phÇn më ®Çu
1.tÝnh cÊp thiÕt cña ®Ò tµi:
Hơn 70 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản việt nam, sự
nghiệp cách mạng nước ta đã giành được nhiều thắng lợi to lớn: Đấu tranh
giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, đưa cả nước tiến lên chủ nghĩa xã
hội (CNXH)
Hai mươi năm qua, công cuộc đổi mới đất nước đã thu được nhiều
thành tựu quan trọng trên các lĩnh vực: Kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, an
ninh, quốc phòng…., tạo tiền đề vững chắc để tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp
hóa (CNH), hiện đại hóa (HĐH ) đất nước, phấn đấu đến năm 2020, nước ta
cơ bản trở thành một nước công nghiệp, "dân giàu, nước mạnh, xã hội công
bằng dân chủ, văn minh".
Trong quá trình đổi mới, đặt ra những vấn đề mới, những thách thức và
nguy cơ hết sức gay go, quyết liệt, đòi hỏi Đảng phải không ngừng vươn lên,
tự đổi mới, tự chỉnh đốn thì mới có thể giữ vững và phát huy vai trò lãnh đạo,
tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN)
Tại Hội nghị toàn quốc ngày 25 tháng 4 năm 1994 đồng chí- Đỗ Mười
Nguyên Tổng Bí Thư của Đảng ta đã nói : “Trong công tác xây dựng Đảng,
kiểm tra có vị trí cực kỳ quan trọng, bảo đảm cho đảng vững mạnh về chính
trị, tư tưởng và tổ chức, trong sạch về phẩm chất đạo đức …. Trong điều kiện
đảng cầm quyền, công tác kiểm tra của Đảng phải được tăng cường và tiến
hành một cách thường xuyên, có hiệu quả” và “… Mục đích kiểm tra là để
làm cho đường lối, chủ trương, nghị quyết của Đảng được thi hành một cách
đúng đắn và sáng tạo, làm nên thắng lợi của cách mạng, mang lại lợi ích cho
nhân dân ”. Vì vậy, chỉ có thông qua công tác kiểm tra, chúng ta mới thấy
được những mặt tốt, mặt đúng của chủ trương đường lối, chính sách, nghị
quyết, chỉ thị của Đảng và nhà nước để tiếp tục phát huy, hạn chế những sai
sót và kịp thời bổ sung hoàn chỉnh, thông qua kiểm tra mới biết được chỉ thị,
nghị quyết có được thực thi hay không, có đúng không ? đúng đến mức nào
1
1
ti gúp phn lm rừ thờm mt s vn c bn nhn thc, lý lun
v thc tin v nõng cao cht lng hot ng ca UBKT, lm c s giỳp cho
cp y v ng viờn nhn thc y , ỳng n v cụng tỏc kim tra, hot
ng ca UBKT. Trờn c s ú xut mt s gii phỏp c bn nhm nõng
cao cht lng hot ng ca UBKT Tnh y Lai Chõu, ỏp ng yờu cu,
nhim v cỏch mng trong thi k mi.
2.2. Nhim v
ti lun gii nhng vn lý lun v cụng tỏc kim tra ng v v
trớ vai trũ ca UBKT trong cụng tỏc xõy dng ng.
ỏnh giỏ thc trng cht lng hot ng ca UBKT Tnh y Lai
Chõu trong nhng nm qua, tỡm hiu nguyờn nhõn, bi hc kinh nghim ca
nhng tn ti yu kộm.
xut mt s gii phỏp nhm nõng cao cht lng hot ng ca
UBKT Tnh y Lai Chõu.
2.3. Gii hn ti :
ti i sõu phõn tớch mt s gii phỏp nhm nõng cao cht lng ca
UBKT Tnh y Lai Chõu t nm 2001 2005
3. cơ sở lý luận và phơng pháp nghiên cứu.
C s lý lun v nhn thc ca ti da trờn cỏc quan im ca ch
ngha Mỏc- Lờnin , t tng H Chớ Minh v quan im ca ng ta v cụng
tỏc xõy dng ng núi chung v cụng tỏc kim tra núi riờng.
Phng phỏp nghiờn cu: Dựng phng phỏp nghiờn cu khoa hc,
Phng phỏp lụgớch, phng phỏp lch s, iu tra xó hi hc, tng hp, phõn
tớch, so sỏnh.
4. ý nghĩa thực tiễn của đề tài.
