ĐẶC ĐIỂM XƯNG HÔ CỦA NGƯỜI HÀN VÀ NGƯỜI VIỆT LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN - Pdf 13

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

ĐẶC ĐIỂM XƯNG HÔ CỦA
NGƯỜI HÀN VÀ NGƯỜI VIỆT
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Mã số : 62220240
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
GS.TS. NGUYỄN ĐỨC TỒN
HÀ NỘI - năm 2014
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu,
dẫn chứng và kết quả nêu trong luận án là hoàn toàn chính xác, trung thực và
chưa từng có ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
KÝ HIỆU VIẾT TẮT, BẢNG BIỂU SỬ DỤNG VÀ
MỘT SỐ QUY ƯỚC TRONG LUẬN ÁN
Ký hiệu viết tắt
ĐTNX: đại từ nhân xưng
TXH: từ xưng hô
TNXH: từ ngữ xưng hô
CXH: cách xưng hô
CLGT: chiến lược giao tiếp
ĐTGT: đối tượng giao tiếp
BẢNG BIỂU
Bảng 1: Hệ thống ĐTNX trong tiếng Hàn
Bảng 2: Bảng danh từ chỉ quan hệ thân tộc được gắn hậu tố 님/nim
Bảng 3: Bảng danh từ chỉ chức vụ, nghề nghiệp được gắn hậu tố 님/nim
Bảng 4: Bảng tổng hợp CXH giữa vợ và chồng trong tiếng Hàn và tiếng Việt
Một số quy ước
- Trong luận án này, chúng tôi phiên âm tên riêng của người Hàn và một số từ

3.1.3. Xưng hô giữa anh chị và em.………………………………………… 77
3.2. Xưng hô ngoài xã hội …………………………………………………… 79
3.2.1. Xưng hô trong công ti/cơ quan …………………………………………80
3.2.2. Xưng hô trong nhà trường …………………………………………… 86
3.2.3. Xưng hô trong bệnh viện ……………………………………………… 94
3.2.4. Xưng hô ở nơi công cộng …………………………………………… 100
3.3. Điểm tương đồng và khác biệt về cách xưng hô trong gia đình
và ngoài xã hội ở người Hàn Quốc và người Việt ……………………… 106
Chương 4: Ứng dụng kết quả nghiên cứu vào việc dạy - học và dịch thuật
tiếng Hàn cho người Việt Nam ………………………………………………… 111
4.1. Phân tích và đánh giá lỗi xưng hô bằng tiếng Hàn của sinh viên Việt Nam.111
4.2. Phương hướng và biện pháp khắc phục lỗi xưng hô trong việc
dạy và học tiếng Hàn đối với sinh viên Việt Nam……… ……………… 118
4.3. Ứng dụng kết quả nghiên cứu vào thực tiễn dạy – học tiếng Hàn ……… 125
4.4. Những lưu ý khi dịch thuật tiếng Hàn………………………………… 131
4.5. Những lưu ý khi xưng hô bằng tiếng Hàn đối với các cô dâu Việt Nam
kết hôn với chú rể người Hàn Quốc ………………………………………133
Kết luận …………………………………………………………………………… 138
Danh mục các công trình đã công bố ………………………………………… 143
Tài liệu tham khảo ……………………………………………………………… 144
Phụ lục……………………………………………………………………… 151
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Những năm gần đây, tiếng Hàn là một trong những ngoại ngữ được nhiều
người Việt Nam yêu thích, số lượng người học tiếng Hàn ngày càng tăng nhanh.
Đặc biệt, số lượng cô dâu Việt lấy chồng Hàn là rất lớn.
Việt Nam và Hàn Quốc có nhiều điểm giống nhau về lịch sử và văn hoá, cùng chịu sự
ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa. Tuy nhiên, giữa tiếng Hàn và tiếng Việt có nhiều
điểm khác biệt khiến cho người Việt khi học tiếng Hàn đã gặp không ít khó khăn.
Trong giao tiếp hàng ngày của mỗi dân tộc, xưng hô là hành động ngôn ngữ

