1
LỜI MỞ ĐẦU
Xuất nhập khẩu là một hoạt động không thể thiếu đối với sự phát triển của
mỗi quốc gia. Nó đóng vai trò vô cùng quan trọng trong mỗi nền kinh tế: tác
động tích cực tới việc giải quyết công ăn việc làm, cải thiện đời sống nhân
dân, làm cơ sở để mở rộng và thúc đây các quan hệ kinh tế đối ngoại, đảm
bảo sự cân bằng của cán cân thanh toán thương mại Với các chính sách
kinh tế mở làm các công ty, xí nghiệp đã và đang đẩy mạnh tiến trình hội
nhập về thương mại đặc biệt là về buôn bán, vận chuyển, thanh toán quốc tế
đối với hàng hóa.
Gia nhập tồ chức thương mại thế giới WTO, bên cạnh cơ hội còn có
những thách thức. Nếu công ty thích nghi và có những thay đổi cho phù hợp
thì sẽ đưa lại cho công ty nhiều cơ hội kinh doanh cũng như thuận lợi trong
quá trình kinh doanh của họ.
Thị trường rộng lớn hơn nhưng môi trường cạnh tranh cũng khốc liệt hơn,
đòi hỏi doanh nghiệp phải có năng lực quản lý và điều hành hoạt động nhập
khẩu có hiệu quả, am hiểu các quy trình nghiệp vụ nhập khẩu
Quy trình nhập khẩu được diễn ra qua nhiều bước nghiệp vụ phức tạp:
giao dịch, đàm phán để ký kết hợp đồng, chuẩn bị hàng, làm thủ tục hải
quan,nghiệp vụ thuê phương tiện vận tải,thanh toán tiền hàng Trên cơ sở
nghiên cứu các hoạt động tổ chức nghiệp vụ nhập khẩu hàng hoá của Công ty
TNHH vận tải và thương mại XNK Tùng Cường trong thời gian qua, và sự
hướng dẫn nhiệt tình của ThS. Trần Quang Phong, tôi xin đưa ra đề tài: “Tìm
hiểu quy trình nhập khẩu sơn của công ty TNHH vận tải và thương mại
XNK Tùng Cường”.
Hy vọng đề tài tôi đưa ra phù hợp với nhu cầu thực tiễn đất nước, và dùng
một phần kiến thức hữu hạn của mình, đóng góp cho công ty ngày một phát
2
triền đi lên.
Vì kiến thức lý luận và thực tiễn còn nhiều hạn chế nên bài viết này chắc
chắn không tránh khỏi những sai sót. Mong nhận được sự đóng góp từ thầy cô
+ Bán buôn phụ liệu may mặc và giầy dép.
+ Sản xuất giày dép (không hoạt động tại trụ sở). Bán buôn giày dép.
+ Sản xuất sản phẩm từ plastic, sản xuất sản phẩm khác từ gỗ, tre, nứa,
rơm rạ và vật liệu tết bện (không hoạt động tại trụ sở)
+ Tổ chức giới thiệu và xúc tiến thương mại.
+ Hoạt động tư vấn quản lý (trừ tư vấn tài chính kế toán).
4
1.2. Quả trình hình thành và phát triển của công ty.
Năm 2001 : thành lập công ty với tên gọi là công ty TNHH vận tải và
thương mại Tùng Cường với quy mô nhỏ và chỉ có 5 nhân viên.
Năm 2008: sau một thời gian trang bị cơ sở vật chất và bản lĩnh thương
trường công ty đã dần lớn mạnh, số lượng nhân viên hiện nay lên đến 195
nhân viên đều có trình độ chuyên môn và đổi tên công ty thành CÔNG TY
TNHH VẬN TẢI VÀ THƯƠNG MẠI XUÁT NHẬP KHẨU TÙNG
CƯỜNG.
Từ đó đến nay, công ty là một công ty tư nhân, có tư cách pháp nhân, có
con dấu riêng và hạch toán độc lập. Công ty luôn lấy mục tiêu: “đảm bảo uy
tín, phục vụ nhanh chóng, an toàn chất lượng, mọi lúc mọi nơi “ làm phương
châm phục vụ khách hàng. Chính vì thế trong những năm hoạt động công ty
đã tạo cho mình một vị thế khá vững và được nhiều khách hàng lớn cả trong
và ngoài nước tin cậy và chọn lựa. Với mục tiêu xây dựng công ty phát triển
bền vững và lớn mạnh thì đến nay, công ty đã khẳng định được mình trong
lĩnh vực giao nhận, xuất nhập khẩu hàng hóa. Mặt khác cùng với sự nhiệt
tình, giàu kinh nghiệm của đội ngũ nhân viên thì công ty đã và đang cố gắng
hơn nữa để tìm được chỗ đứng trên thị trường và phát huy được năng lực của
mình.