õy l kt qu bc u s vn dng kin thc c trang b qua
nghiờn cu hc tp v thc tin cụng tỏc kim tra ca ng, cỏc gii phỏp ó
1
trng, k hoch tin hnh v t chc thc hin thng li ý nh, ch trng
k hoch y trong thc tin.
Thc tin luụn vn ng, bin i v phỏt trin khụng ngng theo quy
lut khỏch quan, do ú cỏc ch trng, ng li, chớnh sỏch c ban hnh
dự cú c nghiờn cu k lng n õu vn cũn cú nhng thiu sút, s h,
thm chớ khụng cú kh nng thc thi hoc sai lm nghiờm trng. khc
phc iu ú, ũi hi con ngi phi luụn luụn xem xột, kim tra li ng
li, ch trng, chớnh sỏch ó c ban hnh. ú chớnh l hot ng kim tra.
Hot ng cú ý thc l hot ng cú kim tra, ý thc cng cao, t chc cng
quan trng, con ngi cng v cng cao, nhim v cng khú khn, phc
tp thỡ cng ũi hi phi coi trng v tin hnh tt cụng tỏc kim tra .
1
2. Kiểm tra là một trong những chức năng lãnh đạo của Đảng, một
bộ phận quan trọng trong toàn bộ công tác xây dựng Đảng.
Kiểm tra cần thiết đối với mọi tổ chức và con người trong xã hội, đặc
biệt là đối với chính Đảng của giai cấp vô sản và người cộng sản. Đảng Cộng
sản Việt Nam, chính đảng kiểu mới theo chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng
Hồ Chí Minh có sứ mệnh lịch sử nặng nề và vẻ vang là lãnh đạo giai cấp và
dân tộc, dân chủ, đánh thắng các cuộc chiến tranh xâm lược, xóa bỏ chế độ
thực dân, phong kiến, hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất
đất nước, tiến hành công cuộc đổi mới, xây dựng chủ nghĩa xã hội (CNXH)
và bảo vệ vững chắc nền độc lập của Tổ quốc.
Kiểm tra là một trong những chức năng lãnh đạo của Đảng và “có vị trí
cực kỳ quan trọng trong toàn bộ hoạt động lãnh đạo của Đảng” (Văn kiện Đại
hội VIII của Đảng Cộng sản Việt Nam. Nxb CTQG, Hà Nội 1996, tr 150)
Ngay từ khi mới ra đời và suốt trong trong quá trình lãnh đạo cách mạng,
Đảng ta luôn coi trọng và tiến hành có hiệu quả công tác kiểm tra, vai trò của
Đảng không chỉ là vạch ra đường lối, chính sách, và việc tổ chức thực hiện,
bố trí cán bộ, lãnh đạo mà còn là kiểm tra, công tác kiểm tra không chỉ kiểm
V của Đảng Cộng sản Việt Nam, tập III Nxb ST, Hà Nội 1982, tr122), là “
một khâu quan trọng của tổ chức thực hiện ” là “ Biện pháp hiệu nghiệm để khắc
phục bệnh quan liêu (Văn kiện Đại hội VI, Nxb ST, Hà Nội , 1987, tr 137)
1
3. Kiểm tra là một nhiệm vụ trực tiếp, thường xuyên của toàn Đảng:
Trong các văn kiện của Đảng, Đảng ta đã khẳng định: Công tác kiểm
tra của Đảng là công tác của toàn Đảng, của các tổ chức Đảng. Đồng chí Đỗ
Mười – Nguyên Tổng Bí thư của Đảng đã nhấn mạnh: Mục đích của kiểm tra
là để làm cho Đường lối, chủ trương, nghị quyết của Đảng được thi hành một
cách đúng đắn và sáng tạo, làm nên thắng lợi của cuộc cách mạng, mang lại
lợi ích cho nhân dân. Trong điều kiện Đảng cầm quyền, công tác kiểm tra của
Đảng phải được tiến hành một cách thừơng xuyên, có hiệu quả, đó không chỉ
là trách nhiệm trước Đảng mà còn là nghĩa vụ và trách nhiệm trước nhân dân
và trước giai cấp .
