TRƯỜNG TRUNG CẤP VIỆT KHOA
ĐỀ TÀI:
QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG
NGÂN HÀNG ACB
GVHD:
Sinh Viên:
MSSV:
LỚP:
TP.HCM 04/2014
LỜI MỞ ĐẦU
Trong quá trình phát triển của một đất nước, Ngân hàng đóng một vai trò rất
quan trọng. Nó là hệ thần kinh của toàn bộ nền kinh tế quốc dân, nền kinh tế chỉ có
thể phát triển với tốc độ cao nếu có một hệ thống Ngân hàng hoạt động ổn định và
có hiệu quả, không thể có tăng trưởng trong khi hệ thống tổ chức và hoạt động của
Ngân hàng yếu kém và lạc hậu. Như vậy đòi hỏi Ngân hàng phải phát triển tương
xứng và hoạt động có hiệu quả trong hoạt động lưu thông tiền tệ.
Điều hoà lưu thông tiền tệ chủ yếu thông qua hoạt động tín dụng, hoạt động tín
dụng là xương sống của hệ thống Ngân hàng thương mại, cụ thể là quá trình huy
động vốn và sử dụng vốn có hiệu quả của Ngân hàng sẽ giúp cho các thành phần
kinh tế phát triển ổn định và ngược lại.
Nước ta đang trong qúa trình Công nghiệp hoá - hiện đại hoá với đường lối phát
triển nền kinh tế nhiều thành phần có sự điều tiết của Nhà nước đã tạo tiền đề cho sự
khách quan khôi phục và phát triển các thành phần kinh tế. Thành phần kinh tế
ngoài quốc doanh với những tiềm năng và ưu thế sẵn có đã nhanh chóng thích nghi
với cơ chế kinh tế thị trường ngày càng khẳng định vị trí và vai trò quan trọng không
thể thiếu của mình trong công cuộc đổi mới nền kinh tế.
Hoạt động của Ngân hàng có nhiều bước chuyển biến tích cực. Tuy nhiên, trong
nền kinh tế đầy biến động rủi ro là điều không thể tránh khỏi đối với tất cả các thành
phần kinh tế. Những nguy cơ tiềm ẩn như sự không trung thực của khách hàng, vốn
vay bị sử dụng sai mục đích, khách hàng phá sản hay do suy thoái kinh tế đều có
thể biến một khoản vay chất lượng cao thành một khoản nợ khó đòi. Đó là chưa kể
Tên giao dịch quốc tế : Asia Commercial Bank
Tên viết tắt : ACB
Trụ sở chính : 442 Nguyễn Thị Minh Khai, Q3,Tp Hồ Chí
Minh
Điện thoại : (848) 3929 0999
Fax : (848) 3839 9885
Địa chỉ trên MaroStores:
Website : www.acb.com.vn
Email :
Telex : 813158 ACB VT - SWIFT
Code : ASCBVNVX
Logo :
Slogan : Ngân hàng của mọi nhà.
Ngân hàng TMCP Á Châu ( Asia Commercial Bank - ACB) được thành lập ngày
13/05/1993 và bắt đầu hoạt động kinh doanh từ ngày 04/06/1993 theo giấy phép hoạt
động số 0032/ NH- GP ngày 24/04/1993 của thống đốc NHNN(Ngân hàng Nhà
nước). ACB là một trong nhừng ngân hàng TMCP được thành lập mới sau khi hai
Pháp lệnh Ngân hàng Việt Nam ra đời. Tuy ra đời và hoạt động trong điều kiện hệ
thống tài chính tiền tệ trong nước gặp nhiều khó khăn, niềm tin của công chúng đối
với hệ thống ngân hàng trong nước giảm sút nhưng kết quả hoạt động của Ngân hàng
TMCP Á Châu trong thời gian qua đã khẳng định bước đi vững chắc của Ngân hàng.
