Th vin Sỏch Tham Kho
1
Tuyển tập một số bài văn hay lớp 9 Đề 1: Phân tích và nêu cảm nghĩ của em sau khi hc bi Phong cỏch H Chớ Minh
của Lê Anh Trà. Phong cách Hồ Chí Minh rút trong bài Phong cách Hồ Chí Minh, cái vĩ đại
gắn với cái giản dị của Lê Anh Trà in trong cuốn sách Hồ Chí Minh và văn hoá Việt
Nam năm 1990.
Luận điểm thứ nhất mà ngời viết nêu lên là tầm sâu rộng vốn tri thức văn hóa của
Hồ Chí Minh. Do đâu mà có vốn tri thức văn hóa ấy ? Hồ Chí Minh có một cuộc sống
phong phú, sôi nổi. Ngời đ tiếp xúc với văn hoá nhiều nớc ở phơng Đong và
phơng Tây. Ngời đ ghé lại nhiều hải cảng, đ thăm các nớc châu Phi, châu á,
châu mĩ. Ngời đ sống dài ngày ở Anh, ở Pháp. Lúc làm bồi, lúc cuốc tuyết, lúc làm
nghề rửa ảnh Chế Lan Viên cũng đ có lần viết:
Đời bồi tàu lênh đênh theo sóng bể,
Ngời đi hỏi khắp bóng cờ châu Mĩ, châu Phi
Những đất tự do, những trời nô lệ
Những con đờng cách mạng đang tìm đi.
( Ngời đi tìm hình của nớc )
Ngời nói và viết thạo nhiều ngoại ngữ nh Pháp, Anh, Hoa, Nga Cuộc đời
Ngời đầy truân chuyên . Ngời đ làm nhiều nghề, và đặc biệt là đến đâu Ngời
cũng học hỏi, tìm hiểu văn hóa, nghệ thuật đến một mức khá uyên thâm. Hồ Chí Minh
đ tiếp thu mọi cái hay cái đẹp của các nền văn hóa, và đ nhào nặn với cái gốc văn
hóa dân tộc đẫ thấm sâu vào hồn mình, máu thịt mình, nên đ trở thành một nhân cách
rất Việt Nam, một lối sống rất bình dị, rất Việt Nam, rất phơng Đông, nhng cũng đồng
thời rất mới, rất hiện đại:. Cách lập luận chặt chẽ, cách nêu luận cứ xác đáng, lối diễn
phong cách Hồ Chí Minh, vị lnh tụ kính yêu của dân tộc.
2. Em hóy Phõn tớch bi th Ving lng Bỏc ca Vin Phng
Ch tch H Chớ Minh - v cha gi kớnh yờu ca dõn tc Vit Nam ủó cng hin
trn ủi mỡnh vỡ s nghip gii phúng ủt nc. Ngi ra ủi nm 1969, ủ li bit bao
ni thng nh v xút xa cho T quc. Cú nhiu nh th ủó vit bi th tng nh v
Bỏc, v Ving lng Bỏc ca Vin Phng l mt trong nhng bi th xut sc nht.
Chỳng ta hóy cựng ủn vi bi th ủ cm nhn ủc cm xỳc y.
Con min Nam ra thm lng Bỏc
Mun lm cõy tre trung hiu chn ny
Nm 1976, sau ngy ủt nc ta ủc hon ton gii phúng, lng Bỏc ủc khỏnh
thnh. Nh th Vin Phng t min Nam ủó ra thm lng Bỏc. Cm xỳc dõng tro, nh
th ủó lm mt bi th nh mt li bc bch chõn tỡnh ca hng triu ngi con min
Nam vi Bỏc. õy l mt bi th ủc sc, giu ý ngha, lm cho ngi ủc xỳc ủng.
Hai kh th ủu l nhng dũng cm xỳc ban ủu ca nh th khi ủc ln ủu ủn
thm lng Bỏc: mt chỳt t ho, xen ln vui sng, ln xỳc ủng khi sp ủc k cn bờn
Ng` cha thõn yờu ca dõn tc.Bng nhng hỡnh nh n d giu sc gi, nhụn ng bỡnh d
m hm sỳc, tinh t, ủon th ủó ủ li trong lũng ngi ủc nhng cm xỳc vụ cựng sõu
sc.
Hai kh cui bi th nh nhng nt nhc du dng, trm bng, rộo rt nh tm
lũng tha thit yờu mn ca nh th vi Bỏc. Bng nhng ngụn t n d ủc sc,t ng
bỡnh d m giu sc gi, cõu th ủó khi gi trong lũng ngi ủc nhng rung ủng sõu
sc v ủỏng quý.
Bi th ủc phõn chia theo b cc thi gian, v kh th ủu tiờn núi v cm xỳc
ca tỏc gi khi nhỡn thy lng Bỏc t xa.
– Thư viện Sách Tham Khảo
Thấy một mặt trời trong lăng rất ñỏ”
Hai câu thơ sinh ñộng với nhiều hình ảnh gợi cảm ñược tạo nên từ những hình ảnh
thực và hình ảnh ẩn dụ sóng ñôi với nhau. Một mặt trời thực ñi qua trên lăng, là mặt trời
của tự nhiên, của muôn loài, soi sáng cho muôn loài, ñem lại sức sống cho thế giới. Từ
mặt trời thật ấy, một mặt trời ẩn dụ khác hiện ra trong lăng, rất ñỏ. Bác nằm trong lăng
với ánh sáng ñỏ xung quanh như một mặt trời. Bác tồn tại vĩnh cửu trong lòng mỗi
người dân Việt Nam như sự tồn tại của một mặt trời thật. Bác soi sáng ñường cho dân
tộc ta ñi, cống hiến cả cuộc ñời cho sự nghiệp giành ñộc lập của Tổ quốc. Bác giúp nhân
dân ta thoát khỏi kiếp sống nô lệ, trở thành một con người tự do ñể bây giờ ñược hạnh
phúc. Công lao của Bác ñối với dân tộc ta cũng như mặt trời, to lớn không kể xiết. Bác
là một mặt trời. Cái ẩn dụ mặt trời ở ñây không biết ñã ñủ nói về Bác chưa ?. Không,
nếu nói Bác là mặt trời thì phải nhấn mạnh thêm cho rõ cái ñặc tính của vầng mặt trời
ấy: rất ñỏ. Cái mặt trời ñang tỏa sáng trên cao kia, cái mặt trời của thiên nhiên, tượng
trưng của nguồn nóng, nguồn sáng, nguồn sự sống ấy, không phải bao giờ cũng nguyên
– Thư viện Sách Tham Khảo
4
vẹn thế ñâu, không phải lúc nào cũng ấm nóng thế ñâu! Vầng mặt trời ấy có thể bị bóng
ñêm lấn át. Nhưng vầng mặt trời Bác Hồ của ta thì mãi mãi ñỏ thắm, mãi mãi là nguồn
sưởi ấm, nguồn sáng soi ñường cho con người Việt Nam. Hôm nay có hai mặt trời chiếu
rọi trên ñường ñời: một mặt trời tỏa sáng trước mặt, một mặt trời tỏa sáng tâm
hồn…Như mặt trời kia, Bác thuộc về vĩnh cửu. Bác sẽ sống mãi trong lòng mỗi con
người Việt Nam.