Vì vậy cần khắc phục những nhận thức không đúng, coi công tác kiểm
tra chỉ là của UBKT, chỉ thuần túy "tìm sai lầm” ” Bới lông tìm vết ”. Đảng ta
đã từng chỉ rõ, sự lãnh đạo của Đảng không chỉ là xây dựng cương lĩnh chính
trị, xác định đường lối , chủ trương ra chỉ thị, nghị quyết mà còn tổ chức thực
hiện và kiểm tra toàn bộ hoạt động của Đảng nhằm làm cho hoạt động và sự
lãnh đạo ngày càng phù hợp với cuộc sống, với quy luật khách quan. Cũng
trên cơ sở đó Đảng nhận thấy rõ mọi khuyết điểm, những mặt mạnh, mặt yếu
trong quá trình lãnh đạo của các tổ chức Đảng, các cấp ủy và cả đội ngũ cán
bộ, đảng viên. Do đó công tác kiểm tra là bộ phận hữu cơ trong toàn bộ công
tác xây dựng Đảng , góp phần phát huy vai trò lãnh đạo và sức chiến đấu của
Đảng. Có thể nói : không kiểm tra tức là không lãnh đạo .
Bác Hồ dạy : “ Lãnh đạo đúng nghĩa" là :
+ Phải quyết định mọi vấn đề một cách cho đúng…
+ Phải tổ chức thi hành cho đúng
+ Phải tổ chức sự kiểm tra rà soát….
1
III. những vấn đề cơ bản cần nắm vững trong chỉ đạo,
tiến hành công tác kiểm.
1. Cụng tỏc kim tra ca ng phi xut phỏt t nhim v chớnh tr v
cụng tỏc xõy dng ng, nhm thc hin thng li nhim v v cụng tỏc y :
Cụng tỏc kim tra ca ng phi xut phỏt t nhim v chớnh tr v
cụng tỏc xõy dng ng, phi ly vic thc hin thng li nhim v v cụng
tỏc ú lm mc tiờu, phng hng, ni dung hot ng. Nu xa ri vn
ú ct lừi cú tớnh nguyờn tc ny, thỡ cụng tỏc kim tra ca ng chch mc
tiờu, mt phng hng, khụng rừ ni dung v khụng mang li hiu qu. Tuy
nhiờn, nhim v chớnh tr v cụng tỏc xõy dng ng trong tng thi k, i
vi tng t chc ng cng cú nhng ni dung, yờu cu c th khỏc nhau,
iu ú yờu cu cỏc t chc ng phi nm vng nhng ni dung, yờu cu
ch yu ca nhim v chớnh tr v cụng tỏc xõy dng ng ca mỡnh trong
tng thi k, nm vng cng lnh chớnh tr, iu l ng, cỏc ngh quyt,
ch th ca ng, ngh quyt ca i hi ng b v cp y cp mỡnh, tỡnh
hỡnh thc hin nhim v chớnh tr v cụng tỏc xõy dng ng ca ng b
lónh o cụng tỏc kim tra v t chc thc hin nhim v kim tra xỏc thc,
cú hiu qu.
2. Phi nm vng v thc hin tt t tng ch o cụng tỏc kim
tra ca ng ta: Ch ng, chin u, giỏo dc, hiu qu".
T thc tin hot ng kim tra ca ng, ng ta ó ỳc kt c
nhiu bi hc kinh nghim quý bỏu. T tng ch o ton b hot ng cụng
tỏc kim tra ca ng hin nay l: Ch ng, chin u, giỏo dc, hiu qu.
Quan im ny c quỏn xuyn trong ton b hot ng v cú mi liờn h
cht ch vi nhau.
+Tớnh ch ng ca cụng tỏc kim tra ca ng: Sau khi cú ngh
quyt, ch th phi ch ng xõy dng k hoch t chc thc hin v chng
1
+Tính giáo dục của công tác kiểm tra của Đảng : Được thể hiện ở
mục đích của nó là “Thúc đẩy “ và giáo dục đảng viên, cán bộ làm tròn nhiệm
vụ đối với Đảng, với nhà nước, làm gương tốt cho nhân dân, chứ không phải
để “Vạch lá tìm sâu” để trừng trị . Tính giáo dục thể hiện ở phương pháp tiến
hành công tác kiểm tra, cũng như trong phát huy ưu điểm, sữa chữa khuyết
điểm. Qua kiểm tra phải rút ra bài học về lãnh đạo, chỉ đạo, về tổ chức thực
hiện nhiệm vụ chính trị và công tác xây dựng Đảng để bồi dưỡng nâng cao
sức chiến đấu và năng lực lãnh đạo của tổ chức Đảng và đảng viên
+Tính hiệu quả của công tác kiểm tra của Đảng: Sau khi kết thúc
kiểm tra thì đối tượng được kiểm tra, thấy được ưu điểm , khuyết điểm hoặc
sai phạm để sửa chữa, phấn đấu tiến bộ. Tổ chức Đảng nơi có đối tượng được
kiểm tra và bản thân tổ chức Đảng tiến hành kiểm tra thấy được ưu khuyết
điểm và rút ra kinh nghiệm về lãnh đạo, chỉ đạo, về giáo dục quản lý tổ chức
Đảng và đảng viên. Thể hiện ở sự lãnh đạo công tác kiểm tra và thực hiện
nhiệm vụ kiểm tra để xây dựng Đảng bộ ngày càng trong sạch vững mạnh.