Những kết quả đó đã đánh dấu bước phát triển vượt bậc của Ngân hàng trong nỗ lực
Sinh Viên: – MSSV: – Lớp: www.giokim.com – Nhiều thông tin hay
4
vươn lên từ một ngân hàng TMCP nhỏ bé, thiếu và yếu kinh nghiệm trở thành một
ngân hàng vững mạnh có uy tín trên thị trường trong nước và quốc tế. Hiện nay
Ngân hàng TMCP Á Châu được đánh giá là một trong những ngân hàng thương mại
cổ phần vững mạnh nhất Việt Nam. Tính đến năm 2009, Ngân hàng TMCP Á Châu
đã liên tục đạt được những thành tích lớn qua sự công nhận của xã hội; đó là: Huân
9,376,965,060,000
20
2012
9.376.965.060.000
20
2013
9.376.965.060.000
20
2014
9.376.965.060.000
20
Sinh Viên: – MSSV: – Lớp: www.giokim.com – Nhiều thông tin hay
5
( Nguồn: Báo cáo thương niên của ACB năm 2013)
Tổng số vốn tự có hiện tại của ngân hàng với vốn góp của 7 lớn cổ đông và nhiều
cổ đông nhỏ, trong đó:
Cổ đông nước ngoài chiếm 29,07% bao gồm:
+ Connaught Investors Ltd (7.26%)
+ Standard CHrtered APR Ltd (8.77%)
+ Standard CHrtered Bank (Hồng Kong) Ltd (6.23%)
+ Dragon Financial Holdings Ltd. (6.81%)
Cổ đông trong nước là pháp nhân chiếm 10.93%
Cổ đông trong nước là thể nhân chiếm 59.99%.
Như vậy, hiện nay ACB có vốn điều lệ đứng thứ 7 trong hệ thống ngân hàng tại
Việt Nam.
Ngành nghề kinh doanh
Huy động vốn ngắn, trung và dài hạn theo các hình thức tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi
thanh toán, chứng chỉ tiền gửi; tiếp nhận vốn ủy thác đầu tư; nhận vốn từ các tổ chức
tín dụng trong và ngoài nước; cho vay ngắn, trung và dài hạn; chiết khấu thương
phiếu, công trái và giấy tờ có giá; đầu tư vào chứng khoán và các tổ chức kinh tế;
năm 2012.
Công ty liên kết
Công ty Cổ phần Dịch vụ Bảo vệ Ngân hàng Á Châu (ACBD).
Công ty Cổ phần Địa ốc ACB (ACBR).
Công ty liên doanh
Công ty Cổ phần Sài Gòn Kim hoàn ACB - SJC (góp vốn thành lập với
SJC).
1.2 Chiến lược phát triển của ACB
Tầm nhìn của ACB là trở thành một trong 3 tập đoàn tài chính - ngân hàng hàng
đầu Việt Nam vào năm 2015. Với mục tiêu tăng trưởng tín dụng 90% trong năm
2010, ACB cho biết, sẽ kiểm soát nợ xấu dưới 1%. Tỉ lệ này trong năm 2009 là
khoảng 0,4% trên tổng dư nợ 62.025 tỷ đồng tính đến cuối năm 2009. Trong năm
nay ngân hàng sẽ tập trung nguồn lực để kiểm soát rủi ro, nhất là với các khoản tín
dụng tiêu dùng tín chấp. Để hạn chế tối đa nợ xấu, ACB sẽ quản lý tín dụng theo
danh mục. Đồng thời, ngân hàng sẽ dành nhiều nguồn lực và công sức cho quản lý
rủi ro. ACB sẽ tăng cường tín dụng bằng các sản phẩm đặc thù và chất lượng dịch
vụ, nhưng không hy sinh chất lượng tín dụng. Chiến lược cho năm 2010 là quản lý
tốt, lợi nhuận hợp lý và tăng trưởng bền vững.
Hiện tổng huy động vốn của ACB chiếm thị phần 11% trên tổng huy động vốn của
cả hệ thống ngân hàng trong khi thị phần tín dụng của ngân hàng chỉ là 2,6%. Mục
tiêu của ACB là tăng thị phần tín dụng của mình lên mức 5%, và tăng tỷ lệ cho vay
trên huy động từ 40% trong năm 2012 lên 50% trong năm nay. ACB cho biết sẽ đưa
35.000 tỉ đồng để cho vay theo chương trình hỗ trợ lãi suất 4% của Chính phủ. Đến
nay ngân hàng đã ký cho vay hơn 8.000 tỉ đồng và giải ngân gần 1.000 tỉ đồng trong
chương trình này.