“Ngày ngày dòng người ñi trong thương nhớ
Kết tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân…”
Cùng với mặt trời ñi qua trên lăng, ngày ngày dòng người vẫn ñi qua lăng trong
thương nhớ. ðiệp ngữ “ngày ngày” ý nói rằng nhân dân ta mãi luôn ghi nhớ công lao to
lớn của Bác, mãi mãi là như vậy. Nhịp thơ của ñoạn chậm, diễn tả ñúng tâm trạng khi
ñứng xếp hàng trước lăng chờ ñến lượt vào, ngậm ngùi tưởng nhớ ñến Bác ñã khuất.
Tuy vậy, nhịp thơ chầm chậm như bước chân người ñi trong cuộc tưởng niệm mà sao
5
thật ñau lòng. Một từ “nhói” của nhà thơ nói hộ ta nỗi ñau ñớn, nỗi ñau vượt lên mọi lí
lẽ, mọi lập luận lí trí. Bác như trời xanh, Bác là mãi mãi, Bác vẫn sống trong tâm tưởng
mỗi chúng ta, Bác mãi hiện diện trên mỗi phần ñất, mỗi thành quả, mỗi phần tử tạo nên
ñất nước này. Nhưng mà Bác mất thật rồi, ta không còn có Bác trong cuộc ñời thường
này. Mất Bác, cái thiếu vắng ấy liệu có thể nào bù ñắp ñược? Tổ quốc ta ñã thật sự
không còn Bác dõi theo từng bước chân, không còn ñược Bác nâng ñỡ mỗi khi vấp ngã.
Bác ra ñi, nỗi ñau ấy liệu có từ ngữ nào diễn tả hết? Cả ñàn con Việt Nam luôn tiếc
thương Bác, luôn nhớ về Bác như một cái gì ñó thật vĩ ñại, không thể xoá nhoà. Dù Bác
ra ñi thật sự rồi nhưng những ñiều Bác ñã làm vẫn sẽ ñọng lại trong tâm hồn, hình ảnh
Bác vẫn tồn tại trường kì trong trái tim mỗi người dân Việt Nam.
Cuối cùng dẫu thương tiếc Bác ñến mấy, cũng ñến lúc phải rời lăng Bác ñể ra về.
Khổ thơ cuối như một lời từ biệt ñầy xúc ñộng:
“Mai về miền Nam thương trào nước mắt”
Ngày mai phải rời xa Bác rồi. Một tiếng “thương của miền Nam” lại vang lên, gợi
về miền ñất xa xôi của Tổ quốc, một nơi từng có vị trí sâu sắc trong trái tim người. Một
tiếng “thương” ấy là yêu, là biết ơn, là kính trọng cuộc ñời cao thượng, vĩ ñại của Người.
ðó là tiếng thương của nỗi ñau xót khi mất Bác. Thương Bác lắm, nước mắt trào ra, thật
ñúng là tình thương của người Việt Nam, vô bờ bến và rất thật.
“Muốn làm con chim hót quanh lăng Bác
Muốn làm ñóa hoa tỏa hương ñâu ñây
Muốn làm cây tre trung hiếu chốn này”
Cùng với nỗi niềm yêu thương vô hạn, tác giả nói lên muôn vàn lời tự nguyện. ðiệp
ngữ “muốn làm” khẳng ñịnh mạnh mẽ những ước nguyện ấy. Ước chi ta có thể biến
hình thành những gì thân yêu quanh nơi Bác ngủ ñể mãi mãi ñược chiêm ngưỡng Bác,
cuộc ñời và tâm hồn của Bác, ñể bày tỏ lòng ta với Bác. Một con chim nhỏ góp tiếng hót
làm vui những bình minh của Bác, một ñóa hoa góp mùi hương làm thơm không gian
quanh Bác hay một cây tre trong hàng tre xanh xanh VN tỏa bóng mát dịu dàng quê
hương của Bác, tất cả ñều làm Bác vui và ngủ an giấc hơn. ðây cũng chính là nguyện
mình.
Sau hơn mười năm làm thơ, Chính Hữu cho ra mắt tập “ðầu súng trăng treo”. Thế
mới biết tác giả ñắc ý như thế nào về hình ảnh thật ñẹp, thơ mộng, rất thực nhưng không
thiếu nét lãng mạn ñó.
ðầu súng trăng treo- ñó là một hình ảnh tả thực một bức tranh tả thực và sinh ñộng.
Giữa núi rừng heo hút “rừng hoang sương muối” giữa ñêm thanh vắng tĩnh mịch bỗng
xuất hiện một ánh trăng treo lơ lửng giữa bầu trời. Và hình ảnh này cũng thật lạ làm sao,
súng và trăng vốn tương phản với nhau, xa cách nhau vời vợi bỗng hoà quyện vào nhau
thành một hình tượng gắn liền. Nhà thơ không phải tả mà chỉ gợi, chỉ ñưa hình ảnh
nhưng ta liên tưởng nhiều ñiều. ðêm thanh vắng người lính bên nhau chờ giặc tới, trăng
chếch bóng soi sáng rừng hoang bao la rộng lớn, soi sáng tình cảm họ, soi sáng tâm hồn
họ. Giờ ñây, người chiến sĩ như không còn vướng bận về cảnh chiến ñấu sắp diễn ra,
anh thả hồn theo trăng, anh say sưa ngắm ánh trăng toả ngời trên ñỉnh núi, tâm hồn
người nông dân “nước mặn ñồng chua” hay “ñất cày trên sỏi ñá” cằn cỗi ngày nào bỗng
chốc trở thành người nghệ sĩ ñang ngắm nhìn vẻ ñẹp ánh trăng vốn có tự ngàn ñời. Phải
là một người có tâm hồn giàu lãng mạn và một phong thái ung dung bình tĩnh lạc quan
thì anh mới có thể nhìn một hình ảnh nên thơ như thế. Chút nữa ñây không biết ai sống
chết, chút nữa ñây cũng có thể là giây phút cuối cùng ta còn ở trên ñời này nhưng ta vẫn
“mặc kệ”, vẫn say sưa với ánh trăng.
ánh trăng như xua tan cái lạnh giá của ñêm sương muối, trăng toả sáng làm ngời
ngời lòng người, trăng như cùng tham gia, cùng chứng kiến cho tình ñồng chí ñồng ñội
thiêng liêng của những ngươì linh. Trăng truyền thêm sức mạnh cho họ, tắm gội tâm hồn
họ thanh cao hơn, trong sạch hơn, trăng cũng là bạn, là ñồng chí của anh bộ ñội Cụ Hồ.