5
1.3. Cơ cấu tổ chức của công ty TNHH vận tải và thương mại xuất nhập
khẩu Tùng Cường.
1.3.1. Sơ đô cơ cấu tổ chức của công ty.
kinh tế, tài chính, trực tiếp nắm bắt và điều hành phòng kế toán tài vụ, làm
nhiệm vụ quản lý công tác tài chính, xác lập kế hoạch kinh doanh và theo dõi
các hợp đồng kinh tế của công ty.
c. Phòng xuất nhâp khẩu (XNK) : bao gồm bộ phận giao nhận và bộ phận
chứng từ.
Đây là phòng có vai trò quan trọng nhất trong cơ cấu tồ chức của công
ty, trực tiếp tiếp nhận các hợp đồng xuất nhập khẩu, hợp đồng ủy thác phân
công cho các nhân viên thực hiện.
+ Bộ phận giao nhận: bộ phận này trực tiếp tham gia hoạt động giao nhận,
chịu trách nhiệm hoàn toàn mọi thủ tục từ khâu mở tờ khai cho đến khâu giao
hàng. Với đội ngũ nhân viên năng động được đào tạo thành thạo nghiệp vụ
chuyên môn có thể nói bộ phận giao nhận giữ vai trò trọng yếu trong việc tạo
uy tín với khách hàng.
+ Bộ phận chứng từ: những nhân viên trong bộ phận này có nhiệm vụ
theo dõi, quản lý, lưu trữ hồ sơ chứng từ và các công văn, soạn thảo bộ hồ sơ
Hải Quan, các công văn cần thiết giúp cho bộ phận giao nhận hoàn thành tốt
công việc được giao nhận. Đồng thời thường xuyên theo dõi quá trình làm
hàng, liên lạc tiếp xúc với khách hàng để thông báo các thông tin cần thiết về
lô hàng.
d. Phòng kinh doanh :
Tổ chức và điều hành các hoạt động kinh doanh của công ty, đồng thời có
nhiệm vụ nghiên cứu, khảo sát thị trường, chủ động tìm kiếm khách hàng
mới. Phòng kinh doanh có vai trò rất quan trọng trong hoạt động của công ty,
góp phần mở rộng thị phần, đem lại nhiều hợp đồng có giá trị cho công ty. Họ
là những cán bộ trẻ, luôn nhanh nhạy nắm bắt tình hình và xu hướng biến
7
động của giá cả trên thị trường để kịp thời điều chỉnh cho phù hợp, tạo lợi thế
trong cạnh tranh cho công ty.
e. Các đơn vi trưc thu ộ c của công ty :
Các đơn vị này có nhiệm vụ trục tiếp tổ chức các hoạt động kinh tế theo
ty.
Biểu đồ thể hiện cơ cấu lao động của công ty
9
1.5.Khải quát vê kêt quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty.
Kết quả sản xuất kinh doanh của công ty năm 2012
Chi tiêu Kế hoạch Thực hiện So sánh
Tuyệt đôi (+/-) Tương đôi (%)
(1)
(2) (3) (4) = 3 - 2 (5)=3/2*100
Doanh thu
3.475.000.000 3.573.046.551 + 8.046.551 102
ẳ
8
Chi phí
2.960.000.000 2.650.101.639 - 309
ể
989.361 89.5
Lợi nhuận
515.000.000 922.944.912 + 407.944.912 179.2
Nguồn : Bảo cảo kêt quả sản xuat kinh doanh năm 2012
Nhìn vào báo cáo trên ta thấy, trong năm 2012 vừa qua công ty đã hoàn
thành được mục tiêu đề ra. Doanh thu của công ty kì kế hoạch so với kì thực
hiện thăng 2,8% tương ứng với tăng 98.046.551 VND tương ứng giảm 10,%.
Chính vì doanh thu tăng mà chi phí lại giảm làm cho lợi nhuận kì thực hiện
của công ty tăng tương đối lớn và đạt mức 79,% tương ứng với mức tăng là
407.944.912 VND so với kế hoạch. Kết quả trên cho thấy một dấu hiệu đáng
mừng của công ty.
