừ ác
xuất phát từ lòng nhân. Giản dị vô tư mà đẹp đẽ biết bao!
b. Phân tích từ ngữ, ngôn ngữ truyện thơ Nôm với tư cách là từ ngữ của thơ,
ngôn ngữ của thơ
Phân tích từ ngữ, ngôn ngữ truyện thơ Nôm với tư cách là từ ngữ của thơ, ngôn
ngữ của thơ tức là phân tích biện pháp tu từ, từ láy, từ có tính biểu cảm và từ nhiều
nghĩa Phân tích từ ngữ gắn với phân tích hình ảnh thơ thể hiện tâm trạng cùng
cảm xúc của tác giả
2.3. Dạy văn cổ (truyện, hịch, cáo, chiếu ):
a. Đối với việc dạy truyện:
ở lớp 6 có hai truyện trung đại được học đó là truyện “Con hổ có nghĩa” và
truyện “Thầy thuốc giỏi cốt nhất ở tấm lòng”. ở chương trình lớp 9 có truyện
“Chuyện người con gái Nam Xương”. Trong truyện trung đại, trình độ xây dựng
cốt truyện còn đơn giản. Cần phân tích tính cách nhân vật chủ yếu qua lời kể của
người dẫn truyện và qua hành động, ngôn ngữ đối thoại của nhân vật cũng có
nghĩa là giáo viên nên chú ý phân tích các từ ngữ kể chuyện của tác giả, ngôn ngữ
đối thoại của nhân vật.
Ví dụ:
Dạy bài “Thầy thuốc giỏi cốt nhất ở tấm lòng” (lớp 6 tiết 65). Đây là loại
truyện có cách viết gần với cách ghi chép sự việc (ký). Ghi chép truyện thật lịch
sử thường mang tính chất giáo huấn. Khi phân tích truyện này cần chú ý đến ngôn
ngữ nhân vật. Cách diễn đạt lời nói của nhân vật có khả năng chứa đựng nhiều ý
nghĩa tư tưởng buộc người đọc phải suy nghĩ. Trong truyện, khối lượng lời văn

vàng”, “vét của kho”, tác giả liệt kê rất cụ thể hành vi ngạo mạn vi phạm chủ
quyền quốc gia dân tộc Đại Việt của bọn sứ giả phương Bắc. Các hình ảnh ẩn dụ
“cú diều”, “dê chó”, “hổ đói” tác giả đã cho người đọc thấy rõ chúng không phải
là con người đại diện cho một quốc gia, một dân tộc nữa mà chỉ là loài ác thú gian
manh. Các từ ngữ ấy thể hiện rõ thái độ căm thù của Trần Quốc Tuấn với bọ giặc
xâm lược. Hình ảnh đẹp nhất trong bài hịch là đoạn: “Ta thường tới bữa quên
ăn ta cũng vui lòng”. Lòng căm thù giặc của Trần Quốc Tuấn không chỉ dừng
lại ở thái độ u uất, đau xót, trăn trở mà còn dâng lên đến mức cao hơn, quyết liệt
hơn: “chỉ căm tức chưa xả thịt, lột da, nuốt gan, uống máu quân thù”. Các động từ
“xả, lột, nuốt, uống” rồi những điển tích “trăm thân, nghìn xác” gây xúc động lòng
người, tạo được sự đồng cảm của các tướng sĩ. Bài văn thuộc thể loại văn thư quân
sự nhưng lời lẽ không chỉ đanh thép mà còn mềm mại, thắt buộc, kích động, đằng
sau lý lẽ đanh thép ấy, mệnh lệnh dứt khoát ấy ẩn chứa một tấm lòng ưu ái và tin
tưởng
của một vị chủ tướng.
c. Đối với việc dạy thể cáo:
Trong chương trình lớp 8 tiết 97 có học bài “Bình Ngô đại Cáo”. Với thể loại
này cần phân tích ngôn ngữ chính luận và ngôn ngữ đặc tả vì đặc trưng của thể
loại cáo như chúng ta đã biết là sử dụng ngôn ngữ chính luận. ở lớp 8 chỉ học phần
đầu có tên là “Nước Đại Việt ta”. Khi hướng dẫn học sinh tìm hiểu văn bản, giáo
viên cho học sinh tìm hiểu từ “nhân nghĩa” (như đã nêu ở trên). Suy rộng câu văn
của Nguyễn Trãi và tìm hiểu cuộc khởi nghĩa Lam Sơn ta hiểu hai chữ “nhân
nghĩa” này mang một triết lý sâu sắc. Vì thương người mà chiến đấu, vì ý nghĩ
thương dân mà đánh giặc. Qua đó, ta hiểu tư tưởng nhân nghĩa vô cùng cao đẹp, là
nguồn gốc của sức mạnh dân tộc. Nguyễn Trãi đã đứng trên tầm cao của thời đại,
phát ngôn cho triết lý nhân nghĩa Đại Việt. Ngoài ra cũng cần nhấn mạnh cho học
sinh hiểu việc tác giả dùng từ “văn hiến”. Cần hỏi học sinh tại sao tác giả lại đặt từ
“văn hiến” lên vị trí hàng đầu so với các yếu tố khác để xác định độc lập, chủ
quyền dân tộc. Ta có thể hiểu, đặt trong bất cứ hoàn cảnh nào thì yếu tố “văn hiến”
cũng là yếu tố cơ bản nhất để xác định tư cách tồn tại của một dân tộc. Thời đại đó