ðầu súng trăng treo- hình ảnh thật ñẹp và giàu sức khái quát. Súng và trưng kết hợp
nhau; súng tượng trưng cho chiến ñấu- trăng là hình ảnh của thanh bình hạnh phúc. Súng
là con người, trăng là ñất nước quê hương của bốn nghìn năm văn hiến. Súng là hình ảnh
người chiến sĩ gan dạ kiên cường- Trăng là hình ảnh người thi sĩ. Sự kết hợp hài hoà tạo
– Thư viện Sách Tham Khảo
7
kết hợp kì diệu nào bằng hình ảnh ðầu súng trăng treo của Chính Hữu.
Nếu như Elsa Trioslet – nữ văn sĩ Pháp có nói “Nhà văn là người cho máu” thì tôi
hãnh diện nói với văn sĩ rằng: Chính Hữu ñã cho máu ñể tạo nên câu thơ tuyệt vời ñể
cống hiến cho cuộc kháng chiến của chúng ta. Và bạn ơi! Bạn hãy thả cùng tôi những
chú chim trắng trên bầu trời, hãy hát vang lên ca khúc Hoà Bình vì hình ảnh ñầu súng
trăng treo mà nhà thơ ñã gởi vào ñó bao nhiêu khát vọng nay ñã thành hiện thưc.
Phải chăng chất lính ñã thấm dần vào chất thi ca, tạo nên dư vị tuyệt vời cho tình "
ðồng chí"
Nói ñến thơ trước hết là nói ñến cảm xúc và sự chân thành. Không có cảm xúc,
thơ sẽ không thể có sức lay ñộng hồn người, không có sự chân thành chút hồn của thơ
cũng chìm vào quên lãng. Một chút chân thành, một chút lãng mạn, một chút âm vang
mà Chính Hữu ñã gieo vào lòng người những cảm xúc khó quên. Bài thơ " ðồng chí"
– Thư viện Sách Tham Khảo
8
với nhịp ñiệu trầm lắng mà như ấm áp, tươi vui; với ngôn ngữ bình dị dường như ñã trở
thành những vần thơ của niềm tin yêu, sự hy vọng, lòng cảm thông sâu sắc của một nhà
thơ cách mạng
Phải chăng, chất lính ñã thấm dần vào chất thơ, sự mộc mạc ñã hòa dần vào cái thi vị
của thơ ca tạo nên những vần thơ nhẹ nhàng và ñầy cảm xúc?
Trong những năm tháng kháng chiến chống thực dân Pháp gian lao, lẽ ñương
nhiên,hình ảnh những người lính, những anh bộ ñội sẽ trở thành linh hồn của cuộc
kháng chiến, trở thành niềm tin yêu và hy vọng của cả dân tộc. Mở ñầu bài thơ"ðồng
chí", Chính Hữu ñã nhìn nhận, ñã ñi sâu vào cả xuất thân của những người lính:
"Quê hương anh ñất mặn ñồng chua
Làng tôi nghèo ñất cày lên sỏi ñá"
Sinh ra ở một ñất nước vốn có truyền thống nông nghiệp, họ vốn là những
người nông dân mặc áo lính theo bước chân anh hùng của những nghĩa sĩ Cần Giuộc
năm xưa. ñất nước bị kẻ thù xâm lược, Tổ quốc và nhân dân ñứng dưới một tròng áp
bức. "Anh" và "tôi", hai người bạn mới quen, ñều xuất than từ những vùng quê nghèo
"Ruộng nương anh gửi bạn thân cày
Gian nhà không mặc kệ gió lung lay"
Cái chất nông dân thuần phác của những anh lính mới ñáng quý làm sao ! ðối với
những người nông dân, ruộng nương, nhà cuarwlaf những thứ quý giá nhất. Họ sống
nhờ vào ñồng ruộng,họ lớn lên theo câu hát ầu ơ của bà của mẹ.Họ lơn lên trong những
"gian nhà không mặc kẹ gió lung lay". Tuy thế, họ vẫn yêu, yêu lắm chứ những mảnh
ñất thân quen, những mái nhà thân thuộc Nhưng họ ñã vượt qua chân trời của cái tôi
bé nhỏ ñể ñến với chân trời của tất cả. ði theop con ñường ấy là ñi theo khát vọng, ñi
theo tiếng gọi yêu thương của trái tim yêu nước. Bỏ lại sau lưng tất cả nhưng bóng hình
của quê hương vẫn trở thành nỗi nhớ khôn nguôi của mỗi người lính. Dẫu răng" mặc kệ"
nhưng trong lòng họp vị trí của quê hương vẫn bao trùm như muốn ôm ấp tất cả mọi kỉ
niệm. Không liệt kê, cũng chẳng phải lối ñảo ngữ thường thấy trong thơ văn,nhưng hai
câu thơ cũng ñủ sức lay ñọng hồn thơ, hồn người:
"Giếng nước gốc ña nhớ người ra lính"
Sự nhớ mong chờ ñợi của quê hương với những chàng trai ra ñi tạo cho hồn quê
có sức sống mãnh liệt hơn. Nhà thơ nhân hóa"gieengs nước gốc ña" cũng có nỗi nhớ
khôn nguôi với những người lính. Nhưng không kể những vật vô tri, tác giả còn sử dụng
nghệ thuật hoán dụ ñể nói lên nỗi nhớ của những người ở nhà, nỗi ngóng trông của
người mẹ ñối với con, những người vợ ñối với chòng và những ñôi trai gái yêu nhau
Bỏ lại nỗi nhớ, niềm thương, rời xa quê hương những người lính chiến ñấu trong
gian khổ:
"Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh
Sốt run người vầng trán ñẫm mồ hôi
Áo anh rách vai
Quần anh có vài mảnh vá
Miệng cười buốt giá
Chân không giày"
Câu thơ chầm chậm vang lên nhưng lại ñứt quãng, phải chăng sự khó khăn,
vất vả, thiếu thốn của những người lính ñã làm cho nhịp thơ Chính Hữu sâu lắng hơn.
ðất nước ta còn nghèo, những người linha còn thiếu thốn quân trang, quân dụng,phải
Vầng trăng thành tri kỉ"
( Ánh trăng- nguyễn Duy)
Một hình ảnh nên thơ, lãng mạn nhưng cũng ñậm chất chân thực, trữ tình. Một
sự quyện hòa giữa không gian, thời gian,ánh trăng và người lính. Cái thực ñan xen vào
cái mộng, cái dũng khí chiến ñấu ñan xen vào tình yêu làm cho biểu tượng người lính
không những chân thực mà còn rực rỡ ñến lạ kì. Chất lính hòa vào chất thơ, chất trữ tình
hòa vào chất cách mạng, chất thép hòa vào chất thi ca. ðộ rung ñộng và xao xuyến của
cả bài thơ có lẽ chỉ nhờ vào hình ảnh ánh trăng này. Tình ñồng chí cũng thế, lan tỏa
trong không gian, xoa dịu nỗi nhớ, làm vơi ñi cái giá lạnh của màn ñêm. người chiến sĩ
như cất cao tiếng hát ngợi ca tình ñồng chí. Thiêng liêng biết nhường nào, hình ảnh
những người lính, những anh bộ ñội cụ Hồ sát cạnh vai nhau " kề vai sát cánh" cùng
chiến hào ñấu tranh giành ñộc lập.