Thực hiện thắng lợi nhiệm vụ của Đảng bộ, nâng cao bản lĩnh, phẩm chất,
năng lực người cán bộ kiểm tra và cơ quan kiểm tra các cấp, đấu tranh bảo vệ
chân lý, bảo vệ kỷ luật của Đảng, dám chịu trách nhiệm và đồng thời đề cao
trách nhiệm trước Đảng, trước đội ngũ cán bộ, đảng viên và quần chúng, bảo
đảm tính hiệu quả của kiểm tra, nhất là trong xem xét, kết luận và xử lý khi có
sai phạm theo tinh thần chung là rõ ràng, minh bạch.
1
3. Phải nắm vững và thực hiện tốt phương pháp cơ bản của công
tác kiểm tra của Đảng:
Công tác kiểm tra của Đảng là công tác lãnh đạo của Đảng, là công tác
xây dựng Đảng, là sinh hoạt nội bộ Đảng. Do Đó khi tiến hành công tác kiểm
tra, phải giữ đúng nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt Đảng, đúng tính chất công
tác Đảng. Phải nắm vững và thực hiện tốt phương pháp cơ bản của công tác kiểm
hiểu rõ tạo nên sự đoàn kết, thống nhất giũa tổ chức Đảng với quần chúng.
*Làm tốt công tác thẩm tra, xác minh: Yêu cầu cơ bản của công tác
kiểm tra là phải đánh giá, kết luận đúng ưu điểm, khuyết điểm, vi phạm (nếu
có) của tổ chức Đảng và đảng viên được kiểm tra, để có quyết định chính xác.
Muốn vậy ngoài việc phải dựa vào tổ chức Đảng, phát huy tinh thần tự giác
của tổ chức Đảng và đảng viên, việc kiểm tra, phát huy trách nhiệm xây dựng
đảng của quần chúng, phải hết sức coi trọng và làm tốt công tác kiểm tra, xác minh
* Kết hợp chặt chẽ công tác kiểm tra của Đảng với công tác thanh tra
của nhà nước, thanh tra nhân dân, công tác kiểm tra của các đoàn thể chính trị
- Xã hội nghề nghiệp và phối hợp với các ban, ngành có lien quan.
4. Phải nắm vững và thực hiện tốt các hình thức kiểm tra :
4.1. Kiểm tra thường xuyên: Tổ chức Đảng, trước hết là cấp ủy các cấp
phải thường xuyên kiểm tra, đôn đốc Đảng cấp dưới và đảng viên tiến hành
công tác kiểm tra và tự kiểm tra để phát huy ưu điểm, phát hiện, ngăn chặn,
khắc phục thiếu sót, khuyết điểm. Các tổ chức cơ sở Đảng thông qua hoạt
động thực tế hàng ngày của tổ chức Đảng cấp dưới và đảng viên trong việc
thực hiện nghị quyết, chỉ thị của Đảng và pháp luật của nhà nước, trong sinh
hoạt Đảng, giữ gìn phẩm chất, đạo đức cách mạng của đảng viên; Qua tự phê
bình và phê bình, qua kiểm tra, phân tích chất lượng đảng viên, nhận xét,
đánh giá chi bộ, đảng bộ trong sạch, vững mạnh. Qua phê bình, góp ý của
1
quần chúng….để đánh giá ưu điểm, khuyết điểm của đảng viên và tổ chức
Đảng cấp dưới, rút kinh nghiệm về công tác lãnh đạo. quản lý của Đảng ủy,
chi ủy, chi bộ , kịp thời xem xét, giải quyết những trường hợp có dấu hiệu vi phạm.
