C¸c Chuyªn ®Ò
GIÁO DỤC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
(Tài liệu hỗ trợ giáo viên THPT Quảng Ninh)(
Quảng Ninh, tháng 3 năm 2009
1
C¸c Chuyªn ®Ò
GIÁO DỤC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
(Tài liệu hỗ trợ giáo viên THPT Quảng Ninh)
Quảng Ninh, tháng 3 năm 2009
2
MỤC LỤC
Lời nói đầu 3
Chuyên đề 1. Khai thác khoáng sản và tác động môi trường
4
Chuyên đề 2. Sử dụng năng lượng tái sinh
27
Chuyên đề 3. Biến đổi khí hậu- nóng lên tòan cầu
60
3
LỜI NÓI ĐẦU
4
CHUYÊN ĐỀ 1
KHAI THÁC KHOÁNG SẢN VÀ TÁC ĐỘNG ĐẾN MÔI TRƯỜNG
PHẦN I. MỘT SỐ KIẾN THỨC CƠ BẢN
I. HIỆN TRẠNG KHAI THÁC KHÓANG SẢN Ở NƯỚC TA
Việt Nam là nước có tiềm năng về tài nguyên khoáng sản. Cho đến nay ngành
Địa chất đã tìm kiếm, phát hiện hơn 5000 mỏ và điểm quặng của khoảng 60 loại
khoáng sản khác nhau.
Một số khoáng sản đã được phát hiện và khai thác từ rất lâu
như vàng, thiếc, chì, kẽm, than đá và các loại vật liệu xây dựng; số khác mới được
khoáng sản cho xây dựng tại địa phương.
Vì vậy, hiện nay việc khai thác và chế biến khoáng sản đang được tiến hành rộng
rãi ở các địa phương. Bên cạnh việc đóng góp tích cực vào công cuộc phát triển của
đất nước, các hoạt động này cũng góp phần không nhỏ vào việc gây ô nhiễm môi
trường sống,.tác hại đến sức khoẻ của con người và sự phát triển bền vững của đất
nước.
2. Các hình thức khai thác, chế biến khoáng sản
- Khai thác, chế biến khoáng sản quy mô công nghiệp
Khai thác, chế biến khoáng sản quy mô công nghiệp đang từng bước được nâng
cao về năng lực công nghệ, thiết bị, quản lý. Hoạt động sản xuất, kinh doanh đã có
sự gắn kết chặt chẽ giữa mục tiêu lợi nhuận, kinh tế với trách nhiệm bảo vệ môi
trường, bảo vệ tài nguyên khoáng sản. Do khả năng đầu tư còn hạn chế nên các mỏ
khai thác quy mô công nghiệp ở nước ta hiện chưa đồng đều về hiệu quả kinh tế, về
việc chấp hành các quy định của pháp luật về khoáng sản, về bảo vệ môi trường.
Khai thác than ở Quảng Ninh Khai thác ti tan ở Bình Thuận
6
Khai thác Aptit ở Lào cai
- Khai thác, chế biến khoáng sản quy mô nhỏ, tận thu
Hình thức khai thác này đang diễn ra phổ biến ở hầu hết các địa phương trong cả
nước và tập trung chủ yếu vào các loại khoáng sản làm vật liệu xây dựng Ngoài ra
nhiều tỉnh còn khai thác than, quặng sắt, antimon, thiếc, chì, kẽm, bôxit, quặng
ilmenit dọc theo bờ biển để xuất khẩu. Do vốn đầu tư ít, khai thác bằng phương
pháp thủ công hoặc bán cơ giới là chính, nên trong quá trình khai thác, chế biến đã
làm ảnh hưởng đến môi trường, cảnh quan.
Khai thác than tận thu ở thị xã Cẩm Phả ( Quảng Ninh)
- Khai thác trái phép tài nguyên khoáng sản
Việc khai thác trái phép tài nguyên khoáng sản, kéo theo các hậu quả nghiêm
trọng như tàn phá môi trường, làm thất thoát, lãng phí tài nguyên. Việc khai thác
được hình thành từ hàng chục triệu năm, gây ra sự ô nhiễm nặng nề đối với môi
trường và là vấn đề cấp bách mang tính chất xã hội và chính trị của cộng đồng.
