PHÒNG GIÁO DỤC ĐÀO TẠO THANH OAI
TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ TÂN ƯỚC
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Tên đề tài:
“ XÂY DỰNG HỆ THỐNG CÂU HỎI TÍCH HỢP
TRONG MÔN NGỮ VĂN 7”
Tên tác giả : LÊ KIM THÚY
Chức vụ : Giáo viên
Đơn vị : Trường THCS Tân Ước – Thanh Oai - Hà Nội
Năm học 2013 -2014
Céng hoµ x· héi chñ nghÜa ViÖt Nam
§éc lËp - Tù do - H¹nh phóc
==========
Sơ yếu lý lịch
1. Họ và tên :
Lấ KIM THY
2. Ngày tháng năm sinh :
29 - 08- 1985
3. Quê quán :
Kim Bi - Thanh Oai - Hà nội
4. Năm vào ngành : 2009
5. Chức vụ : Giáo viên
6. Đơn vị công tác
Trng THCS Tõn c,huyn Thanh Oai,
thnh ph H Ni
Ngữ văn 7 nói riêng.
B.CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
Theo nguyên tắc tích hợp, mỗi bài học của Ngữ văn 7 là sự phối hợp một số đơn vị
kiến thức và kỹ năng của 3 phân môn: Văn, Tiếng Việt và Tập làm văn. Dựa trên một
số văn bản văn học hay nhật dụng, phần đọc hiểu văn bản sẽ khai thác
Những điểm nội dung và nghệ thuật của văn bản. Phần tiếng Việt sẽ tìm hiểu và khai
thác một yếu tố ngôn ngữ có tần số xuất hiện cao trong văn bản, để phân tích luyện tập
các kỹ năng ngôn ngữ cho học sinh. Phần tập làm văn giúp cho học sinh hình thành
năng lực tiếp nhận và tạo lập kiểu văn bản vừa học. Vì tích hợp trong câu hỏi giờ Ngữ
văn 7 phải thể hiện ở chỗ, các dơn vị kiến thức và kỹ năng của 3 môn đều phải được tìm
hiểu, khai thác trên một ngữ liệu chung là văn bản, nhằm mục đích chung rèn kỹ năng
3
nghe, đọc, nói, viết và kiểu văn bản đó cho học sinh. Có thể nói hệ thống văn bản tích
hợp sẽ tạo độ kết dính chỉnh thể trong một bài giảng.
Văn học là một loại hình tượng văn học thông qua một chất liệu đặc biệt là ngôn
ngữ nghệ thuật ( một thứ ngôn ngữ đã được chọn lọc, gọt rũa tinh tế ). Lâu nay trong
việc hướng dẫn học sinh cảm thụ tác phẩm văn học, các câu hỏi thường thiên về khai
thác nội dung mà chưa quan tâm đích đáng đến cái được biểu đạt của tín hiệu ngôn ngữ.
Do vậy có thể thấy bản chất của câu hỏi tích hợp cần được thể hiện trong giờ Ngữ văn 7
là: hướng dẫn học sinh vận dụng những kiến thức và kỹ năng về tiếng để cảm nhận và
“giải mã” những nội dung tiềm ẩn sâu sắc trong các tác phẩm văn chương, trên cơ sở đó
thực hành tạo lập các văn bản.
Chương trình Ngữ văn 7 có một số phần tập làm văn và Văn học lớp 7 trước đây
chưa có như: Văn bản biểu cảm, văn bản nghị luận và về phần văn là các kiểu dạng
khác nhau của tác phẩm trữ tình. ( Văn học dân gian, văn chương, bác học, thơ và văn
xuôi, tùy bút). Trong việc thực hiện chương trình Ngữ văn 7 ở phần tập làm văn và văn
có nhiều vấn đề khó hơn so với trình độ học sinh. Vì vậy giáo viên phải xây dựng một
hệ thống câu hỏi phù hợp với mục tiêu cụ thể của bài học và kích thích học sinh tư duy
để giờ dạy có hiệu quả.
C. NỘI DUNG THỰC HIỆN
cần bổ xung nâng cao (Tích hợp dọc). Có thể tích hợp liên môn với các bộ phận khác.
- Giáo viên cần xây dựng hệ thống câu hỏi: Câu hỏi phát hiện, câu hỏi gợi mở, dẫn
dắt, câu hỏi tái hiện, câu hỏi tích hợp trong đó câu hỏi nêu vấn đề định hớng giải quyết
là quan trọng. Nhằm tích cực hóa các hoạt động của học sinh. Câu hỏi mang theo phơng
pháp khoa học của bộ môn, dẫn dắt học sinh tìm hiểu từ tợng hình nghệ thuật đến nội
dung.