và toàn diện về đặc điểm cách xưng hô trong sự so sánh - đối chiếu hai ngôn ngữ
Hàn -Việt. Chính vì thế, có thể nói vấn đề đối chiếu cách xưng hô của tiếng Hàn và
tiếng Việt cho đến nay vẫn còn là lĩnh vực mới mẻ, cần được quan tâm nghiên cứu.
Chính vì những lý do nêu trên, chúng tôi đã chọn đề tài nghiên cứu cho luận
án của mình là “Đặc điểm xưng hô của người Hàn và người Việt”. Chúng tôi sẽ tiến
hành nghiên cứu về vấn đề xưng hô trong tiếng Hàn một cách hệ thống, toàn diện
và sâu sắc hơn nhằm làm sáng tỏ hệ thống từ ngữ xưng hô (TNXH) và quy tắc sử
dụng TNXH trong tiếng Hàn. Đồng thời dựa trên kết quả nghiên cứu của các tác giả
đi trước, chúng tôi tiến hành đối chiếu để làm nổi bật những điểm giống nhau và
khác nhau của CXH trong tiếng Hàn và tiếng Việt.
Chúng tôi hi vọng kết quả nghiên cứu của luận án có thể giúp ích cho việc
dạy và học tiếng Hàn cũng như tiếng Việt với tư cách như một ngoại ngữ, đồng thời
phục vụ cho việc dịch thuật tiếng Hàn sang tiếng Việt và ngược lại.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu chính của luận án là giới thiệu và phân tích bức tranh
toàn cảnh về TNXH và cách sử dụng TNXH trong tiếng Hàn. Trên cơ sở đó, luận
án đối chiếu chỉ ra những nét tương đồng và khác biệt về ngôn ngữ, văn hóa và tư
duy giữa người Hàn Quốc và người Việt được thể hiện qua CXH nhằm phục vụ
2
cho việc học tập, giảng dạy, dịch thuật giữa tiếng Hàn và tiếng Việt sao cho đạt
hiệu quả cao nhất.
Nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể của luận án như sau:
- Hệ thống hoá những vấn đề lí luận làm cơ sở nghiên cứu trong phạm vi luận án;
- Khảo sát các từ ngữ xưng hô và cách xưng hô trong giao tiếp tiếng Hàn;
- Phân loại các cách xưng hô trong tiếng Hàn;
- Phân tích và đối chiếu các từ ngữ xưng hô trong tiếng Hàn và tiếng Việt để chỉ ra
những điểm tương đồng và khác biệt của chúng ;
- Phân tích các lỗi trong cách sử dụng từ ngữ xưng hô tiếng Hàn của người Việt, chỉ ra
phương hướng và biện pháp khắc phục;
- Đề xuất một số ứng dụng khả thi phục vụ cho việc dạy - học tiếng Hàn;

dụng một ngôn ngữ với tư cách như một ngoại ngữ thông qua cách sử dụng các
TNXH. Kết quả nghiên cứu cũng góp phần làm sáng tỏ thêm về vai trò của các vai
xã hội trong việc sử dụng ngôn ngữ - một vấn đề rất có tính thời sự đang được các
chuyên ngành như Ngôn ngữ học xã hội, Ngôn ngữ học tâm lí và lí thuyết giao tiếp
hết sức quan tâm.
Về mặt thực tiễn:
Các kết quả nghiên cứu của luận án sẽ giúp cho người Việt học tiếng Hàn hiểu
biết sâu sắc hơn về hệ thống TNXH và CXH trong tiếng Hàn, nhờ đó mà việc học
tập, sử dụng tiếng Hàn sẽ hiệu quả hơn. Đồng thời các kết quả nghiên cứu còn giúp
cho việc dịch thuật và biên soạn các giáo trình dạy tiếng Hàn đạt hiệu quả cao.
Những lưu ý được luận án đưa ra sẽ giúp cho các cô dâu Việt lấy chồng Hàn tránh
được những lỗi xưng hô với chồng và gia đình nhà chồng do có sự khác biệt về văn
hóa giữa hai dân tộc.
Qua đó luận án góp phần tăng cường sự hiểu biết và hợp tác trên mọi lĩnh
vực giữa hai quốc gia Hàn Quốc và Việt Nam.
5. Phương pháp nghiên cứu
Trước tiên, luận án sử dụng phương pháp miêu tả để phác họa một cách
tương đối đầy đủ và toàn diện bức tranh từ ngữ xưng hô tiếng Hàn về phương diện
4
hệ thống - cấu trúc. Phương pháp phân tích thành tố nghĩa được sử dụng để phân
tích cấu trúc ngữ nghĩa của từng đơn vị từ ngữ xưng hô, chỉ ra các nét nghĩa khu
biệt của chúng trong mỗi ngôn ngữ. Phân tích ngữ nghĩa giao tiếp qua các ví dụ cụ
thể để làm nổi bật vấn đề về ngữ dụng học trong cách xưng hô của người Hàn.
Trên cơ sở kết quả nghiên cứu bằng các phương pháp vừa nêu, luận án sử
dụng phương pháp đối chiếu để chỉ ra những điểm tương đồng và khác biệt trong
cách xưng hô giữa tiếng Hàn và tiếng Việt.
Ngoài ra, luận án còn sử dụng phương pháp điều tra của ngôn ngữ học xã
hội bằng hình thức phỏng vấn trực tiếp và phiếu điều tra (anket) có định hướng đối
với các đối tượng là sinh viên đang học tiếng Hàn Quốc tại Khoa Ngôn ngữ và Văn
hoá Hàn Quốc, Trường Đại học Ngoại ngữ – Đại học Quốc Gia Hà Nội để thu thập

