Thuận lợi khó khan và chủ trương của nhà nước về thu hút đầu tư nước ngoài
1. Thuận lợi và khó khăn của việt nam đối với thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài
a) Thuận lợi
+ Giá công nhân ở việt nam thấp so với các nước trong khu vực và trên thế
giới (các sản phẩm sản xuất tại Việt Nam để xuất khẩu luôn đạt mức
doanh thu cao hơn (chiếm 60% tổng doanh thu) so với các sản phẩm sản
xuất nhằm tiêu thụ trong nước. Đây hoàn toàn là một lợi thế cạnh tranh
lớn của Việt Nam, nhất là khi quan hệ hợp tác kinh tế nội khối ASEAN
ngày càng phát triển mạnh mẽ)
+ Nguồn tài nguyên ở việt nam phong phú đa dạng song vẫn chưa khai thác
bên cạnh nguồn tài nguyên thiên nhiên trên thế giới đang dần cạn kiệt
+ Việt nam đang dần trở thành thị trường tiềm năng về tiêu thụ rộng lớn về
các sản phẩm có nguồn gốc trong nước và trong khu vực
+ Vị tri chiến lược thuận tiện trong giao thoa hang hóa đường biển
+ Môi trường chính trị ổn định
Bên cạnh đó Việt Nam còn có thuận lợi về:
• Các sản phẩm sản xuất tại Việt Nam để xuất khẩu luôn đạt mức doanh thu cao
hơn (chiếm 60% tổng doanh thu) so với các sản phẩm sản xuất nhằm tiêu thụ
trong nước. Đây hoàn toàn là một lợi thế cạnh tranh lớn của Việt Nam, nhất là
khi quan hệ hợp tác kinh tế nội khối ASEAN ngày càng phát triển mạnh mẽ.
• Việt Nam ngày nay đã trở thành thành viên của rất nhiều các tổ chức lớn như
APEC, ASEAN, WTO…. Việc việt nam trở thành thành viên của asean là một
nhân tố đặc biệt quan trọng làm thị trường thu hút vốn năng động , làm tăng
uy tín của thị trường việt nam trên con mắt nhà đầu tư quốc tế
• Việt Nam có nguồn lực lao động dồi dào, thị trường lao động trẻ hơn 62 triệu
người/2013 (chiếm 69% dân số) đang ở độ tuổi lao động là một nguồn nhân
lực khổng lồ cho công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước - một thị
trường rộng lớn, tiềm năng và hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài. Điều đó sẽ
mang đến những cơ hội vô cùng lớn cho Việt Nam trong thúc đẩy phát triển
kinh tế, nâng cao vị thế trên trường quốc tế.
b) Khó khăn
không áp dụng cho doanh nghiệp đầu tư mở rộng sản xuất. Do đó gây khó
khăn cho việc kêu gọi doanh nghiệp thực hiện dự án đầu tư mở rộng sản xuất
vào các KCN.
• Về quy định vốn chủ sở hữu của Nhà đầu tư khi thực hiện dự án đầu tư: Luật
Đầu tư và Nghị định 108/2006/NĐ-CP ngày 22/9/2006 chưa có quy định về
điều kiện tỷ lệ vốn chủ sở hữu của Nhà đầu tư trên tổng vốn đầu tư khi đăng
ký thực hiện dự án (trừ trường hợp pháp luật chuyên ngành có quy định) nên
chưa có điều kiện cụ thể để lựa chọn nhà đầu tư khi xét năng lực tài chính.
Việc này gây khó khăn cho cơ quan quản lý nhà nước trong việc đánh giá, lựa
chọn các nhà đầu tư có năng lực tài chính đầu tư vào khu, CCN nhằm đem lại
hiệu quả đầu tư cao, giảm thiểu các trường hợp đầu tư dở dang, chậm tiến độ
do tình hình tài chính.
• Về nội dung bổ sung đối với các dự án nước ngoài: Điều 53 Nghị định
108/2006/NĐ-CP ngày 22/9/2006 quy định: “Nhà đầu tư nước ngoài lần đầu
đầu tư vào Việt Nam, ngoài các hồ sơ quy định tại Mục II Chương V còn phải
kèm theo hợp đồng liên doanh hoặc hợp đồng hợp tác kinh doanh.”, quy định
này mang tính bắt buộc trong thành phần hồ sơ. Tuy nhiên, thành phần hồ sơ
này không phù hợp đối với các nhà đầu tư có nhu cầu đầu tư 100% vốn nước
ngoài khi có đủ khả năng tài chính và không có nhu cầu liên doanh với nhà
đầu tư khác.