Quả thật, một bài thơ là một xúc cảm thiêng liêng, là một tình yêu rộng lớn, trong
cái lớn lao nhất của ñời người. Gặp nhau trên cùng một con ñường Cách mạng, tình
ñồng chí như ñược thắt chặt hơn bằng một sợi dây yêu thương vô hình.
Bài thơ " ðồng chí" với ngôn ngữ chân thực, hình ảnh lãng mạn, nụ cười ngạo
nghễ của các chiến sĩ ñã lay ñộng biết bao trái tim con người. Tình ñồng chí ấy có lẽ sẽ
sống mãi với quê hương, với Tổ quốc, với thế hệ hôm nay, ngày mai hay mãi mãi về
sau. ðề 4. Em hãy phân tích bài thơ “ðồng chí” của Chính Hữu.
Ðồng chí là một bài thơ tiêu biểu của nhà thơ Chính Hữu và của thơ ca Việt Nam
hiện ñại. Hễ nói tới thơ Chính Hữu là người ta không thể không nghĩ ñến Ðồng chí.
Bài thơ ñược sáng tác vào năm 1948, sau chiến dịch Việt Bắc năm 1947, ñánh
– Thư viện Sách Tham Khảo
11
dấu sự xuất hiện cuả một nhà thơ mới trong thời kháng chiến chống thực dân Pháp. Bài
thơ lúc ñầu dán ở báo tường ñơn vị, sau in vào báo Sự thật, rồi ñược chép vào sổ tay các
thơ hoàn toàn có thể viết thế này: "Ðêm rét chung chăn thành ñôi ñồng chí". "Ðồng chí"
và "tri kỷ" ñều cùng một vần bằng, vần trắc, hai chữ hoàn toàn có thể thay thế nhau mà
không làm sai vận luật, mà bài thơ có thể rút ngắn ñược một dòng. Nhưng nếu viết như
thế thì hỏng. Ðêm rét chung chăn có nghĩa hai chữ "Ðồng chí" rộng lớn vô cùng. "Tri
kỷ" là biết mình và suy rộng ra là biết về nhau. "Ðồng chí" thì không phải chỉ biết nhau,
mà còn phải biết ñược cái chung rộng lớn gắn bó con người trên mọi mặt.
Hai chữ "Ðồng chí" ñứng thành một dòng thơ ñầy sức nặng suy nghĩ. Nó
nâng cao ý thơ ñoạn trước và mở ra ý thơ các ñoạn sau. "Ðồng chí" là cái có thể cảm
nhận mà không dễ nói hết.
Phần hai bài thơ nói ñến tình cảm chung của những người ñồng chí. Những câu thơ chia
– Thư viện Sách Tham Khảo
12
thành "anh, tôi", nhưng giữa họ ñều là chung cả. Ðoạn hai của bài thơ ñược mở ñầu bằng
những dòng tâm sự nhớ nhà. Bây giờ họ chia sẻ với nhau những tình cảm quê hương và
gia ñình. Ðối với các chàng trai áo nâu ra trận lần ñầu nhớ nhà là nỗi niềm thường trực:
Ruộng nương anh gửi bạn thân cày
Gian nhà không mặc kệ gió lung lay.
Ðối với người nông dân, làm ruộng là quan trọng nhất, những việc ấy ñành nhờ
bạn thân làm hộ. Gian nhà tổ ấm cũng ñành chịu hy sinh: "mặc kệ gió lung lay". Câu thơ
ngang tàng, ñượm chất lãng mạn như muốn nâng ñỡ con người vượt lên cái bất ñắc dĩ
của hoàn cảnh. Thẻ hỏi ai có thể "mặc kệ" ñể cho gió làm xiêu ñổ nhà mình? Ðó là một
thoáng tếu nhộn làm se lòng người. Hai dòng thơ ñầy ắp nỗi nhớ, mặc dù tới dòng thứ ba
thì chữ "nhớ" mới xuất hiện"
Giếng nước gốc ña nhớ người ra lính
Người lính trong thơ Chính Hữu ñã rất nhớ nhà, nhớ quê nhưng họ thương nhất
vẫn là người ở nhà nhớ họ, dõi theo tn tức của họ, những người ở nơi nguy hiểm. Hình
ảnh "giếng nước" là nơi dân làng gặp gỡ sáng sáng, chiều chiều. "Gốc ña" là nơi dân
làng nghỉ ngơi những khi trưa nắng. Những lúc ấy họ sẽ hỏi thăm những người trai ra
trận. Nhưng "giếng nước, gốc ña" cũng là nơi hò hẹn, tình tự lứa ñôi: "Trăm năm dầu lỗi
Áo anh rách vai
Quần tôi có vài mảnh vá
Miệng cười buốt giá
Chân không giày
Thương nhau tay nắm lấy bàn tay.
"Miệng cười buốt giá" hẳn là cười trong buốt giá, vì áo quần không chống ñược
rét, mà cũng là nụ cười vượt lên trên buốt giá, mặc dù trời lạnh hẳn nụ cười cũng khó mà
tươi. Cũng có thể là nụ cười coi thường gian khổ. Nhà thơ không viết "nụ cười buốt giá"
mà viết "Miệng cười buốt giá" hẳn là vì từ "nụ cười" quá trừu tượng, vả lại, nụ cười ở
ñây không buốt giá, mà nhà thơ thì muốn nói một cách cụ thể ñến cái miệng với ñôi môi
nhợt nhạt ấy.
"Chân không giày" cũng là một thực tế phổ biến, và cái nổi lên là tình thương yêu
ñồng ñội: "Thương nhau tay nắm lấy bàn tay", một hình ảnh hết sức ấm áp. Chỉ có năm
dòng thơ, tác giả ñã vẽ lên chân dung "anh bộ ñội Cụ Hồ" buổi ñầu kháng chiến, nghèo
khổ, thiếu thốn nhưng tình ñồng chí sưởi ấm lòng họ.
Nếu ñoạn một nói về sự hình thành ñồng chí, ñoạn hai nói về tình cảm hiện ñại, thì
ñoạn ba nói về hành ñộng chiến ñấu của họ:
Ðêm nay rừng hoang sương muối
Ðứng cạnh bên nhau chờ giặc tới
Ðầu súng trăng treo.
Từ nhận thức chung, tình cảm chung, bài thơ kết vào hành ñộng. Thời gian, không
gian trở nên cụ thể, công việc cũng cụ thể, nhưng không vì thế mà sự việc thay thế chất
thơ. Câu kết bài thơ là một hình ảnh nổi tiếng cô ñọng, giàu ý vị: ñầu súng trăng treo.