trữ tình thể hiện trong bài chiếu. Bộc bạch trực tiếp tâm tư, mong muốn của mình
với tâm hồn cởi mở, người ban chiếu đã tìm đến sự giao cảm, đồng lòng của thần
dân trong nước. Những câu: “Trẫm rất đau xót về việc đó”, “Trẫm muốn dựa vào
sự thuận lợi của đất ấy để định chỗ ở. Các khanh nghĩ thế nào?” cho thấy thái độ
của Lý Công Uẩn là rất đau xót cho muôn dân phải sống nơi chật hẹp, vạn vật
không thích nghi, triều đại ngắn ngủi, đất nước không phát triển thịnh vượng. Từ
đó, tác giả bày tỏ thái độ dứt khoát về việc phải dời đô. Ngôn ngữ đối thoại có tính
chất trao đổi ấy đã tạo sự đồng cảm giữa mệnh lệnh của vua với thần dân. Nhờ đó
mà bài chiếu có sức thuyết phục.
Nói tóm lại, mỗi thể văn cổ đều có những đặc trưng riêng, khi giảng dạy các
từ ngữ trong từng thể loại, giáo viên cần chú ý đến những đặc trưng cơ bản đó để
giúp học sinh tiếp thu bài hiệu quả hơn.
D. Kiểm nghiệm:
Có thể nói, dạy từ ngữ rất quan trọng đối với việc dạy Văn học trung đại Việt
Nam. Để dạy học sinh hiểu sâu sắc một bài văn, một bài thơ trung đại thì giáo viên
phải phân tích các hình tượng nghệ thuật nói chung đồng thời phải có phương
pháp phân tích ngôn ngữ thích hợp, thích đáng. Vì tất cả những gì ở tác giả, hoàn
cảnh lịch sử, cá tính, thực tế cuộc sống, quan điểm chính trị, nghệ thuật tạo nên
một tác phẩm phải thông qua ngôn ngữ mới thể hiện được. Đề tài này chỉ là một

vài kinh nghiệm nhỏ trong quá trình giảng dạy tôi tích lũy được. Trong mức độ
hạn hẹp tôi chỉ xin đưa ra một tiết giáo thực tế để minh họa kiểm nghiệm.
Giáo án minh họa
Giáo án ngữ văn 8
Tuần 26, bài 24
Tiết 97 Nước Đại Việt ta
(Trích Bình Ngô đại cáo - Nguyễn Trãi)
A.Mục tiêu bài học
I. mức độ cần đạt
- Bổ sung kiến thức về văn nghị luận trung đại

- GV đọc 1 lần
- 2 HS đọc lại
I. Đọc và tìm hiểu chung

- HS khác nhận xét, sửa chữa cách đọc của bạn
- GV sửa chữa, nhận xét cách đọc của HS
- Hãy nhắc lại hiểu biết của con về tác giả Nguyễn
Trãi (đã học ở học kì I).
(Nguyễn Trãi là người anh hùng dân tộc, một
danh nhân văn hoá, một người có tài năng lỗi lạc về
chính trị, quân sự, ngoại giao, tư tưởng, lịch sử, địa lí.
Riêng về lĩnh vực văn học, ông là một trong những
tác giả lớn nhất của văn học trung đại. Dù là văn
chính luận chữ Hán hay chữ Nôm, ông đều có
thành tựu lớn.)
- Hãy nêu xuất xứ đoạn trích Nước Đại Việt ta?
(Đoạn trích này nằm ở phần đầu tác phẩm Bình
Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi viết vào năm 1428
Khi Lê Lợi đánh thắng giặc Minh)
- Em hiểu gì về thể Cáo?
(Là thể văn nghị luận cổ thường được vua chúa
hoặc thủ lĩnh viết, dùng để trình bày một chủ
trương hay công bố kết quả một sự nghiệp để mọi
người cùng biết)
- GV giải thích nghĩa Bình Ngô đại cáo
Hoạt động 2: HD HS tìm hiểu chi tiết văn bản
- HS đọc 2 câu đầu
- Trong 2 câu đầu, tác giả đã đề cập đến điều gì?
(Nguyên lí nhân nghĩa)
- Theo em, vị trí nội dung nguyên lí nhân nghĩa