Sinh Viên: – MSSV: – Lớp: www.giokim.com – Nhiều thông tin hay
7
1.3 Cơ cấu tổ chức
Tính đến cuối năm 2013 tổng số nhân viên của Ngân hàng TMCP Á Châu là 8.791
người. Cán bộ có trình độ đại học và trên đại học chiếm 93%, thường xuyên được
hàng Doanh
nghiệp
Khối Khách
hàng Cá
nhân
Ban định giá
tài sản
Ban kiểm tra
kiểm soát
Ban đảm
bảo chất
lượng
Ban chiến
lược
Phòng Quan
hệ Quốc tế
Ban chính sách
và quản lý rủi ro
tín dụng
Sở giao dịch, trung tâm thẻ, các chi nhánh và phòng giao dịch;
Các công ty trực thuộc: Công ty chứng khoán ACB (ACBS), Công ty Quản lý nợ và khai thác tài sản ACB (ACBA)
Ban kiểm soát
Các Hội đồng Văn phòng HĐQT
( Nguồn: Báo cáo thường niên của ACB năm 2013)
Hệ thống tổ chức của ACB được thiết lập theo mô hình trực tuyến - chức năng.
Mô hình này có ưu điểm lớn là gắn việc sử dụng chuyên gia ở các bộ phận chức năng
với hệ thống trực tuyến mà vẫn giữ được tính thống nhất quản trị ở mức độ nhất
định.Qua đó cũng cho thấy được sự phối hợp giữa hệ thống trực tuyến và chức năng,
thể hiện ở việc ACB bắt đầu trực tuyến hóa các giao dịch ngân hàng từ tháng
10/2001 thông qua hệ quản trị nghiệp vụ ngân hàng bán lẻ (TCBS- The Complete
NHÂN VIÊN
HÀNH CHÍNH
BỘ MÁY GD- NV
TBP-
PFC
LOAN
CSR
A/O
PFC
TBP- GD
KSV
TELLE
R
CSR
GD
TH Ủ
QUỸ
KSV-
GDV
GDV
10
Trong đó:
Giám đốc ACB – Cộng Hòa: nhận chỉ tiêu, lập kế hoạch và tổ chức thực
hiện kế hoạch kinh doanh của chi nhánh; trực tiếp giám sát các hoạt động
của Phòng kinh doanh; giao cho TBP giao dịch trực tiếp giám sát hoạt động
của bộ phận giao dịch, dịch vụ khách hàng…
Nhân viên tư vấn tài chính cá nhân ( PFC): chủ động mang sản phẩm đến
với khách hàng, phát triển nguồn khách hàng mới,, tiếp cận tư vấn hiệu quả
những đặc tính sản phẩm, tạo sự khác biệt của ACB để thuyết phục khách
hàng quyết định sư dụng sản phẩm của ACB,cập nhật những kiến thức mới
2013 ( tỷ
đồng)
% So
với kế
hoạch
Năm
2012 ( tỷ
đồng)
% Tăng
trưởng so
2011
Lợi nhuận
trước thuế
1.800 1.005 55,8 963 -77,1%
Tổng tài sản 183.000 166.308 90,9 175.196 -37,3%
Tổng dư nợ
tín dụng
112.000 104.665 93,5 100.353 0%
Huy động
khách hàng
141.880 138.669 97,7 126.679 -31,8%
( Nguồn: Báo cáo thường niên của ACB năm 2013)
Qua bảng số liệu trên cho ta thấy:
Về tăng trưởng quy mô, mặc dù các chỉ tiêu tổng tài sản, tổng dư nợ tín dụng
và huy động tiền gửi khách hàng của ACB mới đạt lần lượt 91%, 94% và 98%
kế hoạch đề ra nhưng tốc độ tăng trưởng huy động tiền gửi khách hàng và cho
vay của ACB đều cao so tốc độ tăng trưởng của ngành. Huy động tiền gửi
khách hàng của ACB năm 2013 tăng trưởng 9%, và dư nợ cho vay khách hàng
tăng trưởng 4,3%.
Về mặt lợi nhuận, Do tình hình chung kinh tế thế giới và Việt Nam ACB đã
Dư nợ cho vay 15 35 135 107 245
( Nguồn: Báo cáo tài chính của ACB- CH năm 2013)
Qua bảng số liệu và biểu đồ trên, chúng ta có thể nhận thấy tình hình kinh doanh khá
hiệu quả và ổn định qua các năm.