4.2. Kiểm tra định kỳ: Có thể kiểm tra toàn diện đối với tổ chức Đảng
và đảng viên, có thể chỉ kiểm tra chuyên sâu một nội dung cần thiết: Có đọt
kiểm tra toàn diện việc chấp hành nghị quyết Trung ương VI (Lần 2) khóa
VIII về cuộc vận động xây dựng chỉnh đốn Đảng, có đợt kiểm tra việc chấp
hành nguyên tắc tập trung dân chủ trong đề bạt, bổ nhiệm cán bộ, có đợt kiểm
chơng II
Thực trạng hoạt động của UBKT
tỉnh uỷ Lai Châu (2001-2005)
I. khái quát về tình hình kinh tế - xã hội và công tác
xây dụng Đảng.
1. V kinh t xó hi
Lai Chõu l mt tnh min nỳi, nm v phớa tõy bc ca T quc, xa
trung tõm kinh t, giao thụng i li khú khn, trỡnh dõn trớ thp, din tớch t
nhiờn ln 9.065.123 km2, ch yu l nỳi, t nụng nghip ch chim 7,1% so
vi din tớch t nhiờn, cú 273 km ng biờn gii giỏp vi nc cng hũa
nhõn dõn Trung Hoa. Lai chõu cú v trớ a lý vụ cựng quan trng, l vựng u
ngun rng ln v phũng h c bit xung yu ca lu vc sụng , l ni
sinh sng ca nhiu dõn tc thiu s, cú v trớ quan trng v chin lc Quc
phũng An ninh, bo m cho s phỏt trin bn vng ca quc gia m trc
tip l cỏc cụng trỡnh thy in ln trờn sụng v vựng chõu th sụng Hng.
Ton tnh cú 6 huyn v 1 th xó, gm 21 xó biờn gii, 74 xó c bit
khú khn. Cú 20 dõn tc, trong ú: Dõn tc Thỏi chim 35,19%, dõn tc
Mụng 21,87%, dõn tc kinh 12,69%, dõn tc giao 11,84 %, dõn tc H Nhỡ
5,12% v cỏc dõn tc khỏc.
2.Nhng nột c bn v ng b tnh Lai Chõu:
ng b tnh Lai Chõu cú 6 ng b huyn, th v 4 ng y trc
thuc, 4 ban cỏn s ng, 6 ng on, 315 t chc c s ng , trong ú cú
100 ng b v 215 chi b c s (khi nụng thụn 90 t chc c s ng,
trong ú ng b xó 71, chi b xó 19) Cú 9.129 ng viờn, trong ú ng viờn
chớnh thc 7.988, ng viờn d b 1.141, ng viờn n 1.599,ng viờn dõn
tc thiu s 5.203.
1
Kết quả phân loại tổ chức Đảng và đảng viên: năm 2005 cho thấy:
trong tổng số 295 tổ chức cơ sở Đảng đã phân tích chất lượng có 206 tổ chức
chịu khó, khắc phục khó khăn, có kinh nghiệm và bản lĩnh chính trị, nhưng so
với yêu cầu của cuộc sống đặt ra và với tình hình nhiệm vụ trong giai đoạn
cách mạng mới thì cán bộ, đảng viên còn nhiều bất cập, chúng ta đang xây
dựng nền kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường, có sự
quản lý của nhà nước, mở rộng thị trường, hội nhập kinh tế. Trong các mặt
tích cực của kinh tế thị trường, trong đó có khuyết tật và mặt trái của cơ chế
thị trường, do đó cán bộ, đảng viên phải thường xuyên tự rèn luyện, nêu cao
phẩm chất đạo đức, chính trị vững vàng và công tác kiểm tra của đảng trong
tình hình mới cũng rất phức tạp và nhạy cảm.
Những năm trước (Đại hội VII) kiểm tra đảng viên chấp hành điều lệ
Đảng là chủ yếu. Đại hội VIII và Đại hội IX quy định kiểm tra đảng viên và
tổ chức Đảng khi có dấu hiệu vi phạm là chủ yếu. Công việc này rất khó, vấn
đề đặt ra là nắm bắt thông tin, các báo cáo của cơ sở để xác định . Vấn đề
kiểm tra Đảng và tổ chức Đảng đòi hỏi đảng viên và tổ chức Đảng phải tự
giác là chính , vì Đảng ta là tổ chức cao nhất, tập hợp những người tiên tiến,
tôn trọng dân chủ trong Đảng và lấy giáo dục là chính.
Qua các cuộc kiểm tra UBKT tỉnh Lai Châu, đã có phương pháp, trình
tự, hình thức và các bước tiến hành kiểm tra cụ thể như sau:
1. Phương pháp, trình tự, hình thức kiểm tra:
1.1.Về phương pháp kiểm tra: Đảng viên phải phát huy tinh thần tự
phê bình, phê bình trong Đảng, dựa vào tổ chức Đảng, dựa vào quần chúng
nhân dân và các hướng dẫn của UBKT Trung ương, coi trọng thẩm tra xác
minh là yếu tố quyết trình có xem xét đặc điểm tình hình, tài chính, vụ việc,
vai trò của đảng viên, chọn phương pháp kiểm tra cho thích hợp, đạt hiệu quả cao.
1
1.2.Trình tự thực hiện cuộc kiểm tra: Trong qúa trình triển khai các
cuộc kiểm tra, UBKT Tỉnh ủy Lai Châu đã tiến hành đúng trình tự, theo quy
trình, theo hướng dẫn của UBKT Trung Ương về công tác kiểm tra. Tùy theo
tính chất mức độ và phạm vi tiến hành kiểm tra để lập thành tổ ( Hoặc đoàn)
Để thực sự dân chủ, khách quan, động viên tính tự giác đảng viên và
chi bộ quản lý đảng viên phải nêu cao tinh thần tự phê bình và phê bình.
Trước khi vào kiểm tra UBKT gặp đối tượng kiểm tra yêu cầu họ làm bản
tường trình về những nội dung theo UBKT gợi ý (theo KH). Bản tường trình
phải rõ ràng, cụ thể, và đúng nội dung . Đảng viên được kiểm tra phải nhận
thức đầy đủ các bằng chứng, nếu chưa đủ bằng chứng thì chưa vội vàng kết
luận, khi thẩm tra xác minh xong phải tiến hành họp chi bộ , để nghe đảng
viên được kiểm tra được trình bày ý kiến và chi bộ phát biểu đóng góp ý kiến
với đảng viên đó. Nội dung nào rõ thì chi bộ ghi vào biên bản, nội dung nào
chưa rõ, chưa thông thì tiếp tục làm rõ bằng đấu tranh phê bình, phân tích làm
rõ đúng, sai, nếu thấy cần thì tiếp tục thẩm tra xác minh , không được để đồng
chí mình bị oan sai, tránh qua loa, đại khái, xuê xoa. Khi chuẩn bị kết luận
phải có căn cứ thuyết phục, đảm bảo chính xác, đúng nguyên tắc, đúng pháp luật.
2.3. Bước kết thúc
Tổ kiểm tra báo cáo kết quả kiểm tra với UBKT Tỉnh ủy, trình bày đầy
đủ ý kiến mà tổ chức Đảng và đảng viên được kiểm tra đồng ý hoặc khác với
ý kiến của tổ kiểm tra, tập thể UBKT kết luận . Đại diện UBKT trao đổi nội
dung kết luận để tổ chức Đảng và cá nhân đảng viên được kiểm tra trình bày ý
kiến bằng văn bản, báo cáo thường trực UBKT xem xét, giải quyết , nếu vi
phạm xử lý ở mức kỷ luật Đảng phải xem xét xử lý , vi phạm xử lý bắng pháp
luật chuyển cơ quan bảo vệ pháp luật xét xử.
1
Hoàn chỉnh thông báo kết luận kiểm tra, quyết định thi hành kỷ luật đối
với đảng viên hoặc báo cáo cấp trên thi hành kỷ luật đối với tổ chức Đảng,
đảng viên (nếu có) đại diện UBKT thông báo kết luận kiểm tra đến tổ chức
đảng và đảng viên được kiểm tra bằng văn bản .
3. Thực hiện nhiệm vụ do điều lệ Đảng quy định
3.1. Kiểm tra đảng viên kể cả cấp ủy viên cùng cấp khi có dấu hiệu vi
phạm tiêu chuẩn đảng viên, tiêu chuẩn cấp uỷ viên và trong việc thực hiện
Qua thực hiện nhiệm vụ kiểm tra đảng viên và tổ chức Đảng cấp dưới
khi có dấu hiệu vi phạm, cho thấy: UBKT các cấp đã chủ động khảo sát, tiến
hành kiểm tra. Trong quá trình kiểm tra đã kết hợp giữa thẩm tra xác minh,
khơi dậy ý thức tự giác, tinh thần đấu tranh tự phê bình và phê bình của tổ
chức Đảng và đảng viên đứợc kiểm tra, chỉ rõ những yếu kém, khuyết điểm
của tổ chức Đảng và đảng viên, kiến nghị và xử lý kịp thời những đảng viên
có vi phạm đến mức phải xử lý, góp phần vào việc ngăn chặn phòng ngừa vi
phạm của tổ chức Đảng và đảng viên. Kết luận của các cuộc kiểm tra, tuy ở
mức độ khác nhau nhưng đều phát hiện được vi phạm. Trong quá trình tiến
hành kiểm tra UBKT ở cấp tỉnh và cấp huyện đã thực hiện đúng quy trình,
phương pháp kiểm tra, làm tốt công tác tư tưởng, động viên tổ chức Đảng và
đảng viên được kiểm tra tự phê bình và phê bình. Coi trọng khâu thẩm tra,
xác minh, cũng cố hồ sơ tài liệu, chứng cứ và sự phối kết hợp giữa UBKT cấp
trên với UBKT cấp dưới, các cơ quan, ban ngành có liên quan, góp phần quan
trọng vào việc nâng cao chất lượng hiệu quả các cuộc kiểm tra. Từng bước
khắc phục tư tưởng ngại khó, nể nang, né tránh. Thông qua kiểm tra đã góp
phần tích cực vào công tác giáo dục, nâng cao ý thức trách nhiệm, chủ động
phòng ngừa vi phạm đối với đảng viên và các tổ chức Đảng .
1
Thực tiễn ở Đảng bộ Lai Châu vừa qua cho thấy, kiểm tra đảng và tổ
chức Đảng cấp dưới khi có dấu hiệu vi phạm, tuy khó nhưng nếu chủ động
nắm bắt tình hình, phát hiện dấu hiệu vi phạm và xác định nội dung và đối
tượng kiểm tra không nhiều, nhưng đã chọn đúng nội dung, đối tượng,, kiểm
tra có trọng tâm, trọng điểm, kết luận rõ vi phạm, ngăn ngừa được tiêu cực
làm cho cán bộ, đảng viên nhận thức đúng hơn về nhiệm vụ kiểm tra này.
Tuy nhiên bên cạnh những kết quả đạt được, việc thực hiện nhiệm vụ
kiểm tra đảng viên và tổ chức Đảng cấp dưới khi có dấu hiệu vi phạm còn có
những hạn chế :
Nhận thức của một số cán bộ UBKT và đối tượng kiểm tra còn hạn
trọng và sự cần thiết của công tác kiểm tra của cấp ủy theo quy định tại điều
30 Điều lệ Đảng.
Tuy nhiên, vẫn còn một số tổ chức Đảng chưa thực hiện tốt nhiệm vụ
được giao. Cấp ủy, người đứng đầu cấp ủy chưa thực sự quan tâm chỉ đạo,
hàng quý, 6 tháng , một năm chưa xây dựng được chương trình, kế hoạch
kiểm tra (chủ yếu là cơ sở) chưa sử dụng sức mạnh tổng hợp của các Ban
Đảng để giúp cấp ủy tiến hành công tác kiểm tra, một số cuộc kiểm tra chưa
đúng quy trình, nên hiệu quả tác dụng thấp. Một số tổ chức Đảng nhận thức
về công tác kiểm tra còn hạn chế, chưa phân biệt được nhiệm vụ kiểm tra của
cấp ủy theo điều 30 của Điều lệ Đảng và nhiệm vụ của UBKT, vai trò tham
mưu của UBKT một số nơi thiếu chủ động .
UBKT các cấp đã kiểm tra 41 tổ chức Đảng cấp dưới về thi hành kỷ
luật Đảng (bằng 89.13% so với nhiệm kỳ trước), trong đó UBKT Tỉnh ủy
kiểm tra 10 tổ chức: UBKT Huyện ủy và tương đương kiểm tra 31 tổ chức,
gồm: 5 huyện ủy, Ban thường vụ h uyện ủy và tương đương; 5 UBKT huyện
1