• Về việc phân cấp quản lý bảo vệ môi trường trong KCN, KKT, KCX: Theo
Nghị định 29/2008/NĐ-CP ngày 14/3/2008 quy định về KCN, KCX, KKT thì
Ban Quản lý KCN, KCX, KKT cấp tỉnh là cơ quan quản lý nhà nước trực tiếp
đối với các doanh nghiệp trong KCN, KCX, KKT. Tuy nhiên, Nghị định số
29/2011/NĐ-CP ngày 18/4/2011 quy định về đánh giá môi trường chiến lược,
đánh giá tác động môi trường, cam kết bảo vệ môi trường thay thế Nghị định
21/2008/NĐ-CP ngày 28/2/2008 bãi bỏ nội dung “…ủy quyền cho Ban Quản
lý các KCN, KCX, khu công nghệ cao (KCNC) thẩm định phê duyệt báo cáo
đánh giá tác động môi trường đối với các dự án thuộc thẩm quyền…” mà giao
Sở Tài nguyên và Môi trường tổ chức thẩm định cho toàn bộ các dự án đầu tư
Dự thảo luật đầu tư nước ngoài tại việt nam được quốc hội thông qua 1987 và có
hiệu lực 1/1988 và có 4 lần sửa đổi và bổ sung 1990, 1992, 2000 đã tạo môi
trường thuận lợi cho các nhà đầu tư nước ngoài như sau:
• Đối xử bình đẳng với các nhà đầu tưu nước ngoài so với các nhà đầu tư
trong nước.
• Cho phép các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài được sử
dụng hệ thống kế toán của nước ngoài và các công cụ kế toán khác
• Nếu hệ thống việt nam có thay đổi gây thiệt hại cho nhà đầu tư nước ngoài,
việt nam sẽ có biện pháp bồi thường thiệt hại
• Quyền sở hữu trí tuệ và bằng phát minh sang chế của nhà đầu tư nước
ngoài được chính phủ việt nam bảo vệ
• Việt nam không can thiệp vào hoạt động sản xuất kinh doanh của các nhà
đầu tư. Họ có quyền nhập khẩu máy móc thiết bị, nguyên vật liệu cần thiết
cho quá trình sản xuất. họ có thể đưa các sản phẩm của họ mang ra nước
ngoài bán.
• Các nhà đầu tư nước ngoài được góp vốn bằng máy móc, trang thiết bị và
công nghệ
• Đảm bảo cho các nhà đầu tư nước ngoài chuyển vốn về nước mà không bị
hạn chế vốn đầu tư, lợi nhuận, tiến lãi và các tài sản khác. Lao động nước
ngoài làm việc tại việt nam được phép chuyển tiền trực tiếp về nước.
• Chính phủ mở của cho các nhà đầu tư hoạt dộng ở tất cả các ngành kinh té,
trừ an ninh, quốc phòng, không quy định mức vốn góp tối thiểu.
• Được hoạt động theo các hình thức sau: hợp đồng lien doanh, xí nghiệp
kinh doanh
b. Các lĩnh vực việt nam khuyến khích đầu tư:
• Thực hiện các chương trình phát triển kinh tế trọng điểm trong các ngành
vừa giúp thay thế nhập khẩu vừa khuyến khích xuất khẩu
• Các ngành công nghệ cao sử dụng lao động lành nghề
• Các ngành có hàm lao động cao, giúp tận dụng lao động, nguyên vật liệu
và các nguồn có sẵn ở địa phương
trong việc xác định và xây dựng dự án.
- Quán triệt và thực hiện thống nhất các quy định mới của Luật Đầu tư trong công tác quy
hoạch, đảm bảo việc xây dựng các quy hoạch ngành, lĩnh vực, sản phẩm phù hợp với các
cam kết quốc tế.
- Hoàn chỉnh quy hoạch sử dụng đất, công bố rộng rãi quy hoạch, tạo điều kiện để đẩy
nhanh tiến độ giải phóng mặt bằng cho các dự án đầu tư; rà soát, kiểm tra, điều chỉnh quy
hoạch sử dụng đất một cách hiệu quả, nhất là đối với các địa phương ven biển nhằm đảm
bảo phát triển kinh tế và môi trường bền vững.