Một ngân hàng thương mại hoạt động hiệu quả là một ngân hàng huy động được nguồn
vốn cần thiết cho hoạt động của mình. Trong tình hình cạnh tranh về lãi suất và thị trường
có nhiều kênh thu hút vốn (cổ phiếu, trái phiếu, ) như hiện nay thì việc huy động vốn gặp
không ít khó khăn, nhưng qua bảng số liệu trên cho thấy khả năng huy động vốn của ACB
- CH vẫn giữ tốc độ tăng dần qua các năm: cuối năm 2010 đạt 150 tỷ đồng tỷ đồng, tăng
gấp 3 lần so với năm 2009, vượt chỉ tiêu kế hoạch năm 2010 là 79,3% (kế hoạch 2010 là
83,5 tỷ đồng), đến năm 2011 đạt 450 tỷ đồng, và năm 2013 là 657 tỷ đồng tăng 18,38% so
với năm 2012, trong đó huy động tiền gửi thanh toán và tiết kiệm từ dân cư tăng đáng kể.
Điều này đã chứng tỏ sự tin tưởng của khách hàng vào ACB- CH ngày càng cao. Nguyên
nhân là do ngân hàng đã duy trì nhiều hình thức huy động đa dạng, áp dụng chính sách lãi
suất linh hoạt cho từng địa bàn và tăng cường công tác quảng bá hình ảnh.
Sau khi đã huy động được nguồn vốn cần thiết, đòi hỏi các ngân hàng thương mại phải
tìm được khách hàng để cấp tín dụng nhằm giải phóng nguồn vốn và tìm kiếm lợi nhuận.
Trong năm 2009 đạt 0,5 tỷ đồng do ACB- CH vừa mới thàng lập được 7 tháng, năm 2010
đạt 2 tỷ tăng gấp 3 lần so với năm 2009, đến năm 2012 đạt 12,5 tỷ đồng tăng gấp 1,5 lân so
với năm 2011 là 5 tỷ đồng và đến cuối năm 2013 đạt 8,1 tỷ đồng tỷ đồng, giảm 35,2% so
với năm 2012 do sự ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính thế giới. Đây là thành quả của
sự năng động tìm kiếm khách hàng, chuyên nghiệp trong phong cách phục vụ và liên tục
đa dạng hóa các sản phẩm tín dụng.
Sinh Viên: – MSSV: – Lớp: www.giokim.com – Nhiều thông tin hay
13
3.3 Một số kết quả khác
Về vốn ngân hàng, trong năm 2013 ACB đã hoàn thành tăng vốn điều lệ
thêm 1.458 tỷ đồng từ chuyển đổi trái phiếu thành cổ phiếu và phát hành cổ
phiếu thưởng từ các quỹ. Sau khi tăng vốn, ACB có tổng cộng 937,669,470
cổ phiếu đang lưu hành và 100% là cổ phiếu phổ thông. Đến 31/12/2013
Đặc điểm hoạt động tín dụng tại Ngân hàng TMCP Á Châu – Chi nhánh Cộng Hòa
Trước khi đi sâu phân tích tình hình rủi ro tín dụng tại ACB – CH, chúng ta cần xem
xét phân tích về cơ cấu cho vay và chất lượng tín dụng trong thời gian qua.
Tình hình huy động vốn
Hoạt động tín dụng được mở rộng với các đợt phát hành trái phiếu . Hình thức này tỏ
ra có hiệu quả trong việc gia tăng nguồn vốn, giảm tỷ trọng vốn do ngân sách nhà nước
cấp trong tổng nguồn vốn của ngân hàng. Năm 2009, ACB- CH vừa được thành lập nên
tồng nguốn vốn huy động của ACB- CH là 35 tỷ đồng và tăng dần trong các năm tiếp
theo; năm 2011, ACB- CH có tổng nguồn vốn huy động gấp 3,32 lần so với năm 2010
và đạt con số là 415 tỷ đồng. Năm 2012 là năm có nhiều biến động với nền kinh tế nói
chung và với ngành ngân hàng nói riêng nhưng tốc độ tăng trưởng của tổng nguồn vốn
vẫn tăng mặc dù không lớn, chỉ tăng 22,17% so với năm 2011. Đến năm 2013, cùng với
nhiều chính sách của chính phủ, tốc độ tăng đã khôi phục trở lại và đạt con số là 645 tỷ
đồng.
Chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng nguồn vốn huy động của ACB- CH là tiền gửi tiết
kiệm. Năm 2011 tăng 78%, chậm hơn tốc độ tăng của tổng nguồn vốn, song khi mà các
nguồn khác giảm đi thì năm 2012, tiền gửi tiết kiệm vẫn tăng 23% và đầu năm 2009
tăng 36%. Theo đánh giá chung thì tỷ lệ này cần nên giảm xuống vì nguồn huy động từ
tiền gửi tiết kiệm có chi phí trả lãi cao hơn so với các nguồn tiền gửi khác và điều này sẽ
làm giảm lợi nhuận của ngân hàng.
Tiền gửi không kì hạn và chứng chỉ tiền gửi chiếm khoảng từ 10-15%. Chứng chỉ tiền
gửi thì tăng chậm, ổn định hơn. Còn tiền gửi không kì hạn năm 2011 tăng tới 136% thì
đến năm 2012 lại giảm 23% và tăng trờ lại vào năm 2009. Tiền gửi có kỳ hạn chiếm tỷ
trọng trung bình là 5% trong tổng nguồn vốn huy động. Tiền gửi có kỳ hạn tăng chủ yếu
là do nguồn tiền gửi VND. Năm 2011 tiền gửi tăng đến 125% so với năm 2010. Đến
năm 2012, thì nguồn vốn này lại giảm xuống 15% và tới đầu năm 2013 vừa qua thì tăng
trở lại là 22% . Đến năm 2012 thì ACB- CH bắt đầu phát hành trái phiếu, huy động được
70 tỷ đồng. Tuy chỉ chiếm 6% trong tổng vốn huy động song đợt phát hành này giúp
ACB- CH thu được không ít lợi nhuận trong khi mà thị trường huy động vốn gặp nhiều
biến động trong những năm vừa qua.
%
VND
16.609.237 33.140.098 39.528.255 53.615.948
Ngoại tệ
5.828.373 6.751.646 9.590.472 13.296.653
Trái phiếu
- 0% 4.170.000 6% 4.510.000 6% 4.510.000 5%
Chứng chỉ
tiền gửi
5.861.379 17% 6.968.773 11% 10.895.894 14% 11.052.762 11%
(Nguồn: Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của ACB-CH năm 2013)
Tinh hình sử dụng vốn
Sử dụng vốn là khâu mấu chốt quyết định hiệu quả kinh doanh của ngân hàng. Do vậy
sử dụng vốn quyết định sự tồn tại, phát triển của ngân hàng. Cùng với sự phát triển của
nền kinh tế trong những năm qua, hoạt động tín dụng của ngân hàng ACB- CH nói
chung đã đáp ứng tương đối tốt nhu cầu của khách hàng. Trên cơ sở nguồn vốn huy
động, hoạt động cho vay và đầu tư liên tục được phát triển.
Bảng 5: Tình hình sử dụng vốn qua các năm
Chỉ tiêu Năm
2010
Năm
2011
Năm
2012
Năm
2013
Vốn huy động/tổng tài sản 83,3% 92,2% 91,4% 98,2%
Tổng dư nợ/tổng tài sản 23,3% 30% 19,3% 37,3%
( Nguồn: Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của ACB-CH năm 2013)
Sinh Viên: – MSSV: – Lớp: www.giokim.com – Nhiều thông tin hay
28.405 14.356 25.409 32.000
( Nguồn: Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của ACB-CH năm 2013)
Phân loại theo các loại hình cho vay thì có: cho vay các tổ chức kinh tế và cá nhân,
cho thuê tài chính và cho vay theo tài trợ của chính phủ và các tổ chức tín dụng. Chủ yếu
ACB- CH cho các tổ chức kinh tế, cá nhân trong nước vay. Năm 2011 khoản vay này
tăng 47% song đến năm 2012 chỉ tăng 8% do đây là năm có sự biến động về lãi suất cho
vay lớn. Đến năm 2013 thì lượng vay tăng trở lại, tăng 32% so với năm trước chỉ trong 6
tháng đầu năm.