được diễn ra một cách tự nhiên). Chẳng hạn, câu hỏi “Ông thấy sinh viên của chúng
tôi đang làm việc tại công ti khi xưng hô với cấp trên có mắc lỗi xưng hô không?”,
hay “Chị thấy sinh viên của chúng tôi có biết sử dụng đúng cách xưng hô với người
Hàn trong công ti không?”…
Chúng tôi cũng đã phỏng vấn trực tiếp 10 cô dâu Việt lấy chồng Hàn (Nguyễn
Phương Th, Hoàng Hương Tr, Nguyễn Vân A, Nguyễn Hương Gi , Phạm Thu Ng,
Nguyễn Phương H, Ngô Thị T, Nguyễn Kiều O, Nguyễn Phương M, Vũ Thị H). Các
cô dâu này có nghề nghiệp khác nhau như: kinh doanh, nội trợ, nhân viên công ti.
Chúng tôi phỏng vấn trực tiếp bằng cách chuyện trò và đặt những câu hỏi kiểu như
“Chị đã bao giờ bị bố mẹ chồng hay chồng tức giận khi chị sử dụng sai từ xưng hô hay
chưa?” hay “Chị thường xưng hô với chồng bằng những TXH nào?”… Thời gian tiến
hành điều tra một số cô dâu Việt lấy chồng Hàn đang sống tại Hà Nội là từ tháng 06
đến tháng 08 năm 2012. Thời gian tiến hành điều tra một số cô dâu Việt lấy chồng Hàn
đang sinh sống tại Seoul - Hàn Quốc là tháng 07 năm 2013.
Ngoài ra, chúng tôi cũng đã có cơ hội được sống và học tập 03 năm tại Hàn
Quốc. Sau đó chúng tôi đã có những chuyến đi hội thảo ở Hàn Quốc vào tháng 12
năm 2009 và tháng 07 năm 2013 tiến hành khảo sát thực tế để tìm hiểu các TNXH
6
và CXH mới xuất hiện trong gia đình và ngoài xã hội ở Hàn Quốc. Chúng tôi đã
đến thăm và chuyện trò cùng với một số gia đình người Việt lấy chồng Hàn. Chúng
tôi cũng tới 03 trường học tiêu biểu tại Seoul, Hàn Quốc (Trường đại học
Kyunghee, Trường đại học Kookmin, Trường đại học Yonse) và siêu thị (siêu thị
Lotte, siêu thị Home plus), khu trung tâm thương mại (Doota, Hello APM), chợ
(Dongdeamun, Namdeamun), bệnh viện (bệnh viện Seoul, bệnh viện Kyunghee)…
của Hàn Quốc để khảo sát điền dã.
Luận án cũng tham khảo và kế thừa một số tư liệu là kết quả nghiên cứu về
từ ngữ xưng hô của những tác giả người Hàn và người Việt đi trước.
7. Cấu trúc của luận án
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, Tài liệu tham khảo và phần Phụ lục đối
chiếu từ ngữ xưng hô Hàn-Việt, phần nội dung chính của luận án gồm bốn chương