Nhóm giải pháp về cải thiện cơ sở hạ tầng:
- Tiến hành tổng rà soát, điểu chỉnh, phê duyệt và công bố các quy hoạch về kết cấu hạ
tầng đến năm 2020 làm cơ sở thu hút đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng. Tranh thủ tối đa
các nguồn lực để đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng, đặc biệt là nguồn vốn ngoài ngân sách
nhà nước; ưu tiên các lĩnh vực cấp, thoát nước, vệ sinh môi trường (xử lý chất thải rắn,
nước thải.v.v.); hệ thống đường bộ cao tốc, trước hết là tuyến Bắc-Nam, hai hành lang
kinh tế Việt Nam-Trung Quốc; nâng cao chất lượng dịch vụ đường sắt, trước hết là
đường sắt cao tốc Bắc-Nam, đường sắt hai hành lang kinh tế Việt Nam-Trung Quốc,
đường sắt nối các cụm cảng biển lớn, các mỏ khoáng sản lớn với hệ thống đường sắt
quốc gia, đường sắt nội đô thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh; sản xuất và sử
dụng điện từ các loại năng lượng mới như sức gió, thủy triều, nhiệt năng từ mặt trời; các
dự án lĩnh vực bưu chính viễn thông, công nghệ thông tin.
- Mở rộng hình thức cho thuê cảng biển, mở rộng đối tượng cho phép đầu tư dịch vụ cảng
biển, đặc biệt dịch vụ hậu cần (logistic) để tăng cường năng lực cạnh tranh của hệ thống
cảng biển Việt Nam; kêu gọi vốn đầu tư các cảng lớn của các khu vực kinh tế như hệ
thống cảng Hiệp Phước-Thị Vải, Lạch Huyện…
- Xem xét việc ban hành một số giải pháp mở cửa sớm hơn mức độ cam kết của ta với
WTO đối với một số lĩnh vực dịch vụ mà nước ta có nhu cầu về văn hóa-y tế-giáo dục,
bưu chính-viễn thông, hàng hải, hàng không.
Nhóm giải pháp về nguồn nhân lực:
- Đẩy nhanh việc triển khai kế hoạch tổng thể về đào tạo nhằm nâng tỷ lệ lao động qua
đào tạo lên 40% vào năm 2010. Theo đó, ngoài việc nâng cấp đầu tư hệ thống các trường
và quản lý các dự án đầu tư nước ngoài.
Nhóm giải pháp về xúc tiến đầu tư:
- Nghiên cứu, đề xuất chính sách vận động, thu hút đầu tư đối với các tập đoàn đa quốc
gia cũng như có chính sách riêng đối với từng tập đoàn và các đối tác trọng điểm như các
quốc gia thành viên EU, Hoa Kỳ, Nhật Bản…
- Nhanh chóng hoàn thành việc xây dựng thông tin chi tiết về dự án (project profile) đối
với danh mục đầu tư quốc gia kêu gọi đầu tư nước ngoài giai đoạn 2006-2010 để làm cơ
sở cho việc kêu gọi các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào các dự án này.
- Các Bộ, ngành và Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh tiếp tục rà soát, cập nhật bổ sung danh mục
kêu gọi đầu tư phù hợp với nhu cầu đầu tư và quy hoạch phát triển địa phương, ngành,
lĩnh vực, sản phẩm.
- Nghiên cứu việc xây dựng Văn bản pháp quy về công tác Xúc tiến đầu tư nhằm tạo cơ
sở pháp lý thống nhất cho công tác quản lý nhà nước, cơ chế phối hợp và tổ chức thực
hiện các hoạt động Xúc tiến đầu tư.
- Tổ chức khảo sát, nghiên cứu về mô hình cơ quan Xúc tiến đầu tư ở các địa phương để
có cơ sở trong việc hướng dẫn các địa phương tổ chức cơ quan Xúc tiến đầu tư hiệu quả
hơn.
- Thực hiện tốt Chương trình xúc tiến đầu tư quốc gia giai đoạn 2007-2010. Triển khai
nhanh việc thành lập bộ phận XTĐT tại một số địa bàn trọng điểm.
- Tăng cường công tác đào tạo bồi dưỡng cán bộ làm công tác xúc tiến đầu tư nói riêng
và quản lý đầu tư nói chung. Vận động và phối hợp với các tổ chức quốc tế hỗ trợ mở các
lớp đào tạo về xúc tiến và quản lý ĐTNN; tiếp tục kết hợp các hoạt động xúc tiến đầu tư
kết hợp các chuyến thăm và làm việc tại các nước của lãnh đạo cấp cao Đảng, Quốc hội,
Chính phủ nhằm quảng bá môi trường đầu tư Việt Nam. Phối hợp chặt chẽ và nâng cao
hiệu quả hoạt động xúc tiến đầu tư- thương mại – du lịch; khẩn trương triển khai việc
thành lập các bộ phận xúc tiến đầu tư tại các địa bàn trọng điểm theo kế hoạch.
Một số giải pháp khác:
- Tiếp tục nâng cao hiệu quả việc chống tham nhũng, tiêu cực và tình trạng nhũng nhiễu
đối với nhà đầu tư. Đề cao tinh thần trách nhiệm cá nhân trong xử lý công việc, thực hành
tiết kiệm, chống lãng phí ở các cơ quan quản lý nhà nước.