1. Ô nhiễm không khí, nước
Các hoạt động khai thác khoáng sản thường sinh ra bụi, nước thải với khối lượng
lớn, gây ô nhiễm không khí và nước.
Tác động hoá học của hoạt động khai thác khoáng sản tới nguồn nước: Sự phá
vỡ cấu trúc của đất đá chứa quặng khi tiến hành đào bới và khoan nổ sẽ thúc đẩy
8
các quá trình hoà tan, rửa lũa các thành phần chứa trong quặng và đất đá, quá trình
tháo khô mỏ, đổ các chất thải vào nguồn nước, chất thải rắn, bụi thải không được
quản lý, xử lý chặt chẽ, tham gia vào thành phần nước mưa, nước chảy tràn cung
cấp cho nguồn nước tự nhiên,... là những tác động hoá học làm thay đổi tính chất
vật lý và thành phần hoá học của nguồn nước xung quanh các khu mỏ.
Nước ở các mỏ than thường có hàm lượng các ion kim loại nặng, á kim, các hợp
chất hữu cơ, các nguyên tố phóng xạ... cao hơn so với nước mặt và nước biển khu
vực đối chứng và cao hơn TCVN từ 1-3 lần. Đặc biệt là khu vực từ Quảng Yên đến
Cửa Ông.
Trong các mỏ thiếc sa khoáng, biểu hiện chính của ô nhiễm hoá học là làm đục
nước bởi bùn - sét lơ lửng, tăng hàm lượng các ion sắt và một số khoáng vật nặng.
Việc khai thác và tuyển quặng vàng phải dùng đến thuốc tuyển chứa Hg, ngoài
ra, các nguyên tố kim loại nặng như asen, antimoan, các loại quặng sunfua, có thể
rửa lũa hoà tan vào nước. Vì vậy, ô nhiễm hoá học do khai thác và tuyển quặng
vàng là nguy cơ đáng lo ngại đối với nguồn nước sinh hoạt và nước nông nghiệp.
Tại những khu vực này, nước thường bị nhiễm bẩn bởi bùn sét, một số kim loại
nặng và hợp chất độc như Hg, As, Pb v.v... mà nguyên nhân chính là do nước thải,
chất thải rắn không được xử lý đổ bừa bãi ra khai trường và khu vực tuyển quặng
Bụi từ quặng chì do xí nghiệp chì -kẽm Chợ
Điền ( Bắc Kạn) khai thác
Bể nước sạch của các cô giáo Trường tiểu
học Bản Thi., huyện Chợ Đồn - Bắc Kạn là
động thực vật và gây xói mòn (Đắc Nông)
Đất khai thác bô-xít (để lầm phèn chua) sau
khi hoàn thổ không loại cây nào mọc được
ngoài keo tai tượng (Bảo Lộc- Lâm Đồng)
Tan hoang cả vùng đồi do khai thác than
(Hoà Bình)
Nguồn nước đang dần cạn kiệt
vì khai thác than ( Hoà Bình)
Hoạt động khai thác khoáng sản là một trong những nguyên nhân làm giảm độ
che phủ do rừng cây bị chặt hạ, lớp phủ thực vật bị suy giảm. Hoạt động khai thác
khoáng sản cũng làm cho thực vật, động vật bị giảm số lượng hoặc tuyệt chủng do
các điều kiện sinh sống ở rừng cây, đồng cỏ và sông nước xấu đi. Một số loài thực
vật bị giảm số lượng, động vật phải di cư sang nơi khác.
11
Khai thác khoáng sản đã làm thu hẹp đáng
kể diện tích đất nông, lâm nghiệp và ảnh hưởng
đến sản xuất như: chiếm dụng đất nông, lâm
nghiệp để làm khai trường (Bảng I)
Bảng 1. Diện tích rừng và đất rừng bị thu hẹp, thoái hoá ở một số mỏ
Nguồn bảng : Nguyễn Đức Quý,1996
Bãi thải, thải các chất thải rắn như cát, đá, sỏi, bùn ra đất nông nghiệp, thải nước từ
các hệ tuyển làm ô nhiễm đất nông nghiệp và giảm sút năng suất cây trồng (Bảng 2).
Ruộng bị san ủi để khai thác vàng
( Lương sơn- Hoà Bình)
12
Bảng 2. Mức độ ô nhiễm đất nông nghiệp do khai thác mỏ
Nguồn bảng : Nguyễn Đức Quý,1996
tích tụ chất thải rắn do tuyển rửa quặng trong các lòng hồ, kênh mương tưới tiêu có
thể làm thay đổi lưu lượng dòng chảy, dung tích chứa nước, biến đổi chất lượng
nguồn nước .
Các đống cuội, đá thải trong quá trình khai thác vàng, khai thác cát từ lòng
sông đã ngăn cản, làm thay đổi dòng chảy, gây sự xói lở đất bờ sông, đê điều, gây
úng lụt cục bộ.
14
Khai thác cát trái phép
(Tuy Phước- Bình Định)
Một đoạn đê sông Hà Thanh bị sạt lở
do nạn khai thác cát trái phép
(Tuy Phước- Bình Định)
Việc khai thác cát vô tội vạ đã làm nhiều
diện tích đất ven sông Ba sạt lở ( Gia lai)
Cát sỏi sau khai thác đùn ngay
giữa lòng sông ( Quỳ Châu- Nghệ An)
Tóm lại: Các hoạt động khai thác khoáng sản đã gây ra nhiềui tác động xấu
đến môi trường xung quanh, nhưng có thể nói gọn lại trong một số tác động chính
như sau: sử dụng chưa thực sự có hiệu quả các nguồn khoáng sản tự nhiên; tác
động đến cảnh quan và hình thái môi trường; tích tụ hoặc phát tán chất thải rắn;
làm ảnh hưởng đến nguồn nước, ô nhiễm nước, ô nhiễm không khí, ô nhiễm đất;
làm ảnh hưởng đến đa dạng sinh học; gây tiếng ồn và chấn động; sự cố môi
trường; tác động đến công nghiệp nói chung; tác động đến kinh tế - xã hội; gây ảnh
hưởng đến sức khoẻ và an toàn của người lao động
III. KHAI THÁC THAN VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA HOẠT ĐỘNG KHAI
THÁC THAN ĐẾN MÔI TRƯỜNG Ở QUẢNG NINH
Quảng Ninh có nguồn tài nguyên khoáng sản phong phú, đa dạng, có nhiều loại
đặc thù, trữ lượng lớn, chất lượng cao mà nhiều tỉnh, thành phố trong cả nước
15
không có được như: than, cao lanh, đất sét, cát thủy tinh, đá vôi… 90% trữ lượng
v.v...
Để có sản lượng nhảy vọt, vượt công suất thiết kế, nhiều đơn vị đã chạy đua lộ
thiên hoá dù đã được quy hoạch là khai thác theo công nghệ hầm lò. Trong khi đó,
công nghệ khai thác lộ thiên được đánh giá là gây tác hại rất lớn về ô nhiễm môi
trường, hạn chế độ sâu khai thác. Đến thời điểm này, nhiều mỏ lộ thiên đã âm quá
giới hạn cho phép là -300m (so với mặt biển), nhưng vẫn tiếp tục khoan thăm dò
khai thác, bất chấp những tác hại về cấu tạo địa chất, làm tiền đề cho những thảm
họa khác như lở đất, nhiễm mặn và biến đổi sinh thái.
Hiện nay trong khu vực Hòn Gai - Cẩm Phả có khoảng 30 mỏ than lớn nhỏ đang
hoạt động, bình quân khoảng 2.000ha, có 1 mỏ với tổng diện tích là 175km
2
, chiếm
28,7% tổng diện tích đất tự nhiên của thành phố Hạ Long và thị xã Cẩm Phả. Trong
giai đoạn 1970 - 1997, các hoạt động khai thác than ở Hòn Gai, Cẩm Phả đã làm
mất khoảng 2.900ha đất rừng các loại (trung bình mỗi năm mất 100 - 110ha) , trong
đó khoảng 2.000ha bị mất do mở vỉa, đổ đất đá thải. Độ che phủ rừng tự nhiên từ
33,7% năm 1970 giảm xuống 6,7% (1985) và 4,7% (1997)
(Bảng 3).
Bảng 3. Biến động độ che phủ rừng khu vực Hòn Gai - Cẩm Phả
Đơn vị: %
17
Nguồn: Trần Yêm, Luận án Tiến sĩ, 2000
Tại khu vực Cẩm Phả, trước năm 1975 việc khai trường được mở rộng chủ yếu về
phía tây - nam (khoảng 100ha) và phía tây (25ha). Sau 1975 việc khai trường và bãi
thải phát triển về phía bắc khoảng 435ha, phía tây - bắc 265ha và phía đông 75ha
(Bảng 4).
Bảng 4. Diện tích khai trường, bãi thải và diện tích đổ thải ra vùng biển Cẩm
Phả
Đơn vị: ha
Nguồn: Nguyễn Địch Dĩ, 2003
ở Trung Quốc. Hàng nghìn mỏ than, cả
hợp pháp và không hợp pháp, xuất hiện
nhan nhản trên những ngọn đồi quanh
thành phố, nên bầu không khí nơi đây
luôn dày đặc khói và muội đen do hoạt động sử dụng than gây ra.
Tại Lâm Phần, không thể phơi quần áo ngoài trời vì nó sẽ biến thành màu muội
than trước khi khô. Cục bảo vệ môi trường Trung Quốc thừa nhận Lâm Phần có
chất lượng không khí thấp nhất cả nước.
2. Sukinda (Ấn Độ)
- Số người bị tác động do khai thác than khoảng 2,6 triệu.
- Tác nhân gây ô nhiễm là Crom và các kim loại nặng khác.
- Nguồn gây ô nhiễm là do các hoạt động khai thác và xử lý quặng.
Crom là kim loại nặng được sử dụng để sản xuất thép không rỉ và thuộc da. Nó
có thể gây ung thư nếu hít hoặc đưa nó vào cơ thể bằng đường miệng. Sukinda là
thành phố có những mỏ quặng crom lộ thiên lớn nhất thế giới. Có tới 60% nước
sinh hoạt ở đây chứa crom hóa trị 6 với nồng độ lớn hơn hai lần so với các tiêu
chuẩn quốc tế.
Một tổ chức y tế ở Ấn Độ ước tính
khoảng 84,75% số trường hợp tử
Một góc thành phố Lâm Phần.
Một số người dân tại Sukinda lấy nước ở một
giếng, nơi nước ngầm bị nhiễm độc nặng.
19
vong tại các khu vực khai thác quặng crom ở Sukinda, do các bệnh liên quan tới
crom hóa trị 6 gây nên, nơi này luật pháp hầu như không tồn tại.
PHẦN II. GỢI Ý HOẠT ĐỘNG DẠY VÀ HỌC
I. MUC TIÊU
1. Về kiến thức
- Trình bày được hiện trạng khai thác tài nguyên khoáng sản ở nước ta hiện nay
Khi dạy nội dung trên giáo viên cần lưu ý:
- Quảng Ninh là nơi chiếm tới 90% trữ lượng than của cả nước.Hoạt động khai
thác than có thể nói là một trong những hoạt động kinh tế chủ yếu của tỉnh và đã có
những ảnh hưởng xấu đến môi trường. Vì vậy, trong bài viết này có một phần đề
cập đến vấn đề khai thác than và ảnh hưởng của hoạt động khai thác than đến môi
trường ở Quảng Ninh.
- Những nội dung trên được trình bày bằng cả kênh chữ và kênh hình. Các hình
ảnh ở đây có tính chất minh hoạ cho một số ý được trình bày ở phần kênh chữ.
Ngoài ra, còn có một vài bảng số liệu, những số liệu ở đây tuy không được cập nhật,
song phần nào cũng chứng minh cho những tác động của việc khai thác khoáng sản
đối với môi trường.
- Ngoài ra, có thông tin về tác động của khai thác khoáng sản đến môi trường ở
một số nước đang phát triển trong khu vực để GV có thêm dẫn chứng khi nói về vấn
đề khai thác và chế biến khoáng sản ở các nước đang phát triển.