danh, xưng hô bằng từ thân tộc, xưng hô bằng đại từ, xưng hô bằng danh hiệu phổ
biến, xưng hô bằng các hình thức khác), và giải thích chi tiết đặc điểm từng loại hình
xưng hô đó. Ngoài ra, công trình còn mở rộng phạm vi nghiên cứu về những CXH đa
dạng khác. Tác giả cũng lưu ý cần phải cân nhắc khi dạy TXH, đồng thời nhấn mạnh
rằng thông qua CXH có thể hiểu được đặc trưng văn hóa của người bản ngữ.
8
Ok Jong Seok năm 2000 đã tái khảo sát về từ xưng hô Anh – Hàn [75]. Tác
giả đã đưa ra quá trình xác định CXH trong tiếng Hàn bằng biểu đồ thông qua sự so
sánh TXH tiếng Hàn với tiếng Anh, đồng thời chỉ ra 22 từ ngữ có khả năng sử dụng
để xưng hô. Thông qua những nghiên cứu so sánh gần đây, tác giả chỉ ra những
CXH đang được sử dụng phổ biến hiện nay. Tác giả đặc biệt nhấn mạnh tính chất
quan trọng của cái biểu hiện trong câu phải phù hợp theo CXH.
Công trình của Son Chun Sop - “Nghiên cứu về đặc tính và mẫu câu của từ
xưng hô Quốc ngữ hiện đại”, năm 2010 [71]. Công trình đã chia TXH tiếng Hàn
thành hai mảng lớn, đó là: từ xưng hô chung và từ xưng hô thân tộc. Tác giả đã chỉ
ra trong TXH thân tộc, có những TXH thân tộc dùng cho những người có quan hệ
thân tộc, có những TXH thân tộc dùng để xưng hô ngoài xã hội. Còn từ xưng hô
chung, thì không phải để dùng trong quan hệ thân tộc, mà chỉ để sử dụng với những
người không có quan hệ thân tộc, những người bình thường.
Luận án của Park Un Jeong, năm 2012 “Nghiên cứu về khuynh hướng sử dụng
TXH thân tộc của người học tập tiếng Hàn" [70]. Luận án đã tiến hành khảo sát và
thống kê các TXH thân tộc xuất hiện trong 06 bộ giáo trình dạy tiếng Hàn của 06
trường đại học Hàn Quốc. Tác giả đã điều tra, nghiên cứu về cách sử dụng TXH
thân tộc trong quan hệ phi thân tộc của hai loại đối tượng điều tra là người bản ngữ
và những sinh viên người nước ngoài đang học tiếng Hàn tại Hàn Quốc.
Ngoài ra còn nhiều công trình nghiên cứu khác liên quan đến vấn đề xưng hô
tiếng Hàn như: Kim Kyu Son (1987) nghiên cứu về từ thân tộc Quốc ngữ [56];
Kang Hee Suk (2000) phân tích mang tính ngôn ngữ học xã hội về việc sử dụng từ
xưng hô [54]; Kang Hyon Ja (2005) nghiên cứu đặc tính xưng hô tiếng Hàn [53];
Kô Ryuk Yang (2005) nghiên cứu đối chiếu từ xưng hô giữa tiếng Trung và tiếng