Một hình ảnh bất ngờ. "Súng" và "trăng" là hai vật cách xa nhau trong không
gian, lại chẳng có gì chung ñể liên tưởng. Hình ảnh này chỉ có thể là phát hiện của người
lính, súng lăm lăm trong tay chờ giặc, và bất ngờ thấy mặt trăng treo lửng lơ trên ñầu
súng. Người không cầm súng không thể cảm thấy ñược. Rừng hoang sương muối là rất
buốt, những người lính rách rưới ñứng cạnh bên nhau và trăng như cũng ñứng chung với
người. Trăng là biểu trưng của trong sáng và mộng mơ. "Ðầu súng" chiến ñấu của người
ñồng chí có thêm mặt trăng ñã mở ra biết bao liên tưởng phong phú. Ðồng thời câu thơ
trong ngôn ngữ thi ca. Cái ñẹp chinh phu ñã tháo lui trước cái ñẹp vệ quốc. Thi ảnh mỹ miều
mà mòn phai xơ sáo của “áo hào hoa” và “hài vạn dặm” ñã nhường chỗ cho thi ảnh mộc mà
thực của “áo rách vai”, “quần vài mảnh vá”, “chân không giày”. Câu thơ ñiệu ngâm (hát)
óng chuốt lượt là ñã nhường lời cho câu thơ ñiệu nói thô ráp mà tươi rói, vẫn hăng vị ñời mà
súc tích dư ba.
Hẳn vì ðồng chí có phẩm chất của một ñại biểu, mà giới nghiên cứu thẩm bình vây
quanh thi phẩm khá ñông. ðã có nhiều khai thác thú vị từ không ít bình diện của nó. Là
người ñến sau, bận tâm của tôi về ðồng chí ở lần này chỉ nhằm vào cấu trúc và ngôn
ngữ.
Cấu trúc của một thi phẩm phụ thuộc rất nhiều vào ý tưởng chủ ñạo của nó. Mà ý
tưởng chủ ñạo bao giờ cũng triển khai thành mạch suy cảm trong toàn bài. Một câu hỏi
ñặt ra: mạch suy cảm trong bài ðồng chí bắt ñầu từ ñâu? Hỏi thế cứ như lẩn thẩn. Thì từ
ñầu chứ còn từ ñâu nữa? Không hẳn. Hình như không phải từ ñầu. Mà từ cuối. Chính
thức là từ cái “ñêm nay”” Khẳng ñịnh thế có gì phi lý chăng? Không. Bao giờ thơ trữ tình
cũng hiện tại hoá quá khứ. ðiều này ñã thành quy luật. Tâm tư dù thuộc về quá khứ thì vẫn
cứ phải ñược trình bày như là hiện tại, như ñương diễn ra. Mà hiện tại trong thi phẩm chỉ
có một “ñêm nay”. ấy là lúc hai người lính ñang “ñứng cạnh bên nhau chờ giặc tới”.
Chỉ lát nữa, chiến sự sẽ nổ ra. Giữa họ, biết ai còn ai mất. Tình huống ấy thường xui
khiến con người nhớ lại những kỷ niệm tình nghĩa, những gì ñã khiến họ gắn bó với
nhau. Thế là hồi ức ñưa họ ngược trở về với quá khứ xa, khi quan hệ bắt ñầu rồi quá
khứ gần, khi họ ñã nên tình nên nghĩa Và cứ thế, theo ñường dây của kỷ niệm, hồi ức
lại ñưa họ về hiện tại, về lại “ñêm nay”, cho họ tin cậy, cho họ thanh thản trước giây phút ñối
mặt với kẻ thù. Mạch tâm tư ñã nảy sinh như thế. Thi phẩm cũng thành hình như thế. Nói cách
– Thư viện Sách Tham Khảo
15
khác, bằng cuộc tâm tình của ñôi bạn lính bên chiến hào, bài thơ ñã tìm ñược một hình hài phù
hợp ñể tự ñịnh dạng cho mình.: ðêm nay rừng hoang sương muối
Mạch tâm tư ấy ñã chuyển tải ý tưởng chủ ñạo nào? Ý tưởng về tình ñồng chí. Dường
như, Chính Hữu muốn thể hiện những suy cảm của mình về mối tình cao ñẹp này. ðó là những
như một kết tủa. Tình ñồng chí khác nào một tinh thể lấp lánh, sau bao kỷ niệm và thời gian.
” qua “sát” ñến “chung” là cả một hành trình, quan hệ ñồng ñội cứ ñượm lên, cứ thắm dần mà
thành tình ñồng chí. Hai tiếng “ðồng chí
Vậy là, theo chân chữ “ñồng”, hai mạch luận lý và cảm xúc ñã chập vào nhau,
một chiều qui nạp :
ðồng cảnh -> ñồng ngũ -> ñồng cảm -> ñồng chí
Xa lạ -> quen nhau -> tri kỷ
– Thư viện Sách Tham Khảo
16
Ở phần sau, chúng ta còn thấy những chữ ñồng - cùng khác ñã vun ñắp cho tình
ñồng chí của họ. Cùng một nỗi bận lòng như nhau về hậu phương: Ruộng nương anh gửi
bạn thân cày / Gian nhà không mặc kệ gió lung lay / Giếng nước gốc ña nhớ người ra lính.
Cùng sẻ chia những nỗi cơ hàn: Tôi với anh biết từng cơn ớn lạnh / Sốt run người vầng trán
ướt mồ hôi. Và ñồng cam cộng khổ: Áo anh rách vai / Quần tôi có vài mảnh vá / Miệng cười
buốt giá / Chân không giày. Cuối cùng, như quy nạp của mọi quy nạp, thi sĩ chỉ ra cái lõi của
tình ñồng chí chính là tình thương:
Thương nhau tay nắm lấy bàn tay
Tình thương là vị muối của tình người, là chất keo của mối gắn bó, là cội rễ của ñức hy
sinh. Thương nhau, con người có thể thuỷ chung với nhau. Thương nhau, con người có thể
che chở nhau, hy sinh cho nhau. ðó là kết tinh sâu nặng nhất của quan hệ người với người.
Không phải ngẫu nhiên, khi nhận thấy tình ñồng chí của mình có cốt lõi là tình thương, họ không
trầm mình trong hồi ức nữa, mà lập tức về ngay hiện tại. Bởi thế là ñủ, tình ñồng chí giữa mình và
người bạn cùng chiến hào, ñây ñã thực sự là ñiểm tựa tin cậy rồi, nó hoàn toàn có thể giúp họ ñối
mặt với sự hà khắc của thiên nhiên và sự hiểm nguy của chiến sự:
ðêm nay rừng hoang sương muối
ðứng cạnh bên nhau chờ giặc tới
ðầu súng trăng treo.