- Khẳng định nhân nghĩa
gắn liền với yêu nước chống

- HS đọc 8 câu tiếp
- Em có nhận xét gì về ý nghĩa cách dùng các từ
ngữ “từ trước”, “vốn xưng”, “đã lâu”, “đã chia”,
“đã khác”?
(Các từ ngữ này thể hiện tính chất hiển nhiên vốn
có lâu đời của nước Đại Việt độc lập, tự chủ)
- Em hãy trình bày ý kiến của mình về lối văn
trong đoạn này? Nêu tác dụng của lối văn đó?
(Tác giả sử dụng câu văn biền ngẫu, sóng đôi cân
xứng tạo cho âm điệu câu văn nhịp nhàng, nhấn
mạnh ý thức về độc lập, về chủ quyền dân tộc)
- Em hiểu “văn hiến” là gì? Tại sao tác giả lại
đưa văn hiến lên vị trí hàng đầu so với các yếu tố
khác?
- HS thảo luận, trả lời
(+ “Văn hiến”: truyền thống văn hoá lâu đời và tốt
đẹp.
+ Đặt trong bất cứ hoàn cảnh nào thì văn hiến
cũng là yếu tố cơ bản nhất, là hạt nhân để xác
định tư cách tồn tại độc lập của một dân tộc. Việc
tác giả đưa yếu tố văn hiến lên đầu và việc nhấn
mạnh thêm nền văn hiến nước ta ở sự có mặt luôn
luôn của những người tài giỏi “đời nào cũng có”
là cách đập thẳng vào luận điệu coi thường dân ta,
gọi dân ta là man di, mọi rợ của bọn phong kiến
phương Bắc)
- Biện pháp sử dụng cặp câu sóng đôi “từ Triệu….

tương tự văn bản này?
- Có ý kiến cho rằng: ý thức dân tộc ở đoạn trích
Nước Đại Việt ta là sự tiếp nối ý thức dân tộc của
Nam quốc sơn hà, con có đống ý với ý kiến đó
không?
- GV treo bảng phụ ghi bài Nam quốc sơn hà , gợi
ý cho HS trao đổi trả lời: Hãy tìm xem những yếu
tố nào đã được nói đến trong bài Nam quốc sơn hà
và yếu tố nào được bổ sung trong Nước Đại Việt
ta?
- Tác giả đưa ra những dẫn chứng lịch sử nào
trong đoạn trích này? (Lưu cung… tiêu vong)
- Nêu cảm nhận của em về việc tác giả lấy dẫn
chứng thực tiễn lịch sử đưa vào bài Cáo? Mục
đích của tác giả là gì?
(Đây là những dẫn chứng đầy thuyết phục, mục
đích là để chứng minh cho sức mạnh của nhân
nghĩa, của chính nghĩa đồng thời thể hiện niềm tự
hào dân tộc)
- Qua bài này, em hãy nêu nhận thức của em về
cách sử dụng dẫn chứng, lí lẽ trong bài văn nghị
luận?
(+ Cần kết hợp chặt chẽ lí lẽ và dẫn chứng
+ Dẫn chứng phải xác thực, lí lẽ phải sắc bén
+ Việc sử dụng cách chuyển đoạn bằng từ ngữ
chuyển tiếp cho thấy phần trên và phần này có
mối quan hệ nhân quả, thể hiện sự lập luận chặt
chẽ của tác giả)
Hoạt động 3: HD HS tổng kết
- HS khái quát nội dung và nghệ thuật của đoạn

- Đọc, viết bài giới thiệu về tác giả, tác phẩm và hoàn cảnh ra đời của tác phẩm,
làm rõ Bình Ngô đại cáo là áng văn chương tràn đầy lòng tự hào dân tộc.
- Chuẩn bị bài: Hành động nói
Kết quả:
Lớp
Số
học
sinh
Hiểu bài tốt Hiểu bài khá Có hiểu bài Chưa hiểu bài
SL % SL % SL % SL %
8A 31 6 19.4 10 32.3 12 38.7 3 9.6
8B 26 3 11.5 11 42.3 9 34.6 3 11.5
III: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT:
a. Kết luận
Qua thực tế giảng dạy của bản thân, tôi nhận thấy học sinh đã tập trung hơn
vào giờ học môn Văn phần văn học trung đại, các em có sự hứng thú hơn, nhất là
khi được giáo viên phân tích các điển tích, điển cố, các từ ngữ có giá trị tạo hình,
các từ ngữ giàu sắc thái biểu cảm. Tỉ lệ học sinh phát biểu ý kiến xây dựng bài
nhiều hơn, giờ học cũng vì thế mà đạt hiệu quả cao hơn. Đặc biệt, tỉ lệ học sinh
làm bài kiểm tra phần Văn học trung đại đạt kết quả từ trung bình trở lên cao hơn
b. Đề xuất:
Đề tài: Một số kinh nghiệm dạy từ ngữ trong tác phẩm Văn học trung đại
Việt Nam ở trường THCS mới chỉ được áp dụng ở trường THCS Cán Khê mà bản
thân tôi tham gia giảng dạy cho nên tôi chưa thấy rõ được hiệu quả của đề tài được
nhiều. Trong quá trình giảng dạy, tài liệu tham khảo cho bản thân giáo viên và học
sinh rất hạn chế mong nhà trường và các cấp nên có kế hoạch bổ sung thêm sách
nghiên cứu tham khảo về môn Ngữ Văn, nhất là sách tham khảo về phần Văn học
trung đại.
Trong phạm vi hạn hẹp của SKKN rất mong nhận được sự trao đổi góp ý của
các bạn đồng nghiệp, xin chân thành cảm ơn.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status