chung các mối quan hệ giữa bố mẹ và con cái, giữa con rể và bố mẹ vợ, v.v…, chưa
làm nổi bật những điểm giống và khác nhau giữa TXH và CXH thân tộc trong tiếng
Hàn và tiếng Việt.
10
Luận văn thạc sĩ bảo vệ tại Hàn Quốc của Nguyễn Phương Dung - “Nghiên
cứu so sánh đại từ nhân xưng của tiếng Hàn và tiếng Việt” [77] mới chỉ tập trung
nghiên cứu về mảng ĐTNX ngôi thứ nhất và ngôi thứ hai, có liên hệ so sánh một
phần với tiếng Việt. Luận văn chưa nghiên cứu sâu về các hoạt động của ĐTNX mà
chỉ dừng lại ở việc khảo sát và giới thiệu các ĐTNX trong tiếng Hàn và tiếng Việt.
Luận văn thạc sĩ của Đinh Lan Hương bảo vệ tại Hàn Quốc với đề tài “Nghiên
cứu so sánh văn hóa của Hàn Quốc và Việt Nam được phản ánh qua từ xưng hô”
[62]. Luận văn đã bước đầu so sánh văn hóa của hai nước thông qua từ xưng hô,
nhưng chưa đưa ra được bức tranh toàn cảnh về hệ thống TXH trong tiếng Hàn nên
việc so sánh văn hóa Hàn – Việt còn bị hạn chế.
Ngoài ra còn có một số bài viết khác tại các hội thảo khoa học của các giảng
viên tiếng Hàn thuộc một số trường đại học, như Trần Văn Tiếng viết về “Xưng hô
trong công sở - những điểm khác biệt trong ngôn ngữ văn hoá Việt - Hàn” [37];
Nguyễn Thị Hương Sen - “Xưng hô thân tộc giữa tiếng Việt và tiếng Hàn”, v.v…
1.1.3. Lịch sử nghiên cứu vấn đề xưng hô trong tiếng Việt
Từ những năm 70 của thế kỉ XX trở lại đây, nhất là từ khi đất nước thống
nhất, việc nghiên cứu vấn đề xưng hô trong tiếng Việt trên cả hai bình diện cấu trúc
và hoạt động ngày càng được giới nghiên cứu ngôn ngữ học quan tâm và đã có hàng
loạt công trình nghiên cứu tầm cỡ lần lượt ra đời.
Trước tiên, đó là các công trình của tác giả Đỗ Hữu Châu [2]. Trong các
công trình nghiên cứu về ngữ dụng học của mình, ông đã đề cập đến những vấn đề
như chiếu vật và chỉ xuất, hành động ngôn ngữ, lí thuyết lập luận, lí thuyết hội
thoại, v.v… và khẳng định yếu tố lời nói, hành động, nhân tố giao tiếp… đều có liên
quan đến cách xưng hô.
Các công trình chuyên nghiên cứu về từ ngữ xưng hô của Nguyễn Văn Chiến
cũng rất sâu sắc. Tác giả đã khảo sát một cách có hệ thống, hoàn chỉnh cả về cấu

Nùng” [36]. Tác giả đi sâu khai thác hệ thống từ ngữ xưng hô trong tiếng Nùng, chỉ
12
ra những đặc điểm ngôn ngữ và những ứng xử văn hóa – ngôn ngữ qua cách xưng hô của
người Nùng.
Dương Thị Nụ có luận án “Ngữ nghĩa nhóm từ chỉ quan hệ thân tộc trong tiếng Anh
và tiếng Việt” [22]. Tác giả đã tập trung nghiên cứu đối chiếu đặc trưng ngữ nghĩa của từ
thân tộc trong tiếng Anh và tiếng Việt trên hai cấp độ: nghĩa cơ bản và nghĩa mở rộng.
Luận án của Phạm Ngọc Hàm có nhan đề “Đặc điểm và cách sử dụng của
lớp từ xưng hô tiếng Hán (trong sự so sánh với tiếng Việt)” [12]. Công trình đã
miêu tả và đối chiếu một cách hệ thống lớp từ xưng hô giữa hai ngôn ngữ Hán –
Việt. Đặc biệt, tác giả đã hệ thống hóa và phân tích, chỉ ra 13 nét tương đồng và 12
nét khác biệt trong hệ thống TNXH của hai ngôn ngữ được nghiên cứu. Luận án
còn đi sâu phân tích bình diện ngữ dụng của từ ngữ xưng hô trong hai không gian
giao tiếp: gia đình và xã hội. Tác giả cũng chỉ ra các nhân tố đã tác động trực tiếp
đến sự lựa chọn TNXH.
Ngoài ra còn có những công trình nghiên cứu khác liên quan đến vấn đề
xưng hô như: Nguyễn Văn Khang - “Ứng xử ngôn ngữ trong giao tiếp gia đình
người Việt” [19]; Nguyễn Đức Tồn - “Đặc trưng văn hóa – dân tộc của ngôn ngữ
và tư duy” [41], đặc biệt là công trình "Mấy vấn đề lí luận và phương pháp dạy-
học từ ngữ tiếng Việt trong nhà trường" [40]; Hữu Đạt - “Văn hoá và ngôn ngữ
giao tiếp của người Việt” [9]; Hồ Thị Lân - “Tìm hiểu vai trò của từ xưng hô trong
hoạt động giao tiếp và các nhân tố tác động đến từ xưng hô” [21]; Nguyễn Thị
Phương - “Một số đặc điểm văn hoá Việt Nam thể hiện trong các hình thức xưng hô
và các hành vi tại lời trong giao tiếp tiếng Việt” [26]; Trần Ngọc Sanh - “Từ xưng
hô có nguồn gốc danh từ chức vị trong giao tiếp tiếng Việt” [27]; Mai Xuân Huy–
“Thử khảo sát các cung bậc của ngôn ngữ trong giao tiếp vợ chồng người Việt”
[14]; Phạm Văn Tình– “Xưng hô dùng chức danh” [38]; Như Ý– “Vai xã hội và
ứng xử ngôn ngữ trong giao tiếp” [46]; v.v…
Các công trình của các tác giả đi trước đã miêu tả được một cách khá đầy đủ
về từ ngữ xưng hô và cách xưng hô trong tiếng Việt, với những sơ đồ quan hệ hệ