Tin cậy cho họ thanh thản. Thanh thản khiến họ ñón nhận ñược vẻ ñẹp của vầng
trăng lơ lửng treo trên ñầu mũi súng. Khoảnh khắc ấy, người chiến sĩ bỗng thành thi sĩ.
thực là mình nữa. Ví như: “ñôi mắt”, “ñôi tay”, “ñôi gò má”, “ñôi gò bồng ñảo”, “ñôi ñũa”,
“ñôi hoa tai” v.v… Ta hiểu vì sao, Chính Hữu không dùng “hai” khi họ là “tri kỷ”, ñã
ñành, mà ngay khi họ hãy còn là người “xa lạ”, cũng không dùng “hai”, cứ nhất thiết
phải “ñôi”. Dường như trong cảm nhận ñầy tin yêu về con người và cuộc sống, thì trong
những cá thể ấy, dù lúc ñương còn xa lạ ñối với nhau, thì từng người ñã sẵn mang tâm
nguyện ñược gắn kết, nghĩa là sẵn mang những cái mầm ñể sau này thành “ñôi” rồi vậy.
Nhưng ñáng nói hơn cả vẫn là cách dùng thành ngữ và tổ chức ngôn từ theo phong
cách thành ngữ. Tính chất ñiệu nói của lời thơ trong thi phẩm (qua giọng của những chàng
trai làng ra lính) ñã nhờ cậy rất nhiều vào ñiều này. Cụ thể là thành ngữ bốn tiếng.
Thành ngữ bốn tiếng là một tổ hợp chặt chẽ gồm hai vế. Mỗi vế một ñối tượng. Chúng
thường thuộc về một trong hai kiểu quan hệ: tương ñồng -“Mặt hoa da phấn”, “Gừng cay
muối mặn”, “Một nắng hai sương”v.v…, hoặc tương phản - “Ông chẳng bà chuộc”,
“Trống ngược kèn xuôi", “Bồ còn thóc hết”v.v… Trong một bài thơ không dài, Chính
Hữu ñã dùng khá nhiều thành ngữ và cụm từ theo lối thành ngữ: Nước mặn ñồng chua,
Giếng nước gốc ña, Rừng hoang sương muối, ðầu súng trăng treo… Trong bài thơ, ta ñã
thấy hệ thống sự vật thường ñi thành cặp ñôi khá phổ biến: anh - tôi, súng bên súng, ñầu
bên ñầu, áo - quần, tay nắm bàn tay… Thì những cặp hình ảnh trong các cụm thành ngữ trên
ñây lại bổ sung thêm vào ñội ngũ ñông ñảo những cặp ñôi ấy, khiến cho tính cặp ñôi nổi
hẳn lên như một phong cách ngôn ngữ ñặc thù của thi phẩm. ðiều thú vị là, nhìn kĩ còn
thấy, sự vật trong các thành ngữ này không chỉ luôn gắn với nhau thành cặp thành ñôi.
Mà quan hệ của chúng cũng nghiêng về mối tương ñồng. Cho nên chúng gợi ñược rất
nhiều về mối tương thân tương ái của những người ñồng chí.
Ta không khỏi ngỡ ngàng về sự ý nhị khi thi sĩ dùng thành ngữ Giếng nước gốc
ña. Cặp hình ảnh này vừa là biểu tượng của tình quê hương, vừa là biểu tượng của tình ñôi
lứa. Những người lính ra trận, không chỉ quê hương trông ñợi mà người yêu cũng trông mong.
Dùng thành ngữ ấy, tâm lý của những người nông dân mặc áo lính hiện lên thật tế nhị. Họ
thường ngại ngần, ngượng ngập khi phải nói ñến chuyện tình yêu của mình, dù ñang trò
chuyện với bạn thân ñi nữa. Vì thế, với thành ngữ giếng nước gốc ña, họ ñã tránh ñược cái pha
“chết người” ấy - tình yêu ñôi lứa của họ ñã nép sau tình quê hương một cách an toàn!
Tuy nhiên, ñặc sắc hơn cả, vẫn là câu kết hoàn toàn viết theo lề lối thành ngữ:
trưng: ñầu súng - trăng treo, chiến tranh - hoà bình, hiện tại - tương lai, hiện thực - lãng
mạn, thực tại - mơ ước
Một trật tự trước sau như thế, liệu có thể ñảo ngược ñược không?
Và, ðồng chí có thể thành một kiến trúc ngôn từ hoàn hảo không, nếu thi phẩm không ñược
xây cất bằng một vật liệu như vậy?
Hoá ra, giữa cấu trúc và vật liệu cũng có mối quan hệ ñồng chí!
ðề5. Em hãy phân tích bài thơ “Beáp löûa ” của Bằng Việt.
Trong cuộc ñời, ai cũng có riêng cho mình những kỉ niệm của một thời ấu thơ hồn
nhiên, trong sáng. Những kỉ niệm ấy là những ñiều thiêng liêng, thân thiết nhất, nó có
sức mạnh phi thường nâng ñỡ con người suốt hành trình dài và rộng của cuộc ñời. Bằng
Việt cũng có riêng ông một kỉ niệm, ñó chính là những tháng năm sống bên bà, cùng bà
nhóm lên cái bếp lửa thân thương. Không chỉ thế, ñiều in ñậm trong tâm trí của Bằng
Việt còn là tình cảm sâu ñậm của hai bà cháu. Chúng ta có thể cảm nhận ñiều ñó qua bài
thơ “Bếp lửa” của ông.
Trong cuộc ñời, ai cũng có riêng cho mình những kỉ niệm của một thời ấu thơ hồn
nhiên, trong sáng. Những kỉ niệm ấy là những ñiều thiêng liêng, thân thiết nhất, nó có
sức mạnh phi thường nâng ñỡ con người suốt hành trình dài và rộng của cuộc ñời. Bằng
Việt cũng có riêng ông một kỉ niệm, ñó chính là những tháng năm sống bên bà, cùng bà
– Thư viện Sách Tham Khảo
19
nhóm lên cái bếp lửa thân thương. Không chỉ thế, ñiều in ñậm trong tâm trí của Bằng
Việt còn là tình cảm sâu ñậm của hai bà cháu. Chúng ta có thể cảm nhận ñiều ñó qua bài
thơ “Bếp lửa” của ông.
Bằng Việt thuộc thế hệ nhà thơ trương thành trong kháng chiến chống Mĩ. Bài thơ
“ Bếp lưả” ñược ông sáng tác năm 1963 lúc 19 tuổi và ñang ñi du học ở Liên Xô. Bài
thơ ñã gợi lại những kỉ niệm ñầy xúc ñộng về người bà và tình bà cháu, ñồng thời thể
hiện lòng kính yêu, trân trọng và biết ơn của người cháu với bà, với gia ñình, quê hương,
ñất nước.
cái mùi khói ấy ñã quện lại và bám lấy tâm hồn ñứa trẻ. Dù cho tháng năm có trôi qua,
những kí ức ấy cũng sẽ ñể lại ít nhiều ấn tượng trong lòng ñứa cháu ñể rồi khi nghĩ lại
lại thấy “sống mũi còn cay”. Là mùi khói làm cay mắt người người cháu hay chính là
tấm lòng của người bà làm ñứa cháu không cầm ñược nước mắt?
– Thư viện Sách Tham Khảo
20
“ Tám năm ròng cháu cùng bà nhóm bếp
Tu hú kêu trên những cách ñồng xa
Khi tu hú kêu bà còn nhớ không bà
Bà hay kể chuyện những ngày ở Huế
Tiếng tu hú sao mà tha thiết thế!”
“Cháu cùng bà nhóm lửa”, nhóm lên ngọn lửa củasự sống và của tìng yêu bà cháy
bỏng của một cậu bé hồn nhiên, trong trắng như một trang giấy.Chính hình ảnh bếp lửa
quê hương, bếp lửa của tình bà cháu ñó ñã gợi nên một liên tưởng khác, một hồi ức khác
trong tâm trí thi sĩ thuở nhỏ. ðó là tiếng chim tu hú kêu. Tiếng tu hú kêu như giục giã
lúa mau chín, người nông dân mau thoát khỏi cái ñói, và dường như ñó cũng là một
chiếc ñồng hồ của ñứa cháu ñể nhắc bà rằng: “Bà ơi, ñến giờ bà kể chuyện cho cháu
nghe rồi ñấy!”. Từ “tu hú” ñược ñiệp lại ba lấn làm cho âm ñiệu cấu thơ thêm bồi hồi tha
thiết, làm cho người ñọc cảm thấy như tiếng tu hú ñang từ xa vọng về trong tiềm thức
của tác giả.Tiếng “tu hú” lúc mơ hà, lúc văng vẳng từ nững cánh ñồng xa lâng lâng lòng
người cháu xa xứ. Tiiếng chim tu hú khắc khoải làm cho dòng kỉ niệm của ñứa cháu trải
dài hơ, rộng hơn trong cái không gian xa thẳng của nỗi nhớ thương.
Nếu như trong những năm ñói kém của nạn ñói 1945, bà là người gắn bó với tác
giả nhất, yêu thương tác giả nhất thì trong tám năm ròng của cuộc kháng chiến chống
Mĩ, tình cảm bà cháu ấy lại càng sâu ñậm:
“Mẹ cùng cha bận công tác không về
Cháu ở cùng bà, bà bảo cháu nghe
Bà dạy cháu làm, bà chăm cháu học.
Nhóm bếp lửa nghĩ thương bà khó nhọc
ðỡ ñần bà dựng lại túp lếu tranh
Vẫng vững lòng bà dặn cháu ñinh ninh:
“ Bố ở chiến khu bố còn việc bố
Mày viết thư chớ kể này kể nọ
Cứ bảo nhà vẫn ñược bình yên!’
Cuộc sống càng khó khăn, cảnh ngộ càng ngặt ngèo, nghị lứccủa bà càng bền
vững, tấm lòng ủa bà càng mênh mông. Qua ñó, ta thấy hiện lên một người bà cần cù,
nhẫn nại và giàu ñức hi sinh. Dù cho ngôi nhà, túp lều tranh của hai bà cháu ñã bị ñốt
nhẵn, nơi nương thân của hai bà cháu nay ñã khong còn, bà dù có ñau khổ thế nào cũng
không dám nói ra vì sợ làm ñứa cháu bé bong của mình lo buồn. Bà cứng rắn, dắt cháu
vượt qua mọi khó khăn, bà không ñứa con ñang bận việc nước phải lo lắng chuyện nhà.
ðiều ñó ta có thể thấy rõ qua lới dặn của bà: “Mày có viết thư chớ kể này kể nọ / Cứ bảo
nhà vẫn ñươc bình yên!”. Lới dăn của bà nôm na giản dị nhưng chất chứa biết bao tình.
Gian khổ, thiếu thốn, bao nỗi nhớ thương con bà ñều phải nén vào trong lòng ñể yên
lòng người nơi tiền tuyến. Hình ảnh người bà không chỉ còn là người bà của riêng cháu
mà còn là một biểu tượng rõ nét cho nhữnh người phụ nữa Việt Nam giàu ñức hi sinh,
thương con qúy cháu.
Kết thúc khổ thơ, Bằng Việt ñã nâng hình ảnh bếp lửa trở thành hình ảnh ngọn,
một ngọn lửa:
“Một ngọn lửa lòng bà luôn ủ sẵn,
Một ngọn lửa chứa niềm tin dai dẳng”.
Hình ảnh ngọn lửa toả sáng trong câu thơ, nó có sức truyền cảm mạnh mẽ. Ngọn
lửa của tình yên thương, ngọn lửa của niềm tin, ngọn lửa ấm nồng như tình bà cháu,
ngọn lửa ñỏ hồng si sáng cho con ñường ñứa cháu. Bà luôn nhắc cháu rằng: nơi nào có
ngọn lửa, nơi ñó có bà, bà sẽ luôn ở cạnh cháu.
Những dòng thơ cuối bài cũng chính là những suy ngẫm về bà và bếp lửa mà nhà thớ
muốn gởi tới bạn ñọc, qua ñó cũng là nh74ngbài học sâu sắc từ công việc nhó, lửa tưởng
chừng ñơn giản:
“ Nhóm bếp lửa ấp iu, nồng ñượm”
Một lấn nữa, hình ảnh bếp lửa “ ấp iu”, “nồng ñượm” ñã ñược nhắc lại ở cuối bài
về bà:
“Giờ cháu ñã ñi xa. Có ngọn khói trăm tàu
Có lưả trăm nhà, niềm vui trăm ngả
Nhưng vẫn chẳng lúc nào quên nhắc nhở
Sớm mai này bà nhóm bếp lên chưa?”
Xa vòng tay chăm chút cuả bà ñể ñến vơí chân trơì mới, chính tình cảm cuả hai
bà chaú ñã sươỉ ấm lòng tác giả trong cái muà ñông lạnh giá cuả nước Nga. ðứa cháu
nhỏ cuả bà ngàu xưa giờ ñã trưởng thành nhưng trong lòng vần luôn ñinh ninh nhớ về
góc bếp, nới nắng mưa hai bà cháu có nhau. ðưá cháu sẽ không bao giờ quên và chẳng
thể nào quên ñược vì ñó chính là nguồn cội, là nơi mà tuổi thơ cuả ñưá chaú ñã ñược
nuôi dưỡng ñể lớn lên từ ñó.
“ ðọc xong bài thơ, nhắm mắt laị tưởng tưởng, bạn sẽ hình dung thấy ngay hình
ảnh bếp lưả hồng và dáng ngươì bà lặng lẽ ngồi bê. Hình ảnh có tính sóng ñôi này hiện
lên thật sống ñộng, rõ ràng như thể nét khắc, nét chạm vậy ” (Văn Giá). Bài thơ Bếp
lưả sẽ sống maĩ trong lòng bạn ñọc nhờ sưc truyền cảm sâu sắc cuả nó. Bài thơ ñã khơi
dạy trong lòng chúng ta một tình cảm cao ñẹp ñối với gia ñình, với những ngươì ñã tô
màu lên tuổi thơ trong sáng cuả ta.
ðề 6. Em hãy phân tích bài thơ “Ánh trăng” của Nguyễn Duy.
– Thư viện Sách Tham Khảo
23
Trăng- hình ảnh giản dị mà quen thuộc, trong sáng và trữ tình. Trăng ñã trở thành
ñề tài thường xuyên xuất hiện trên những trang thơ của các thi sĩ qua bao thời ñại. Nếu
như “ Tĩnh dạ tứ” cũa Lí Bạch tả cảnh ñêm trăng sáng tuyệt ñẹp gợi lên nỗi niềm nhớ
quê hương, “ Vọng nguyệt” của Hồ Chí Minh thể hiện tâm hồn lạc quan, phong thái ung
dung và lòng yêu thiên nhiên tha thiết của Bác thì ñến với bài thớ “Ánh trăng” của
Nguyễn Duy, chúng ta bắt gặp hình ảnh vầng trăng mang ý nghĩa triết lí sâu sắc. ðó
hồn nhiên như cây cỏ
ngỡ không bao giờ quên
cái vầng trăng tình nghĩa”
Vần lưng một lần nữa lại xuất hiện: “trần trụi”, “hồn nhiên”, “thiên nhiên” làm
cho âm ñiệu câu thơ thêm liền mạch, dường như nguồn cảm xúc cũa tác giả vẫng ñang
tràn ñầy. Chính cái hình ảnh so sánh ẩn dụ ñã tô ñâm lên cái chất trần trụi, cái chất hồn
– Thư viện Sách Tham Khảo
24
nhiên của người lính trong nhữnh năm tháng ở rừng. Cái vầng trăng mộc mạc và giản dị
ñó là tâm hồn của những người nhà quê, của ñồng, của sông. của bể và của những người
lính hồn nhiên, chân chất ấy. Thế rồi cái tâm hồn - vầng trăng ấy sẽ phài làm quen với
môt hoàn cảnh sống hoàn toàn mới mẻ:
“Từ hồi về thành phố
quen ánh ñiện, cửa gương
vầng trăng ñi qua ngõ
như người dưng qua ñường”
Thời gian trôi qua cuốn theo mọi thứ như một cơn lốc, chỉ có tình cảm là còn ở
lại trong tâm hồn mỗi con người như một ánh dương chói loà. Thế nhưng con người
không thể kháng cự lại sự thay ñổi ñó.Người lính năm xưa nay cũng làm quen dần với
những thứ xa hoa nơi “ánh ñiện, cửa gương”. Và rồi trong chính sự xa hoa ñó, người
lính ñã quên ñi người bạn tri kỉ của mình, người bạn mà tưởng chừng chẳng thể quên
ñược, “người tri kỉ ấy” ñi qua ngõ nhà mình nhưng mình lại xem như không quen không
biết. Phép nhân hoá vầng trăng trong câu thơ thật sự có cái gì ñó làm rung ñộng lòng
người ñoc bởi vì vầng trăng ấy chính là một con người.
Cũng chính phép nhân hoá ñó làm cho người ñọc cảm thương cho một “người
bạn” bị chính người bạn thân một thời của mình lãng quên. Sự ồn ã của phố phường,
những công việc mưu sinh và những nhu cầu vật chất thường nhật khác ñã lôi kéo con
gười ra khỏi những giá trị tinh thần ấy, một phần vô tâm của con người ñã lấn át lí trí
của người lính, khiến họ trở thành kẻ quay lưng với quá khứ. Con người khi ñược sống
người ñang cùng nhau trò chuyện . Người lính cảm thấy có cái gì “rưng rưng” tự trong
tận ñáy lòng và dường như nước mắt ñang muốn trào ra vì xúc ñộng trước lòng vị tha
của người bạn “tri kỉ” của mình . ðối mặt với vầng trăng, bỗng người lính cảm thấy như
ñang xem một thước phim quay chậm về tuổi thơ của mình ngày nào, nới có “sông” và
có “bể” .Chính những thước phim quay chậm ấy làm người lính trào dâng nhưng nỗi
niềm và ngững giọt nước mắt tuôn ra tự nhiên, không chút gượng ép nào! Những giọt
nước mắt ấy ñã phần nào làm cho người lính trở nên thanh thản hơn, làm tâm hồn anh
trong sáng lại. Một lần nữa những hình tượng trong tuổi thơ và chiến tranh ñược láy lại
làm sáng tỏ những ñiều mà con người cảm nhận ñược. Cái tâm hồn ấy, cái vẻ ñẹp mộc
mạc ấy không bao giờ bị mất ñi, nó luôn lặng lẽ sống trong tâm hồn mỗi con người và
nó sẽ lên tiếng khi con người bị tổn thương. ðoạn thơ hay ở chất thơ mộc mạc, chân
thành, ngôn ngữ bình dị mà thấm thía, những hình ảnh ñi vào lòng người.
Vầng trăng trong khổ thớ thứ ba ñã thực sự thức tỉnh con người:
“Trăng cứ tròn vành vạnh
kề chi người vô tình
ánh trăng im phăng phắc
ñủ cho ta giật mình”
Khổ thơ cuối cùnh mang tính hàm súc ñộc ñáo và ñạt tới chiều sâu tư tưởng và
triết lí. “Trăng tròn vành vạnh” là vẻ ñẹp của trăng vẫn viên mãn, tròn ñầy và không hề
bị suy suyển dù cho trải qua biết bao thăng trầm. Trăng chỉ im lặng phăng phắc, trăng
không nói gì cả, trăng chỉ nhìn, nhưng cái nhìn ñó ñủù khiến cho con người giật mình.
Ánh trăng như một tấm gương ñể cho con người soi mình qua ñó, ñể con người nhận ra
mình ñể thức tỉnh lương tri. Con người có thể chối bỏ, có thể lãng quên bất cứ ñiều gì
trong tâm hồn anh ta . Nhưng dù gì ñi nũa thì những giá trị văn hoá tinh thần của dân tộc
cũng luôn vậy bọc và che chở cho con người.
“Ánh trăng” ñã ñi vào lòng người ñọc bao thế hệ như một lời nhắc nhở ñối
với mỗi người: Nếu ai ñã lỡ quên ñi, ñã lỡ ñánh mất những giá trị tinh thần qúy giá thì
hãy thức tỉnh và tìmlại những giá trị ñó. còn ai chưa biết coi trọng những giá trị ấy thì
hãy nâng niu những kí ức quý giá của mình ngay từ bây giờ, ñừng ñể quá muộn. Bài thơ
không chỉ hay về mắt nội dung mà cón có những nét ñột phá trong nghệ thuật. Thể thơ