- Hình thành cho học sinh các cách học, cách tiếp xúc và khai thác một số vấn đề,
cách làm, cách vận dụng vào cuộc sống.
2.1. Câu hỏi tích hợp trong kiểm tra bài cũ.
Kết hợp câu hỏi về kiến thức loại bài, thể loại, cảm nhận về câu, từ, biện pháp tu
từ, đoạn thơ, đoạn văn, những nét đặc sắc về nội dung và nghệ thuật có thể dùng hình
thức trắc nghiệm tổ chức cho học sinh hoạt động nhóm hoặc độc lập.
5
Ví dụ:
Côn Sơn suối chảy rì rầm
Ta nghe nh tiếng đàn cầm bên tai
(Bi ca Cụn Sn Nguyn Trói)
- Là câu thơ tả, kể, hay biểu cảm? đánh dấu vào ô mà em cho là đúng?
A. Kể B. Tả
C. Biểu cảm D. Có tất cả
2.2. Câu hỏi tích hợp trong phần chú thích văn bản.
Để học sinh hiểu kỹ hơn phần chữ nghĩa trong văn bản, từ đó có cơ sở hiểu sâu
văn bản giáo viên cần giải thích từ ngữ khó theo chú thích. Nên bổ sung thêm ngoài chú
thích trong sách giáo khoa khi cần thiết. Những câu hỏi trong phần này có sự tích hợp
rất rõ trong phân môn Tiếng Việt. Vì vậy cần đặt câu hỏi giản dị linh hoạt giúp học sinh
hiểu đợc bản chất ý nghĩa chính trong nội hàm của từ ngữ, điển cố.
Ví dụ:
Khi dạy văn bản Cảnh khuya, Rằm tháng giêng của Hồ Chí Minh giáo viên
kiểm tra việc hiểu chú thích và từ Hán việt của học sinh trong sách giáo khoa (có thể ghi
nhớ chú thích giữa các nhóm). Sau đó đặt câu hỏi tích hợp tìm yếu tố Hán việt trong các
1. Em hãy đọc hai câu thơ đầu
và cho biết nhà thơ tả cảnh
rừng Việt Bắc qua âm thanh
hình ảnh nào?
Học sinh đọc và
nhận xét
Ting sui, trng, c th, hoa.
2. Khi miêu tả tiếng suối, tác
giả đã dùng biện pháp gì? Biện
pháp nghệ thuật ấy giúp em
cảm nhận gì về âm thanh tiếng
suối?
Học sinh t duy nghĩ
và tìm biện pháp
nghệ thuật trình bày
cảm nhận.
Tiếng suối trong nh tiếng hát xa
biện pháp so sánh, từ gợi hình, nghệ
thuật lẫy động tả tĩnh.
- Tiếng suối trong vắt ngân nga nh
tiếng hát ngọt ngào từ xa đa lại, tởng
nh khúc nhạc rừng khuya.
- Âm thanh hiện ra hình ảnh dòng
suối đẹp, mềm mại.
3. Trong nền văn học dân tộc
có nhiều vần thơ tuyệt bút viết
Học sinh luyện nhớ
kiến thức.
Côn Sơn suối chảy rì rầm
Ta nghe nh tiếng đàn cầm bên tai
này? Hãy tả lại bằng ngôn ngữ
của em?
Học sinh luyện nói
văn miêu tả
Từ Lồng điệp ngữ ngôn ngữ giàu
chất sáng tạo hình, có thể hình dung
theo hai cách:
- ánh trăng chiếu vào vòm cổ thụ,
bóng lồng vào bóng hoa.
- ánh trăng chiếu rọi vào vòm lá cổ
thụ in bóng xuống mặt đất, nh muôn
ngàn bông hoa.
->Vẻ đẹp cảnh trăng rừng. Trong thơ
Bác có họa (Tích hợp với môn họa).
6. Em có cảm nhận gì về bức
tranh thiên nhiên qua hai câu
thơ?
Học sinh trình bày ý
kiến
Bức tranh thủy mặc đẹp nên thơ, giàu
sức sống. Có sự giao hòa giữa thiên
nhiên và con ngời.
7. Có ý kiến cho rằng: Hai câu
thơ trên tả cảnh, nhng có ý
kiến cho rằng: Hai câu thơ trên
Hoạt động nhóm
hoặc cá nhân trả lời.
Sự cảm nhận tinh tế của nhà thơ trớc
vẻ đẹp thiên nhiên. Bức tranh thấm đ-
ợm tình cảm yêu thiên nhiên say đắm,
- Hỏi: Đặt bài thơ vào hoàn cảnh sáng tác em thấy bài thơ đã biểu hiện phong thái
của Bác Hồ nh thế nào?