Nguyễn Văn Chiến cho rằng: “Xưng hô là một hành vi ngôn ngữ được thực
hiện trong giao tiếp…”.[7,64]
Phạm Ngọc Thưởng viết: “Xưng hô là hành động ngôn ngữ của các nhân
vật hội thoại – người nói và người nghe. Nhân vật hội thoại sử dụng các đơn vị
ngôn ngữ một cách thường xuyên, liên tục để đưa mình vào trong lời nói (hành
động xưng – ngôi 1) và đưa người đối thoại vào trong lời nói (hành động hô –
ngôi 2)”.[36,15]
Như vậy, xưng hô là một hành động ngôn ngữ. Hành động xưng hô
thường diễn ra trong hội thoại. Xưng hô là lối ứng xử văn hóa của con người
trong quan hệ giao tiếp xã hội được thể hiện bằng cách lựa chọn và sử dụng các
từ ngữ để xưng và hô gọi.
Thế nào là xưng hô? Xưng hô là một bộ phận của lời nói, là yếu tố không thể
thiếu được khi chúng ta nói chuyện trực tiếp với nhau.
Theo Nguyễn Đức Tồn, xưng là tự gọi mình là gì đó khi nói với người khác,
biểu thị tính chất mối quan hệ giữa mình với người ấy. Chẳng hạn, gọi anh, xưng tôi.
Hô là gọi người nói chuyện với mình là gì đó, biểu thị tính chất mối quan hệ
giữa mình với người ấy.
Như vậy xưng hô là hành động “tự xưng mình và gọi người khác là gì đó khi
nói với nhau để biểu thị tính chất của mối quan hệ với nhau”. Đặc điểm của xưng
hô là đòi hỏi phải có mặt người nói và người nghe (người cùng nói chuyện với
mình). Xưng hô khác với hô gọi. Hô gọi có chức năng chủ yếu là phát ra từ ngữ nào
đó hướng vào người nghe nhằm làm cho người nghe biết rằng người hô gọi muốn
giao tiếp với anh ta. Do đó, hô gọi thường chỉ diễn ra một lần trong cuộc nói
chuyện, trừ trường hợp người nghe không chú ý vào câu chuyện thì lời hô gọi mới
được lặp lại để “lôi kéo” người nghe trở lại với câu chuyện đang còn tiếp diễn. Cho
nên, hô gọi là hành động chỉ của người nói.
Ví dụ 1: Này Tiến, cậu vẫn nghe mình nói đấy chứ?
Trái lại, xưng hô là hành động diễn ra thường xuyên, liên tục trong khi nói
chuyện và là lời của cả người nói lẫn người nghe.
15