Tuy tình hình kinh tế còn gặp nhiều khó khăn cộng với sự tác động của
khủng hoảng kinh tế trên thế giới nhưng công ty vẫn đảm bảo được lợi nhuận
của mình với những chính sách đúng đắn, hợp lý đã giúp cho công ty có được
11
tài Nếu thiếu một trong các điều khoản này thì hợp đồng chỉ vô hiệu từng
phần
Ế
- Phần kết thúc : đại diện các bên, chức vụ, ngày tháng và địa điểm ký
kết hợp đồng, chữ ký của các bên.
c. Các hình thức nhâp khẩu hàng hóa .
- Nhập khẩu trực tiếp.
Nhập khẩu trực tiếp là hình thức nhập khẩu mà người ký kết hợp đồng
nhập khẩu là người trực tiếp mua lô hàng đó và thanh toán tiền hàng.
- Nhập khẩu ủy thác.
Nhập khẩu ủy thác là hình thức nhập khẩu mà theo đó đom vị đặt hàng
gọi là bên ủy thác giao cho đơn vị ngoại thương gọi là bên nhận ủy thác tiến
hành nhập khẩu một lô hàng nhất định. Bên nhận ủy thác phải ký kết và thực
hiện hợp đồng nhập khẩu với danh nghĩa của mình nhưng bằng chi phí của
bên ủy thác.
- Nhập khẩu tái xuất.
Nhập khẩu tái xuất là hình thức nhập khẩu mà người nhập khẩu tiến hành
nhập khấu hàng hóa để phục vụ mục đích xuất khẩu của mình.
2.1.2. Nội dung quy trình nghiệp vụ nhập khẩu hàng hóa.
Quy trình nhập khẩu hàng hóa nói chung bao gồm các bước cơ bản sau:
12
a. Xin giấy phép nhâp khẩu.
Theo quy định của nhà nước , đối với những mặt hàng nhập khẩu phải xin
giấy phép thì doanh nghiệp phải xin giấy phép của Bộ Thương Mại hoặc các
Bộ quản lý chuyên nghành. Đối với những hàng hóa khác ngoài các hàng hóa
cấm nhập, tạm ngừng nhập và các hàng hóa không thuộc quy định tại các
khoản mục riêng thì chỉ phải làm thủ tục thông quan tại cửa khẩu. Đối với
hàng hóa thuộc danh mục quản lý theo hạn ngạch thì Bộ Thương Mại sẽ công
bố lượng hạn ngạch và dưới sự chỉ đạo cuả Bộ Tài Chính, phối hợp với các
biển có khối lượng lớn và đe trần thì nên thuê tàu chuyến còn hàng lẻ, lặt vặt
được đóng trong bao kiện thì thuê tàu chợ. Nếu điều kiện giao hàng trong hợp
đồng là điều kiện E, F thì người mua phải tiến hành thuê phương tiện vận tải
và ngược lại nếu hợp đồng được ký kết vận chuyển theo điều kiện C, D thì
trách nhiệm thuê phương tiện vận tải thuộc về người bán.
Việc thuê phương tiện vận tải cũng khá tốn kém thời gian và chi phí đòi
14
hỏi phải nghiên cứu tình hình thị trường thuê tàu, am hiểu các điều kiện
thương mại quốc tế. Để quá trình nhập khẩu hàng đạt hiệu quả nhất thì người
thuê phương tiện vận tải thường ủy thác cho một doanh nghiệp chuyên kinh
doanh dịch vụ giao nhận.
d. Mua bảo hiểm.
Có 3 điều kiện chính là bảo hiểm mọi rủi ro, bảo hiểm tổn thất riêng và
bảo hiểm miễn tổn thất riêng. Ngoài ra còn có một số điều kiện bao hiểm phụ
như bảo hiểm rò gỉ, mất trộm, mất cắp và một số điều kiện bảo hiểm đặc
biệt như bảo hiểm chiến tranh, đình công, bạo loạn Người mua bảo hiểm
phải dựa vào điều khoản hợp đồng , tính chất hàng hóa, tính chất bao bì và
phương tiện vận tải, loại tàu chuyên chở để lựa chọn điều kiện cho phù hợp.
Trong điều kiện cơ sở giao hàng chỉ có 2 điều kiện là người bán phải có
nghĩa vụ mua bảo hiểm cho hàng hóa là CIF với hàng hóa vận chuyển bằng
đường biển và CIP với hàng hóa vận chuyển đa phương thức. Thông thường
nếu trong hợp đồng không thỏa thuận về điều kiện bảo hiểm thì người bán sẽ
mua bảo hiểm theo điều kiện c (điều kiện tối thiều để tiết kiệm chi phí).
e. Giục người bán giao hàng .
Công ty phải đôn đốc người bán giao hàng theo đúng ngày mà 2 bên đã
thỏa thuận có thể bằng thư, điện, email hay gặp trực tiếp.
f. Làm thủ tuc hải quan.
Quy trình làm thủ tục hải quan cho hàng hóa gồm 3 bước:
- Khai báo hải quan: chủ hàng sẽ kê khai chi tiết hàng hóa lên tờ khai hải
quan bao gồm các nội dung như: tên hàng, kí mã hiệu, phẩm chất, số lượng,
+ Sau khi dờ cần lập : S/R (survey report), I/C (Inspection certiĩicate )
Tổng hợp lại thành bộ chứng từ pháp lý ban đầu.
16
h. Thanh to án:
Sau khi nhận được bộ chứng từ do người xuất khẩu gửi tới, ngân hàng mở
L/C sẽ kiểm tra chứng từ không quá 7 ngày làm việc kể từ sau ngày nhận
chứng từ và thông báo kết quả kiểm tra cho người nhập khẩu bằng văn bản,
yêu cầu người nhập khẩu trả lời bằng trong vòng 2 ngày làm việc. Doanh
nghiệp nhập khẩu sẽ nhận bộ chứng từ giao hàng theo L/C tại trụ sở ngân
hàng.Trong trường hợp có những khác biệt giữa L/C với chứng từ thì doanh
nghiệp cần thông báo gấp cho ngân hàng đế sửa đổi trong vòng 3 ngày làm
việc.
Ngân hàng sẽ trích tiền từ tài khoản đã được chỉ định của doanh nghiệp để
thanh toán cho ngân hàng nước ngoài theo quy định của L/C khi nhận được
bộ chứng từ hoàn toàn phù hợp với các điều kiện và điều khoản của L/C.
i. Khiếu nại vả xử lý vi phạm hơp đồ ng.
Khi thực hiện hợp đồng nhập khẩu nếu chủ hàng phát hiện thấy hàng nhập
khẩu bị tổn thất, đồ vỡ, thiếu hụt, mất mát thì cần lập hồ sơ khiếu nại ngay để
khỏi bỏ lỡ thời hạn khiếu nại. Một bộ hồ sơ khiếu nại bao gồm: đơn khiếu nại,
một số bằng chứng về tổn thất hàng hóa (biên bản hàng đổ vờ, biên bản
chứng nhận hàng thiếu, thư dự kháng), hóa đơn thương mại, B/L, đơn bảo
hiểm (nếu khiếu nại công ty bảo hiểm) Nếu việc khiếu nại không được giải
quyết thỏa đáng thì hai bên có thể kiện nhau ra tòa án hoặc hội đồng trọng tài
giải quyết.
Đối tượng khiếu nại là:
- Người bán nếu hàng có chất lượng hoặc số lượng không phù hợp với
hợp đồng, bao bì không thích đáng, thời hạn giao hàng bị vi phạm, hàng giao
không đồng bộ
- Người vận tải nếu hàng bị tỏn thất trong quá trình chuyên chở hoặc sự
tổn thất đó do lỗi của người vận tải gây nên.
18
Do sự biến động của giá cả sơn gây thiệt hại cho bên xuất khẩu cho nên
cty xuất khảu thường chủ động hủy hợp đồng và phải chịu phạt do vi phạm
hợp đồng.Số hợp đồng bị hủy bỏ có xu hướng giảm từ 4 xuống 3 hợp đồng,
thêm vào đó là số hợp đồng kí kết ngày càng tăng. Đây là dấu hiệu cho thấy
công tác tô chức thực hiện hợp đông của công ty đã có nhiêu bước tiên khả
quan và hứa hẹn nhiều triển vọng phát triển tích cực.
a. Kim ngach nhâp khẩu sơn của công ty
Hoạt động nhập khẩu sơn là phù hợp với đặc điểm kinh doanh của công
ty. Nó giúp cho công ty tăng doanh thu và lợi nhuận trong kinh doanh và đáp
ứng kịp thời nhu cầu thị trường, góp phần bình ổn lại thị trường của ngành
công nghiệp sơn trong nước.
Kim ngạch và sản lượng nhập khâu sơn của công ty
STT Năm
Sản lượng
(thùng)
KNNK
( U S D )
Thị trường NK
1
2011 137.000 6.523.239 70% châu A, 30% châu Mỹ
2
2012 169.800 9.055.074 70% châu A, 30% châu Mỹ
3
2013 255.900 11.023.456 90% châu A, 10% châu Mỹ
Nguồn: Bảo cáo kết qủa kinh doanh XNK của công ty
Từ bảng trên cho thấy, số lượng sơn nhập khẩu của công ty tăng trong giai
đoạn 2011 - 2013, với mức tăng là đêu nhau qua các năm. Năm 2012 số lượng
nhập khẩu sơn là 137.000 thùng thi đến năm 2013 nó đã tự tăng lên gần gấp đôi
so với năm 20l2 và đạt mức 255.900 thùng. Cùng với sự tăng lên vê sô lượng thì
hàng của nước ngoài chào bán, cơ sở để tính giá nhập khẩu của công ty là giá ở
20
một số thị trường xuất khẩu sơn lớn trên thế giới, hoặc có thể tham khảo giá của
bạn hàng truyền thống hay giá nhập khẩu mặt hàng này của các đối thủ cạnh
tranh. Tuy nhiên, công ty không thể không tính đến giá đầu ra cho mặt hàng này
nhằm đảm bảo thu lợi nhuận và làm ăn có hiệu quả. Đe đi đến quyết định có
chấp nhận giá của phía chào hàng đưa ra hay không, công ty phải tính toán
phần chênh lệch giữa giá nhập khẩu và giá bán lại ở thị trường trong nước,
sau khi trừ đi các khoản chi phí có liên quan thì có thu được lợi nhuận không
và khoản lợi nhuận thu được này có được coi là hiệu quả kinh doanh hay
không?
Tuy nhiên lô hàng nhập khẩu sơn này là nhập khẩu ủy thác cho nên công
ty không cần phải tính toán đến mức giá nhập khẩu mà chấp nhận mức giá
theo hợp đồng thương mại được ký kết giữa người xuất khẩu và người nhập
khẩu.
- Về chất lượng sơn nhập khẩu: Chất lượng là một trong những điều
khoản của hợp đồng nhập khẩu. Vì vậy, phải đề cập một cách chi tiết, cụ thể
về chất lượng và quy cách phẩm chất của hàng hoá để tránh xảy ra sự tranh
chấp giữa người bán và người mua. Mỗi một mặt hàng có những quy định
riêng về tiêu chuẩn phẩm chất và ở mỗi nước lại có những quy định khác
nhau về mặt hàng đó, đối với sơn nhập khẩu vào Việt Nam cũng vậy. Nhưng
khi tham gia vào buôn bán ngoại thương thì phải sử dụng những tiêu chuẩn
mang tính quốc tế.
Đối với việc nhập khẩu sơn, Nhà nước ta vẫn chưa có văn bản pháp lý cụ
thể quy định về tiêu chuẩn đối với mặt hàng này. Vì vậy khi nhập khẩu sơn
các doanh nghiệp sẽ gặp rất nhiều khó khăn, vì họ chưa có một tiêu chuẩn nào
để dựa vào đó mà xem xét, xác định sơn do doanh nghiệp mình nhập khẩu về
có đạt tiêu chuẩn chất lượng hay không. Do đó Nhà nước cần có biện pháp
quản lý chặt chẽ đối với hoạt động nhập khẩu sơn chất lượng cao.
21
Nguồn : Phòng kỉnh doanh XNK
Từ bảng số liệu trên cho thấy công ty sẽ thực hiện hợp đồng này vì mức
lợi nhuận thu được là 5.356.229 VND. Trên thực tế mức lợi nhuận thu được
có thể khác mức lợi nhuận trên vì có thể sẽ phát sinh thêm nhiều khoản chi
phí nhưng công ty sẽ cố gắng để giảm bớt các khoản chi phí, đảm bảo mức
lợi nhuận trên.
- Giao dịch và ký hợp đồng ủy thác.
Hợp đồng ủy thác là hợp đồng thương mại quốc tế được hình thành giữa
một doanh nghiệp trong nước có vốn và ngoại tệ riêng, có nhu cầu nhập khẩu
một số loại hàng hóa dịch vụ đã ủy thác cho doanh nghiệp có kinh nghiệm và
chức năng trực tiếp giao dịch ngoại thương, tiến hành đàm phán và ký kết hợp
đồng với nước ngoài, làm thủ tục nhập hàng hóa theo yêu cầu của bên ủy thác
và được hưởng một khoản thù lao gọi là phí ủy thác.
Vì mức lợi nhuận dự kiến trên nên công ty sẽ tiến hành giao dịch đàm
phán và ký kết hợp đồng ủy thác với công ty sơn Kaisan Alphanam bàng việc
gặp gỡ trực tiếp giữa 2 bên. Hai bên cam kết phải thực hiện theo đúng nghĩa
vụ và quyền lợi của mình.
- Tiếp nhận hồ sơ của bên ủy thác: Sau khi ký hợp đồng ủy thác thì công
ty sẽ là người trực tiếp tiếp nhận lô hàng này từ phía bên bán.Vì vậy nên công
23
ty TNHH sơn Kansai Alphanam sẽ phải chuyển giao chứng từ cho công ty để
công ty làm thủ tục thông quan cho hàng hóa. Sau khi tiếp nhận hồ sơ, công
ty sẽ kiểm tra bộ hồ sơ đó xem có hợp lệ, có mâu thuẫn với nhau hay không
để tiến hành làm thủ tục giao nhận.
- Thực hiện giao nhận: Đây là một công việc rất phức tạp,nó đòi hỏi
công ty phải am hiểu luật quốc gia và quốc tế, tiết kiệm chi phí lưu thông,
nâng cao doanh thu và hiệu quả của toàn bộ nghiệp vụ giao dịch, đảm bảo uy
tín của công ty. Theo trình tự các bước nghiệp vụ giao nhận thì lẽ ra quy trình
nghiệp vụ giao nhận hàng hóa của công ty phải trải qua các bước như
trên.Tuy nhiên do đặc điểm của loại hình hàng hóa nhập khẩu nên công ty
liên quan. Mọi chi phí này đều do công ty thanh toán thay cho bên ủy thác.
- Giao hàng cho bên ủy thác : sau khi nhận hàng từ cảng Hải Phòng,
công ty sẽ tiến hành vận chuyển hàng đến cho bên ủy thác tại kho của công ty
ở địa chỉ KCN Phố Nối A, Trưng Trắc, Văn Lâm, Hưng Yên. Công ty sẽ chịu
mọi rủi ro trong suốt quá trình vận chuyển kể từ khi nhận hàng tại cảng cho
đến khi giao hàng tại địa chỉ trên của bên ủy thác.
Sau khi hàng được giao đến kho của bên ủy thác thì công ty sẽ nhận được
một phần phí ủy thác (1/3 phí ủy thác) và phần còn lại sẽ nhận được khi công
ty hoàn thành các nghĩa vụ, thanh lý hợp đồng ủy thác.
- Thanh toán: do công ty TNHH sơn Kaisan Alphanam là một đối tác
làm ăn lâu năm với công ty nên hai bên thỏa thuận sẽ thanh toán bàng phương
thức TT.Việc thanh toán này rất đơn giản, không mất nhiều thời gian, chi phí
và công sức của công ty.
Sau khi nhận được hàng, bên ủy thác sẽ lập lệnh chuyển tiền cho ngân
hàng MSCB yêu cầu trả tiền. Ngân hàng này sẽ chuyển ngay tiền cho công ty
thông qua ngân hàng Vietcombank sau đó ngân hàng Vietcombank sẽ trả tiền
cho công ty.
25
Khiếu nại và xử lý vi phạm hợp đồng (nếu có): trong quá trình giao nhận
nếu thấy hàng hóa có dấu hiệu bị tổn thất thì công ty sẽ mời bên giám định để
có thể khiếu nại người có liên quan. Khi phát hiện hàng bị đổ vỡ hay hư hỏng,
công ty sẽ lập biên bản hàng đổ vỡ còn khi hàng bị thiếu so với xác nhận trên
B/L thì lập biên bản chứng nhận hàng thiếu
Thực tế, mặt hàng sơn mà công ty nhập khẩu thường được vận chuyển
bằng Container và lựa chọn hãng tàu uy tín, quãng đường vận tải ít rủi ro nên việc
khiếu nại rất ít khi xảy ra.
Đối với hợp đồng ủy thác thì việc giải quyết khiếu nại sẽ được thực hiện
theo như những quy định được thỏa thuận.