9
+ Phong thái ung dung lạc quan của Bác
+ Toát ra từ những rung cảm dồi dào trớc thiên nhiên đất nớc
+ Thể hiện t chất của ngời nghệ sỹ trớc cái đẹp
+ Hình ảnh con thuyền bàn việc quân trở về lớt đi phơi phới
+ Giọng thơ cổ điển, hiện đại, khỏe khoắn, trẻ trung
Câu 2: Trắc nghiệm, sử dụng phiếu bài tập) đặc sắc về nghệ thuật của hai bài thơ
cảnh khuya và Rằm tháng giêng
A_ Bút pháp cổ điển - hiện đại
B- Hai bài thơ có nhiều hình ảnh thiên nhiên đẹp, bình dị
C- Sử dụng nhiều biện pháp nghệ thuật có giá trị biểu cảm cao
D- Cả A, B, C
Giáo viên kết luận: Đó là những điều trong phần ghi nhớ lu ý: Sau đó giáo viên
khái quát lại những nội dung, nghệ đặc sắc của tác phẩm, nhằm khắc sâu kiến thức cho
học sinh.
Ví dụ: Phần luyện tập văn bản sau phút chia ly có thể vận dụng một số bài tập
sau.
Bài tập 1: Đoạn trích Sau phút chia ly đã sử dụng phơng thức biểu cảm nh thế
nào? Đánh dấu vào ô mà em cho là đúng
A- Biểu cảm miêu cả
B- Biểu cảm trực tiếp
C- Cả A và B
Bài tập 2: Có ý kiến cho rằng: thể song thất lục bát có nhạc tính phong phú hơn so
với thể lục bát. Dựa vào đoạn trích Sau phút chia ly em hãy chỉ rõ ý kiến đúng hay
sai? Vì sao? Nhạc điệu ấy góp phần diễn tả tâm trạng của nhân vật trữ tình nh thế nào?
- í kiến trên là đúng vì thể song thất lục bát sử dụng nhiều từ láy vần bằng nhịp
điệu chậm, sự góp mặt của các điệp ngữ làm cho thơ liền mạch, tạo nên nhạc điệu du d-
ơng tha thiết, âm hởng buồn mênh mông lan tỏa làm nổi bật nỗi sầu diễn ra triền miên,
C ). Kt qu c th ca bi dy nh sau:
Bi tp trc nghim ( phỏt phiu hc tp )
11
Bài tập 1: Thể thơ của bài “ Cảnh khuya” và “Rằm tháng giêng” ( chữ Hán) có cùng
với thể thơ và bài thơ nào sau đây ?
A. Bài ca Côn Sơn B. Sau phút chia ly.
C. Sông núi nước Nam C. Qua Đèo Ngang
Bài tập 2: Vể đẹp hai câu thơ đầu của bài “ Cảnh khuya” là:
A. Sử dụng có hiệu quả phép so sánh và nhân hóa.
B. Miêu tả âm thanh tinh tế và hình ảnh sinh động.
C. Vận dụng sáng tạo những hình ảnh quen thuộc của Đường thi.
D. Kết hợp giữa miêu tả và biểu cảm trực tiếp.
Kết quả:
Mức điểm
Tên lớp Điểm 3,4 Điểm 5,6 Điểm 7,8 Điểm 9,10
7C 0% 45% 45% 10%
E. NHỮNG Ý KIẾN KIẾN NGHỊ SAU QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
* Thứ nhất:Giảng dạy văn học là một hoạt động lý thú và sáng tạo. Để chuẩn bị một
hệ thống câu hỏi tích hợp trong giáo án và tổ chức tốt giờ học môn Ngữ văn là một yêu
cầu mới mẻ không ít khó khăn và thử thách. Vì vậy giáo viên phải nắm chắc mục tiêu
môn học và phương pháp đặc trưng bộ môn, thể loại để đưa ra hệ thống câu hỏi phù hợp
với bài giảng và đối tượng học sinh.
* Thứ hai: Sử dụng linh hoạt và sáng tạo các phương pháp dạy học sao cho hợp lý
và hiệu quả. Sử dụng các thiết bị dạy học phục vụ cho mục tiêu tích hợp.
* Thứ ba: Học sinh cần soạn bài chu đáo với sự hướng dẫn của giáo viên.
Trên đây là một số kinh nghiệm của cá nhân tôi, qua việc tìm hiểu tham khảo tài
liệu trong thời gian thực tế giảng dạy. chúng ta phải thừa nhận rằng: Để có một thành
công phải trải qua một quá trình thử nghiệm, phải dạy nhiều lần, nhiều đối tượng học
sinh. Chính vì vậy đây cũng chỉ là suy nghĩ của cá nhân bản thân tôi . Những kinh
nghiệm này không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót.