Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Kon Tum là một tỉnh vùng cao biên giới nằm ở cực bắc Tây Nguyên.
Đây không chỉ là một vị trí quan trọng về kinh tế, quốc phòng và an ninh
mà còn là một địa bàn phức tạp về tôn giáo. ở Kon Tum, bên cạnh tín ng-
ỡng - tôn giáo bản địa cổ truyền, còn có một số tôn giáo đợc ngoại nhập vào
những thời điểm, hoàn cảnh lịch sử khác nhau. Đạo Công giáo là một trong
những tôn giáo nh thế.
Sự thâm nhập đạo Công giáo vào địa bàn tỉnh Kon Tum bắt đầu từ
những năm giữa thế kỷ trớc (1842), tồn tại và phát triển cho đến nay. Từ khi
thành lập giáo phận Kon Tum đến nay đã trải qua 152 năm (1848 - 2000),
trớc sau vẫn là một giáo phận truyền giáo gắn bó chặt chẽ với Vatican, Tòa
thánh Vatican cho rằng đây vẫn còn là một miền truyền giáo và giao cho
hội truyền giáo thừa sai Paris cai quản. Giáo hội Công giáo vẫn tìm mọi
cách để phát triển đạo lên vùng cao nguyên Kon Tum.
Ngày nay, trong quá trình thực hiện chiến lợc "Diễn biến hoà bình",
các thế lực phản động đã triệt để sử dụng vấn đề tôn giáo nh một phơng
thức, một ngòi nổ để thúc đẩy sự sụp đổ về thể chế chính trị ở các nớc
XHCN. Chúng cấu kết với bọn cầm đầu giáo hội ở Trung tâm Toà thánh
Vatican, chỉ đạo, điều khiển các giáo sỹ cao cấp trong các nớc XHCN lôi
kéo quần chúng tín đồ, biến họ thành lực lợng đối trọng ngay trong lòng
các nớc đó, tạo nên mâu thuẫn xã hội bên trong và tách họ ra khỏi sự lãnh
đạo của Đảng Cộng Sản. Địa bàn tỉnh Kon Tum nằm trong phạm vi mà các
thế lực phản động thực hiện chiến lợc đó.
Đạo Công giáo ở Kon Tum là một tôn giáo lớn nhất trong tỉnh, có số
giáo dân chiếm hơn 70% tổng số đồng bào theo đạo trong tỉnh. Suốt hai
cuộc kháng chiến, đông đảo quần chúng tín đồ Công giáo yêu nớc đã đi
theo cách mạng, theo Đảng và đã góp phần vào cuộc đấu tranh giải phóng
dân tộc. Trong thời kỳ xây dựng đất nớc hiện nay, quần chúng tín đồ Công
giáo vẫn là lực lợng có vai trò to lớn trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc, giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội trong địa bàn dân c.
đông đảo quần chúng giáo dân vào sự nghiệp "Dân giàu, nớc mạnh, xã hội
công bằng, dân chủ, văn minh", qua đó thể hiện đợc ớc nguyện sống "Tốt
đời, đẹp đạo" của đông đảo quần chúng giáo dân ở Kon Tum là vấn đề bức
xúc hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài.
Đổi mới công tác đối với đạo Công giáo nói chung và đổi mới công
tác vận động quần chúng tín đồ Công giáo nói riêng đang là một trong
những yêu cầu của sự nghiệp đổi mới, nhất là sau khi có Nghị quyết 24 của
2
Bộ Chính trị. Xung quanh vấn đề này đã có nhiều công trình nghiên cứu của
nhiều tác giả nh: Nguyễn Văn Long, luận án tiến sỹ triết học "Vận dụng
quan điểm khoa học về tôn giáo trong công tác đối với thiên chúa giáo hiện
nay ở Việt Nam"(1999); Lê Văn Phụ, luận văn thạc sỹ "Công tác t tởng của
tổ chức cơ sở Đảng đối với quần chúng theo đạo Thiên chúa" (1993).
ở khu vực Thủ Đức - Thành phố Hồ Chí Minh có tác giả Lê Tăng,
luận văn thạc sỹ "Giải quyết vấn đề Thiên chúa giáo ở huyện Thủ Đức -
thành phố Hồ Chí Minh trong công cuộc đổi mới" (1993).
ở khu vực Miền Bắc có tác giả Hoàng Mạnh Đoàn, luận văn thạc sỹ
"Công tác vận động quần chúng theo đạo Thiên chúa ở miền Bắc nớc ta
hiện nay" (1993).
ở Kon Tum có tác giả Võ Sáu, luận văn tốt nghiệp cử nhân chính trị
"Đấu tranh chống các thế lực thù địch lợi dụng đạo Công giáo ở tỉnh Kon
Tum nhằm đảm bảo ổn định chính trị, an ninh Quốc phòng ở địa phơng"
(1998).
Nhìn chung các công trình nghiên cứu đó đã đề cập đến công tác đối
với đạo Công giáo trên nhiều góc độ, nhiều mặt; mang tính tổng quát trên
phạm vi cả nớc, hay từng khu vực. Riêng "Nâng cao hiệu quả công tác vận
động quần chúng tín đồ Công giáo ở Kon Tum hiện nay" vẫn cha có một
công trình nghiên cứu nào đề cập đến một cách trực diện, có hệ thống.
Nghiên cứu công tác vận động quần chúng tín đồ Công giáo ở Kon
ờng công tác tôn giáo trong tình hình mới").
4. Cơ sở lý luận và phơng pháp nghiên cứu.
- Luận văn dựa trên cơ sở lý luận, phơng pháp luận của chủ nghĩa
Mác - Lênin, t tởng Hồ Chí Minh về tôn giáo và các quan điểm, đờng lối,
chủ trơng, chính sách của Đảng và Nhà nớc ta về công tác tôn giáo. Đồng
thời có kế thừa những kết quả của các công trình nghiên cứu liên quan để
làm rõ những vấn đề mà mục đích và nhiệm vụ của luận văn đặt ra.
- Phơng pháp nghiên cứu:
Luận văn thực hiện theo các phơng pháp kết hợp lôgic với lịch sử, kết
hợp phân tích với tổng hợp, phơng pháp so sánh, trong đó coi trọng phơng pháp
tổng kết thực tiễn
5. Đóng góp mới về mặt khoa học của luận văn.
- Bớc đầu phát hiện một số vấn đề cấp bách đang đặt ra trong công
tác vận động quần chúng tín đồ Công giáo ở Kon Tum hiện nay.
4
- Nêu phơng hớng và những giải pháp chủ yếu có tính khả thi, góp
phần đổi mới công tác vận động quần chúng tín đồ Công giáo ở Kon Tum
hiện nay có hiệu quả hơn.
6. ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn.
- Luận văn góp phần cung cấp cơ sở khoa học giúp cho việc thực hiện
công tác vận động quần chúng tín đồ Công giáo ở tỉnh Kon Tum hiện nay
có hiệu quả hơn.
- Ngoài ra luận văn có thể làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu
giảng dạy, học tập ở trờng chính trị tỉnh Kon Tum về những vấn đề có liên
quan.
7. Kết cấu của luân văn.
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo. Nội
dung chính của luận văn đợc kết cấu thành 2 chơng 4 tiết.
5
Chơng 1
thể thì hầu hết các c dân ở đây đều lấy kinh tế nông nghiệp làm phơng thức
sinh sống chính. Do đó, khi nói đến các đặc điểm của hoạt động kinh tế ng-
ời ta thờng bắt đầu từ hoạt động nông nghiệp.
Canh tác nơng rẫy: Các dân tộc ở Kon Tum đã tiến sâu vào giai
đoạn nông nghiệp trồng trọt. Trong nền kinh tế truyền thống, rẫy có vị trí
quan trọng hàng đầu, là nguồn sống chủ yếu của con ngời. Tại khoảnh rừng
đã chọn, trên cơ sở xem xét độ dốc, đất đai và đã tiến hành các nghi thức
tôn giáo xin phép thần linh suôn sẻ, việc đầu tiên là đốn cây, phát cỏ, khai
quang mặt bằng. Khi sắp đến thời vụ gieo trồng, ngời ta chỉ dọn rẫy, rồi có
thể dùng cây vót nhọn chọc hốc để tra hạt giống. Sau đó, rẫy đợc rào giậu,
trông coi. Cuối cùng là đến kỳ thu hoạch với đặc điểm nổi bật là dùng đôi
tay trần tuốt lấy thóc. Ngoài ra, trên rẫy còn trồng nhiều thứ khác để đáp
ứng nhu cầu của cuộc sống nặng tính tự cung tự cấp, nhng cây lúa giữ vị trí
chủ đạo, năng suất lao động thấp, đời sống gặp nhiều khó khăn. Một bộ
phận khá lớn của dân c, gồm 9.241 hộ, 47.849 nhân khẩu còn du canh du c,
hay đã định c cha định canh.
Canh tác ruộng nớc: Tuy không phổ biến nhng nó có mặt trong nền
kinh tế của đồng bào khá lâu. Ngời dân thờng làm ruộng theo kiểu "dao
canh thủy nậu". Tại các thửa ruộng ngân nớc, cả tập thể ngời hoặc cả đàn
trâu quần đất thay vì việc cuốc hay cày bừa, rồi dùng cuốc hoặc bàn trang
để san mặt ruộng. Ngời Xơ Đăng, Rơ Mâm tuy còn dùng kỹ thuật canh tác
khá sơ khai nhng lại biết đắp đập, khơi mơng, bắt mảng lấy nớc về làm
ruộng. Sau mùa tuốt lúa hay xét trên bình diện chung của tỉnh, ruộng nớc
7
chỉ là một bộ phận nhỏ trong nền kinh tế cổ truyền của đồng bào các dân
tộc tỉnh Kon Tum.
Kinh tế hái lợm: Có tầm quan trọng đáng kể để cung cấp, bổ sung
thức ăn cho ngời dân một cách thờng xuyên. Thờng ngày theo mùa, ngời
dân có thể hái các loại rau, măng, nấm Vào lúc giáp hạt hoặc mùa màng
thất thu thì rừng còn là một nguòn lơng thực cần kíp: các loại cây thân củ,
Hôn nhân và gia đình tùy theo dân tộc mà tổ chức gia đình có khác nhau
hoặc theo mẫu hệ (Gia Rai); hoặc theo song hệ (Xơ Đăng, Giẻ Triêng);
hoặc theo phụ hệ (Ba Na).
Do trình độ phát triển kinh tế, xã hội còn thấp nên vai trò của ngời
có địa vị, có uy tín trong xã hội truyền thống rất quan trọng, nh thủ lĩnh dân
tộc, vua lửa (hỏa xá), vua nớc (thủy xá), thầy cúng, trí thức dân tộc Vua
lửa, vua nớc, thầy cúng không có quyền lực trong bộ máy cai trị, nhng họ
nắm dân thông qua thần quyền, tục quyền. Đây cũng là đặc điểm quan
trọng mà các giáo Công giáo Pháp, Mỹ rất chú ý lợi dụng, tranh thủ để nắm
dân, để tuyên truyền, phát triển đạo.
Trong vùng dân tộc thiểu số còn tồn tại nhiều phong tục, tập quán
lạc hậu Do đời sống kinh tế khó khăn, phơng tiện sản xuất thô sơ, sản
xuất phụ thuộc hoàn toàn vào thiên nhiên, do trình độ dân trí thấp, nên quần
chúng rất tin vào Giàng (Thần). Họ luôn luôn trông chờ vào sự giúp đỡ, che
chở của Giàng hay những lực lợng siêu nhiên khác. Cũng chính vì vậy, họ
chỉ quan tâm những vấn đề thiết thực đối với cuộc sống hàng ngày của họ,
mang lại lợi ích cụ thể, trớc mắt họ. Họ chỉ tin, nghe theo những gì họ có
thể nhìn thấy, sờ thấy. Mặt khác, do sống xen kẽ với ngời Kinh, một dân tộc
có đời sống và dân trí cao hơn, thì đồng bào dân tộc thiểu số lại luôn có t t-
ởng mặc cảm, tâm lý tự ti. Và nói chung, đồng bào dân tộc thiểu số ở đây
sống chân thật, chất phác đơn giản và dễ hiểu. Đối với ngời dân tộc thiểu
9
số, tệ ăn cắp, lấy vợ lấy chồng cùng dòng họ sẽ bị già làng phạt nặng, nh
phạt trâu, bò, heo, gà, rợu, chiêng
Trong dân tộc Xơ Đăng, Ba Na và Gia Rai mỗi làng đều xây dựng
một nhà rông, biểu hiện sự mạnh mẽ, vững chắc, dùng cho thanh niên sinh
hoạt và nghỉ ngơi, hay là nơi tụ tập để già làng giải quyết các vấn đề nảy
sinh trong làng.
Đặc điểm về dân tộc
Theo dấu tích di chỉ khảo cổ học, những yếu tố văn hóa cổ xa còn
Phơng Hòa (1892), Trung Lơng (1914), Phụng Sơn (1924), Ngô Thạnh
(1925), Ngô Trang (1925), Phớc Cần (1927), Lơng Khế (1927) Đến nay,
theo thống kê, ngời Kinh chiếm gần 46% dân số so với các dân tộc khác
trong tỉnh. Họ c trú hầu hết ở thị xã, thị trấn, ven các trục đờng giao thông,
các khu vực nông trờng, kinh tế mới.
Nhìn chung các dân tộc ở Kon Tum có mối quan hệ đoàn kết gắn
bó, có tinh thần yêu nớc và truyền thống cách mạng, có nhiều đóng góp to
lớn cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng đất nớc trớc đây và cho sự nghiệp
xây dựng, bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa hiện nay. Nhiều làng, xã là căn
cứ cách mạng từ những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp và chốn
Mỹ. Kon Tum cũng là nơi có nhiều cán bộ, trí thức, anh hùng rất nổi tiếng
là ngời dân tộc thiểu số.
Đặc điểm về tín ngỡng - tôn giáo
Đối với ngời dân ở Kon Tum, tuy đời sống vật chất còn nghèo nàn,
lạc hậu, nhng đời sống tinh thần phong phú, đa dạng, luôn làm cho con ngời
sống tràn ngập trong bầu không khí lễ hội nh để tiếp thêm sức mạnh, giúp
họ tự tin, vững vàng hơn trong cuộc sống.
11
Tất cả dân tộc đều thống nhất một điểm bao trùm và chi phối quan
trọng trong nhiều hoạt động của cá nhân cũng nh cộng đồng, đó là tín ng-
ỡng vạn vật hữu linh. Hiểu theo đó, thế giới có nhiều siêu nhiên ẩn tàng vô
hình trong các khách thể vật chất ở khắp nơi xung quanh con ngời và cả
trong bản thân của mỗi ngời. Xuất phát từ những tín niệm đó, các thần linh
lại chi phối một cách sâu sắc, huyền bí đối với cuộc sống của họ. Những lễ
thức tôn giáo gắn liền với hầu hết các lĩnh vực hoạt động nhằm ngăn ngừa
tai họa, rủi ro, cầu xin sự tốt lành may mắn. Điểm chung nhất của ngời dân
là trong cúng bái bao giờ cũng có việc hiến sinh, dân đồ ăn thức uống tế
thần và lời khấn cầu mong sự tốt đẹp cho cuộc sống trần thế, nhờ trời phù
hộ cho con cháu khỏe mạnh, sinh sôi.
Xã hội thần thánh của ngời Tây Nguyên rất phong phú, đa dạng.
chim king cang bay về với tổ tiên ở vùng Giằng bên Quảng Nam. Ngời Ba
Na tin mỗi ngời có 3 hồn, hồn chính ở xoáy đầu, còn hai hồn phụ ở trán và
thân thể; hồn ngời chết hóa ra ma (atâu) và qua 8 lần biến hóa, bắt đầu từ
thành hổ, thành mèo rừng, thành chồn, cheo, chuột, chuột không đuôi, sơng
mù và tan vào thiên nhiên. Thế giới ngời chết đợc ngời dân mờng tợng mô
phỏng cuộc sống của chính họ, nhng có sự trái ngợc, đối lập nhất định giữa
đàng ngời và đàng ma, nếu bên này là đêm thì bên kia là ngày. Vì vậy, cả
cộng đồng phải thực hiện những lễ thức tôn giáo và kiêng cữ nhất định, với
sự ảo vọng nhận đợc sự bình yên, tránh đợc rủi ro, hiểm họa. Đó là dịp để
cúng quải, hiến tế của tập thể, định kỳ và không định kỳ do buôn làng tổ
chức. Trớc các thần, dù để tạ ơn hay tạ lỗi, dù hứa hẹn hay xin điều gì, khi
ấy lời cầu khấn phát ra với t cách cộng đồng và cả cộng đồng đang trông
chờ chung sự linh nghiệm ở những gì sẽ đến trong cuộc sống của buôn làng
mình.
Việc cúng bái theo truyền thống đến nay vẫn là gánh nặng đối với
đồng bào dân tộc thiểu số, vốn đời sống đã hết sức khó khăn, thiếu thốn;
nhng nó cũng không giải quyết đợc vấn đề họ mong muốn. Cùng với những
tác động của thời đại, khi giao lu đợc mở rộng, trình độ dân trí đợc nâng
lên, các tín ngỡng tôn giáo cổ truyền bắt đầu lung lay, mất dần sự thuyết
13
phục, và tất nhiên nó phải nhờng chỗ cho những tín ngỡng tôn giáo hợp thời
hơn.
Tín ngỡng cổ truyền hình thành và duy trì trong cộng đồng các dân
tộc thiểu số một cách giải thích về thế giới bên ngoài, đồng thời là một chỗ
dựa về tinh thần trong cuộc sống có nhiều bất trắc và trở lực từ thiên nhiên
và con ngời. Thông qua các lễ hội tôn giáo cổ truyền mà liên kết cộng đồng,
gắn bó cá nhân với gia đình và cộng đồng. Bên cạnh đó, các lễ nghi nh tục
chia của cho ngời chết, lễ tạ thần linh giúp cho mùa màng bội thu xét về
mặt đạo đức, nó giáo dục cho các thành viên trong cộng đồng ý thức về
quan hệ tơng thân tơng ái, ăn quả nhớ ngời trồng cây
1.1.2. Quá trình đạo Công giáo thâm nhập, phát triển trên địa
bàn tỉnh Kon Tum
- Trớc ngày 30/4/1975
Vào giữa thế kỷ XIX đời vua Thiệu Trị, triều đình nhà Nguyễn đã ra
những sắc chỉ gắt gao cấm đạo Thiên Chúa hoạt động và tổ chức đàn áp, bắt
bớ dữ dội ở những vùng duyên hải Trung Bộ, nhng những nhà truyền Giáo
hội Thừa sai Paris đã nhìn thấy "ở địa phận đàng trong có một miền truyền
giáo mới, nơi các dân tộc thợng lu trú, vùng rừng núi ở giữa sông Mê Kông
và biển Đông". Sự nghiệp truyền giáo lên vùng cao nguyên Trờng Sơn đợc
bắt đầu và Kon Tum trở thành miền đất thánh đầu tiên trên cao nguyên.
Có thể khái quát lịch sử quá trình xâm nhập, phát triển của đạo
Công giáo ở Kon Tum qua các mốc lịch sử và thời kỳ sau:
Thời kỳ truyền giáo và gây cơ sở đầu tiên (1842 - 1870):
15
Năm 1842, Giám mục Stephan Cuénot, đại diện tổng tòa, quản
nhiệm địa phận Đàng Trong ở Quy Nhơn - tỉnh Bình Định, đã cử hai linh
mục ngời Pháp tìm đờng lên vùng thợng Tây Nguyên truyền giáo nhng việc
cha thành thì đã bị nhóm lái buôn ngời Việt bắt nộp cho triều đình Huế, sau
đó vài ba chuyến xâm nhập khác lên Tây Nguyên cũng bất thành.
Sau nhiều lần thất bại, Cuénot đã nhận ra rằng trong giai đoạn mà
nhà Nguyễn đang truy bắt những ngời theo đạo Kitô, thì một Thừa sai ngời
Âu tìm đờng xâm nhập lên vùng cao nguyên là liều lĩnh và khó thành công.
Vì vậy cần phải có một ngời Việt nào đó đi thám thính trớc, xem xét các
nơi thờng có các thơng gia qua lại và thu thập các tin tức về các bộ lạc ngời
thợng, ngoài tầm lui tới của các thơng nhân ngời Kinh, chính ở đó mới có
thể thiết lập đợc cơ sở truyền giáo đầu tiên. Với những ý đồ đó, năm 1848,
Giám mục Cuénot đã tìm đợc một tu sĩ là Nguyễn Do ngời Hoài Ân - tỉnh
Bình Định (thờng gọi là thấy Sáu Do) và giao nhiệm vụ lên Tây Nguyên tìm
đờng truyền giáo. Nguyễn Do với một vài lái buôn ngời Kinh đã tìm đợc
một con đờng độc đạo, bí mật lên vùng cao nguyên và nghiên cứu đợc
quyền Pháp phải khẩn trơng thay đổi phơng pháp truyền giáo ở đây, và nó
đợc thể hiện rõ: Trong những năm 60 (thế kỷ XIX), sau khi Hiệp ớc Nhâm
Tuất (1882) đợc ký giữa Pháp và triều đình nhà Nguyễn, về việc bãi bỏ các
sắc chỉ cấm đạo Thiên Chúa ở Việt Nam, các nhà truyền giáo thuộc Hội
Thừa sai Paris đợc sự trợ giúp của "Chính quốc" đã đẩy mạnh công cuộc
truyền bá đức tin. Vợt qua những khoảng cách về ngôn ngữ, về thói quen
tâm lý và dân tộc, những cản trở từ các tộc ngời bản địa, các nhà truyền
giáo đã phát triển đợc khoảng 800 giáo dân là ngời dân tộc thiểu số, và
Giáo hội Pháp đã công nhận sự thành công bớc đầu trong việc truyền giáo ở
vùng dân tộc thiểu số Kon Tum của Hội Thừa sai Paris.
17
Thời kỳ phát triển đạo và hình thành địa phận Kon Tum (1870 -
1932):
Sau khi Pháp xâm lợc nớc ta, với những tài liệu ban đầu về một
miền đất cao nguyên hoang sơ của các cha cố thừa sai. Thực dân Pháp đã
đặc biệt chú ý đến vùng chiến lợc này, chúng tích cực bảo trợ và biến nó
thành chỗ dựa cho hoạt động truyền giáo, giao cho các linh mục nhiệm vụ
quản lý hành chính để họ trở thành những "cha đạo - thực dân" đầy quyền
lực và giàu có trên Tây Nguyên. Đây là giai đoạn quan trọng trong quá trình
truyền đạo đến Kon Tum, không những đã ổn định đợc các cơ sở truyền bá
đức tin mà còn có cơ hội để các vị thừa sai đúc rút ra những kinh nghiệm,
thủ đoạn truyền giáo, đồng thời là giai đoạn khai phá, phát triển đồn điền
tạo cơ sở vật chất cho Giáo hội.
Đến năm 1929 vùng truyền giáo Kon Tum đã hình thành đợc hệ
thống đạo ở vùng đông dân, dọc các trục lộ giao thông, đồn bót địch đóng
khắp ba tỉnh Kon Tum, Pleiku, Đăklăk và có khoảng 17.700 tín đồ và một
số lợng dự tòng, mà trung tâm điểm là Kon Tum. Có 23 cơ sở, 146 họ đạo
thợng, 23 linh mục và một trờng nội trú đào tạo giảng viên giáo lý cho ngời
dân tộc, mang tên trờng Giáo phu Cuénot (số liệu trên của cả ba tỉnh). Có
thể các nhà truyền giáo đã thành công trong công cuộc truyền đạo bằng
195 làng đạo, 01 giám mục, 17 linh mục (trong đó có 09 linh mục là ngời
Pháp), 300 giáo phu, 10 trờng học và 32 lớp học ở làng, 01 trờng tiểu chủng
viện với 255 tiểu chủng sinh, 01 trờng đào tạo giáo phu với gần 200 học
viên, 04 trờng phổ thông do Giáo hội quản lý, 07 cơ sở nuôi dạy trẻ, 01 tr-
ờng dạy nghề, 06 dòng nữ tu
- Từ năm 1975 cho đến nay
19
Ngày 17/03/1975 tỉnh Kon Tum đợc hoàn toàn giải phóng. Đây
cũng chính là cái mốc đánh dấu sự thay đổi lớn trong hệ thống Giáo hội
Công giáo ở Kon Tum, chính quyền quân quản địa phơng đã có những
quyết sách đúng đắn đối với các hoạt động chống đối của đạo Công giáo và
một số linh mục có hoạt động chống phá cách mạng, nh việc ta bắt linh
mục Lê, linh mục Hoàng và trục xuất 13 giáo sĩ ngời nớc ngoài (ngày
12/8/1975), chấm dứt 135 năm có mặt của giáo sĩ ngời nớc ngoài tại Kon
Tum và giải tán các hội đoàn, đóng cửa các trờng đào tạo, đồng thời tiến
hành cải tạo Giáo hội, tiếp nhận nhiều cơ sở vật chất của Công giáo, phục
vụ cho các yêu cầu công ích của địa phơng. Bị mất chỗ dựa về chính trị và
cả về quyền lợi vật chất, trong khi đó giáo dân lại bị xáo trộn lớn, không
những phân tán và giảm về số lợng, mà còn suy sụp về niềm tin Kitô giáo là
một thất bại lớn của đạo Công giáo ở Kon Tum. Sau thời kỳ khủng hoảng,
hoạt động tôn giáo của giáo phận Kon Tum dần dần đi vào xu hớng chấp
nhận và thích nghi với sự quản lý của chính quyền cách mạng. Một thời
gian rất dài trớc thế chiến thắng áp đảo của cách mạng và đối sách của ta
đối với Công giáo trong thời gian đó, trên địa bàn Kon Tum, Công giáo
không phát triển, thậm chí nhiều vùng trớc đây, với số lợng đông giáo dân
là đồng bào dân tộc thiểu số nay đã bỏ và "khô, nhạt" đạo, nh huyện Đăk
Tô, Ngọc Hồi, Kon Plong
Đất nớc bớc vào thời kỳ cách mạng mới, thực hiện công cuộc đổi
mới dới sự lãnh đạo của Đảng, hoạt động của Giáo hội Kon Tum đã có
những chuyển biến đáng khích lệ. Nhiều giáo sĩ, chức sắc Công giáo tham
hình thành các hội đoàn mới, tăng cờng các hình thức hoạt động nhằm hợp
thức các tổ chức mà Chính quyền không cho phép. Các Linh mục trẻ có
năng lực đến các vùng "khó khăn". Tăng cờng đào tạo Linh mục. Tăng cờng
"rao giảng lời Chúa". Tổ chức các lớp học kinh bổn cho mọi lứa tuổi, đặc
biệt chú trọng tới lớp trẻ, đa nữ tu xuống dạy kinh bổn ở các giáo xứ. Sau
khi học là tổ chức các kỳ thi, sát hạch dới nhiều hình thức khác nhau, có
đánh giá và khen thởng từng đối tợng. Một số chức sắc, chức việc có t tởng
(
1) Nguyễn Văn Luyện, tìm hiểu mặt chính trị của vấn đề Thiên Chúa giáo ở Việt Nam trong giai đoạn
hiện nay, Luận văn thạc sĩ khoa học chuyên ngành CNXHKH, Học viện CTQG Hồ Chí Minh, tr. 61
(
2) Chu Nguyên Chơng, ý nghĩa của một bài học lịch sử (tài liệu tham khảo).
21
cơ hội, vọng ngoại, vâng phục, lợi dụng chính sách tự do tín ngỡng, tôn
giáo để vi phạm tự do tín ngỡng, tôn giáo. Đó là việc một số Giám mục,
Linh mục ở thị xã Kon Tum có những việc làm cố ý không thông qua
chính quyền. Có nơi, chức sắc, chức việc ngăn cản tín đồ tham gia các hoạt
động xã hội, thực hiện các chủ trơng, chính sách của Đảng và Nhà nớc, làm
cho các tổ chức quần chúng ở địa phơng gặp nhiều khó khăn trong sinh
hoạt, tổ chức hoạt động.
Gần đây, ở các xứ đạo tăng cờng xây dựng cơ sở vật chất, tu sửa, cơi
nới Tòa giám mục, tu viện và xây dựng lại nhà thờ ở những nơi đã bị h
hỏng, đòi lại đất nớc đã bàn giao cho Nhà nớc và các tổ chức xã hội hiện
nay đang sử dụng (phụ lục 1 về đất đai, trang 85, 86, 87). Giáo hội tìm mọi
cách khôi phục mở mang cơ sở tôn giáo ở những nơi "khô", "nhạt đạo",
vùng dân tộc ít ngời, khôi phục và tổ chức lại cấp hành chính đạo (nh tách
họ đạo, tổ chức hoạt động ở địa phận giáo hạt). Tăng cờng, củng cố, trẻ hóa
ban hành giáo cả số lợng và chất lợng, chủ yếu tín đồ hoạt động tôn giáo
tích cực; có nơi tranh thủ đảng viên gốc giáo để bầu vào ban hành giáo.
Các chức sắc Giáo hội tăng cờng quan hệ với Chính quyền, lợi dụng
quân đội làm việc này)giải tán đám đông, phải chủ động thông báo cho các
địa bàn làm lân cận có tín đồ tôn giáo không để phụ họa, lây lan; nắm cho
đợc lực lợng phụ trách các Ban Chấp sự, những tín đồ có uy tín, dùng họ để
giải thích, ngăn chặn các hoạt động quá khích gây rối. Việc gọi hỏi bắt giữ
số này cần hết sức thận trọng, nhất là khi tình hình đang căng thẳng; chi
làm khi chỉ rõ cho quần chúng thấy tận nơi của những ngời bị xử lý, trong
nội bộ quần chúng tín đồ có sự phân hóa, đồng tình nhất định với ta. Để giải
quyết vấn đề này cho tốt, chúng ta phải làm tất công tác nắm tình hình, chú
ý tâm t nguyện vọng của quần chúng, phát hiện những việc làm sai trái của
ta gây bất bình trong tín đồ. Cần có kế hoạch phát động quấn chúng, xây
23
dựng đội ngũ cán bộ ở những nơi phong trào yếu kém, hay đang có vấn đề
tranh chấp khiếu kiện.
1.1.3. Đặc điểm tình hình quần chúng tín đồ Công giáo ở Kon
Tum
Qua tìm hiểu nghiên cứu tình hình đạo Công giáo ở Kon Tum, có
thể khái quát quần chúng tín đồ Công giáo ở đây có những nét đặc điểm
chủ yếu sau:
Một là, quấn chúng tín đồ theo đạo Công giáo ở Kon Tum không chỉ
có giáo dân ngời kinh mà còn có và chủ yếu là giáo dân ngời dân tộc thiểu
số. Đạo Công giáo ở Kon Tum không những có vùng toàn tòng mà còn có
vùng tập trung hoặc đan xen trong các vùng dân c, có các tôn giáo khác
hoặc không có tôn giáo.
Hiện nay, Kon Tum có 7 huyện, thị xã có tín đồ theo đạo Công giáo
sinh sống, phân bố trên tất cả từ khu vực thị xã đến vùng sâu, vùng xa, vùng
đồng bào dần tộc, vùng kinh tế mới, đặc biệt ở một số địa bàn chiến lợc
quan trọng nh: Đăk glu (vùng cao Ngọc Linh, Mờng Hon); Măng Bút,
Măng Đen (Kon plông); Ngọc Hồi (ngã ba Đông Dơng). Đặc biệt, có xã và
điểm kinh tế mới toàn tòng (chiếm 75% đến 80% giáo dân so với dân số
trong xã) nh ở Đăk tơ re - huyện Kon plông, xã Ya Chim - thị xã Kon Tum,
rộng, ngời tha. Giáo dân phân bố không đồng đều, trừ một số sống tập trung
ở thị xã Kon Tum là tiểu thơng; làm ăn buôn bán nhở, còn chủ yếu là ngời
nông dân lao động sống ở các vùng sâu, vùng xa, vùng kinh tế mới, vùng
thờng xuyên gặp nhiều khó khăn về điều kiện sản xuất, đi lại, điện nớc sinh
hoạt, điều kiện học hành và nhu cầu văn hóa khác.
Những năm qua, thực hiện công cuộc đổi mới của Đảng, đồng bào
giáo dân đã hởng ứng tích cực, phát huy nguồn lực của cộng đồng, đầu t sản
xuất chuyển dịch cơ cấu, đa dạng hóa ngành nghề, góp phần thúc đẩy kinh
25