III. PHƯƠNG PHÁP VÀ HÌNH THỨC
1. Việc giáo dục bảo vệ môi trường (GDBVMT) thường được tích hợp qua nội
dung của một số môn học, trong đó có môn Địa lí. Do đó, để việc giáo dục có hiệu
quả, không khiên cưỡng, GV cần căn cứ vào nội dung của các bài học cụ thể, lựa
chọn một số ý trong bài viết này để giảng dạy cho phù hợp và không làm quá tải nội
dung bài.
2. Mục đích của việc đưa GDBVMT vào trong nhà trường thông qua các môn học
là nhằm giúp HS có được một số kiến thức phổ thông cơ bản về môi trường (MT);
biết được hiện trạng về MT, nguyên nhân và hậu quả của hiện tượng suy giảm tài
nguyên, suy thoái và ô nhiễm MT. Từ đó, hình thành ở HS có thái độ và hành vi
ứng xử thân thiện, phù hợp với MT. Vì vậy, trong quá trình dạy học, GV cần quan
21
tâm và sử dụng một số phương pháp dạy học có nhiều khả năng thực hiện được
mục đích này. Đó là:
- Phương pháp sử dụng các phương tiện trực quan ( PP trực quan)
Trong dạy học Địa lí, việc sử dụng các phương tiện trực quan có một ý nghĩa
nước, một số nhóm thảo luận về hoạt động khai thác than và vấn đề ô nhiễm đất...
- Phương pháp dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề
Phương pháp dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề nhằm phát triển năng lực tư
duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề của HS.
Bản chất của PPDH phát hiện và giải quyết vấn đề là đặt ra trước HS các vấn đề
nhận thức có chứa đựng mâu thuẫn giữa cái đã biết và cái chưa biết, chuyển HS vào
tình huống có vấn đề, kích thích họ tự lực, chủ động và có nhu cầu mong muốn giải
quyết vấn đề.
Mấu chôt của PPDHGQVĐ là tạo ra các tình huống có vấn đề phù hợp với trình
độ nhân thức của HS. Tình huống đặt ra nếu quá dễ hoặc quá khó đều không đưa lại
sự ham muốn giải quyết vấn đề và vì thế nó không trở thành tình huống có vấn đề.
Việc tạo tình huống có vấn đề kết thúc ở chỗ vấn đề được nêu lên dưới hình thức
câu hỏi nêu vấn đề.
Ví dụ 1 tình huống có vấn đề : Việc khai thác than ở Quảng Ninh đã làm cho
Vịnh Hạ Long bị ô nhiễm. Vậy có nên ngừng hoạt động khai thác than để bảo vệ
môi trường cho Di sản thiên nhiên thế giới và phát triển du lịch ? Làm thế nào để
vừa có thể phát triển công nghiệp khai thác than, vừa bảo vệ được vịnh Hạ Long
khỏi bị ô nhiễm ?
- Phương pháp tham quan, điều tra, khảo sát thực địa
Phương pháp tham quan, điều tra, khảo sát thực địa không chỉ là PPDH đặc
trưng của bộ môn Địa Lí, mà còn là phương pháp đạt hiệu quả cao trong GDBVMT.
PP này không chỉ giúp HS kiểm nghiệm các kiến thức đã học trên lớp, mà còn phát
triển kĩ năng quan sát và rèn luyện hành vi ứng xử phù hợp với MT.
Việc tham quan, khảo sát thực địa giúp HS cảm nhận được sự phong phú, đa
dạng, vẻ đẹp của tự nhiên; đồng thời qua đó thấy được hiện trạng cũng như một số
vấn đề của MT, nguyên nhân và hậu quả của sự suy giảm, suy thoái và ô nhiễm MT.
Phương pháp này có thể tiến hành dưới các hình thức:
+ Tổ chức cho HS đi tham quan, học tập ở các khu bảo tồn thiên nhiên, danh
lam thắng cảnh....
23
của từng nhóm.
+ GV tổng kết, đánh giá về phương pháp tiến hành và kết quả làm việc của
từng nhóm.
24
---------------------------
TÀI LIỆU THAM KHẢO
25