Như vậy, để chọn và sử dụng đúng từ xưng hô trong giao tiếp, điều quan
trọng nhất là người nói phải tính tới quan hệ giữa mình và người nghe. Các nhà
ngôn ngữ học gọi đó là quan hệ liên cá nhân.
Nói đến quan hệ liên cá nhân trước hết là nói đến quan hệ ngang (hay còn
gọi quan hệ thân hữu) và quan hệ dọc (hay còn gọi quan hệ quyền uy) giữa những
người tham gia giao tiếp.
“Muốn sử dụng từ xưng hô đúng, người nói phải xác định cho được mối
quan hệ giữa mình và người đối thoại nằm ở trục quan hệ nào: quan hệ ngang hay
quan hệ dọc. Và như vậy từ xưng hô không những có tác dụng bộc lộ vị thế của
người tham gia giao tiếp trên hai trục quan hệ dọc và ngang mà còn có tác dụng bộc
lộ thái độ, tình cảm của người nói đối với người nghe.” [40,181]
Khi nhân vật hội thoại lựa chọn một từ nào đó để xưng hô với người đối
thoại thì ngay lúc đó anh ta đã xác định và mặc nhiên bị lệ thuộc vào cái khung
quan hệ của mình với người đối thoại do chính từ xưng hô mang lại như đã nêu.
Việc lựa chọn từ nào trong hệ thống từ xưng hô để giao tiếp cũng có thể tác động
đến người đối thoại như đồng tình hay phản đối cách xưng hô đó. Nói cách khác,
khi thực hiện một hành động xưng hô, các nhân vật hội thoại cũng tự đặt mình vào
những nghĩa vụ và quyền lợi mới so với tình trạng của họ trước khi thực hiện hành
động đó.
Điều kiện để thực hiện một hành động xưng hô là: Thứ nhất, hành động xưng
hô chỉ diễn ra trong hội thoại. Ở đâu có hội thoại thì ở đó có xưng hô. Thứ hai, vì
diễn ra trong hội thoại nên xưng hô phải được thực hiện bởi các nhân vật hội thoại –
chủ thể phát ngôn – chủ thể của hành động xưng hô. [36,13]
Mỗi một hành động ngôn ngữ có những biểu thức ngôn ngữ để thực hiện
hành động đó. Chẳng hạn như tương ứng với hành động hỏi là các biểu thức ngôn
ngữ để hỏi… Những biểu thức ngôn ngữ để thực hiện hành động xưng hô là các
phương tiện xưng hô như các đại từ nhân xưng, các danh từ chỉ quan hệ thân tộc,
các danh từ chỉ chức vụ, nghề nghiệp, các tên riêng hay các cụm từ, các từ ngữ
khác. Biểu thức đó chúng tôi quy ước gọi chung là từ xưng hô. Như vậy từ xưng hô
17

đặc điểm của nền văn hoá dân tộc được lưu giữ lại rõ ràng nhất.
Ngôn ngữ là yếu tố văn hoá quan trọng hàng đầu mang sắc thái dân tộc rõ
nhất. Tuy nhiên, ngoài ngôn ngữ, còn có các thành tố khác của văn hoá cũng mang
đặc trưng dân tộc như phong tục, tập quán, truyền thống dân tộc, v.v… Chính sự
đặc thù của văn hoá được biểu hiện trong ngôn ngữ đã quy định đặc trưng văn hoá –
dân tộc của hành vi nói năng ở những người thuộc cộng đồng văn hoá – ngôn ngữ
khác nhau.[41, 46]
Từ xưa đến nay, có rất nhiều định nghĩa hay quan niệm khác nhau về văn
hóa. Tuy nhiên, để làm cơ sở cho nghiên cứu tiếp theo, chúng tôi tiếp thu và tiến
hành nghiên cứu dựa theo những quan niệm sau đây về văn hóa của Trần Ngọc
Thêm và Lê Quang Thiêm.
Trong cuốn sách “Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam”, nhà xuất bản Thành
phố Hồ Chí Minh, Trần Ngọc Thêm đã quan niệm về văn hóa như sau: “Văn hóa là
một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích
lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi
trường tự nhiên và môi trường xã hội”. [31, 25]
Lê Quang Thiêm trong cuốn sách “Văn hóa văn minh & yếu tố văn hóa
truyền thống Hàn” đã cho rằng: “Văn hóa theo nghĩa rộng là chỉ sự tích hợp toàn
bộ các giá trị sáng tạo (vật chất và tinh thần) của con người. Văn hóa là nền tảng
tinh thần của xã hội, là động lực và là mục tiêu của sự phát triển xã hội. Văn hóa
gắn với con người với sự sáng tạo qua quá trình hoạt động của con người, tích hợp
từ thế hệ này qua thế hệ khác nên hàm chứa tính nhân văn, tính dân tộc và khu vực
sâu sắc”. [33,7]
Các quan niệm về văn hóa đều cho rằng, loài người được sinh ra trên cơ thể
mẹ, nên giữa mẹ và con đều tồn tại quan hệ sở thuộc về mặt huyết thống và quan hệ
về mặt văn hóa. Văn hóa còn khu biệt nam và nữ, nhằm thể chế hóa quan hệ hôn
nhân giữa nam và nữ. Trong quan hệ gia đình của người Hàn và người Việt
truyền thống đều rất khắt khe và giữ qui tắc như “trên bảo dưới nghe, trọng nam
19


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status