Theo ngành nghề kinh doanh thì ACB - CH chủ yếu cho vay dịch vụ cá nhân và
công cộng. Những năm vừa qua, theo xu hướng chung các ngân hàng đều hướng tới
phục vụ nhu cầu tiêu dùng của các cá nhân là chính, như: cho vay mua nhà, mua đồ
dung gia dụng, sửa chữa, du lịch… Đến thời điểm gần cuối năm 2013, nhu cầu tiêu dùng
của dân cư là rất cao nên nhu cầu vay vốn tiêu dung lên tới 30%. NHNN hiện cũng đã
cho phép nới rộng đối với hình thức vay vốn này, vừa đáp ứng được nhu cầu “khát vốn”
của tầng lớp dân cư mà cũng góp phần làm tăng doanh thu cho các ngân hàng. Cụ thể
với ACB- CH thì đợt tới, ngân hàng sẽ tăng them 2 tỷ để cho vay tiêu dùng. Đồng thời
Sinh Viên: – MSSV: – Lớp: www.giokim.com – Nhiều thông tin hay
17
những khách hàng nào vay vốn để mua sắm, tiêu dùng cuối năm sẽ được vay đến thời
hạn 3 năm và hạn mức tuỳ theo khả năng trả nợ của khách hàng.
Bảng 7: Cho vay theo ngành nghề kinh doanh
Đơn vị: triệu đồng
Chỉ tiêu
Năm
2010
Năm
2011
Năm
2012
Năm
đảm bảo an toàn, ACB- CH hạn chế khoản vay đầu tư cho các thị trường này. Chính vì
thế mà ngân hàng đã không bị lỗ nặng như một số ngân hàng khác.
Nếu phân tích theo thời hạn cho vay thì tỷ trọng dư nợ tín dụng ngắn hạn cao, năm
2012 chiếm 55% và đến năm 2013 chiếm 56% so với tổng dư nợ cho vay, trong khi đó tỷ
trọng dư nợ tín dụng trung và dài hạn chỉ đạt 45% trong năm 2012 và đến năm 2013 đạt
44% . Bởi vì về khía cạnh thời hạn thì những món vay có thời hạn càng dài thì càng ẩn
Sinh Viên: – MSSV: – Lớp: www.giokim.com – Nhiều thông tin hay
18
chứa nhiều rủi ro. Cho nên ngân hàng luôn có xu hướng dịch chuyển tăng tỷ trọng nợ vay
ngắn hạn để mau thu hồi, quay vòng vốn nhanh đặc biệt là trong điều kiện kinh tế phát
triển nhanh, có nhiều biến động và cạnh tranh như hiện nay.
Nếu phân tích theo loại tiền tệ cho vay thì hình thức cho vay bằng đồng Việt Nam
chiếm tỷ trọng cao trong tổng dư nợ cho vay năm 2012 chiếm 67,6%, và đến năm 2013
chiếm 68,6% tổng dư nợ cho vay. Tỷ lệ giải ngân bằng ngoại tệ và vàng cũng tăng đáng
kể, năm 2011 tăng 141,4% so với năm 2010, chiếm 32,4% và đến năm 2012 chiếm 31,4%
tổng dư nợ cho vay.
Cơ cấu dư nợ nếu phân loại theo thành phần kinh tế thì đến năm 2013 cho thấy: chiếm
tỷ lệ cao nhất là khách hàng thể nhân, chiếm 48,5%, kế đến là các doanh nghiệp ngoài
quốc doanh, chiếm 45,7% và phần còn lại là 5,8% dư nợ cho vay các doanh nghiệp Nhà
nước. Danh mục cho vay theo nhóm khách hàng của Ngân hàng tiếp tục thay đổi tích cực
theo hướng giảm dần tỷ trọng cho vay các doanh nghiệp Nhà nước, tăng dần tỷ trọng cho
vay đối với thành phần kinh tế phi Nhà nước nhằm hỗ trợ mạnh nhu cầu về vốn cho sự
phát triển. Khách hàng của ngân hàng mở rộng và phát triển đến mọi thành phần kinh tế.
Với chính sách hợp lý, Ngân hàng đã và đang xây dựng cho mình một đội ngũ khách hàng
đa dạng, đông đảo, vững mạnh và gắn bó với ngân hàng.
Tình hình dư nợ nhìn chung qua các năm đều tăng cao, sự tăng trưởng này là có cơ sở và
gắn liền với các yếu tố thúc đẩy.
Và chất lượng tín dụng thì quan trọng hơn việc mở rộng tín dụng. Phần phân tích chỉ
tiêu dư nợ tín dụng ở trên cho thấy sự tăng trưởng khá cao của chỉ tiêu này trong thời gian
qua. Tuy nhiên, hoạt động tín dụng có hiệu quả hay không lại phụ thuộc rất lớn vào chất
bao gồm:
Tài trợ vốn lưu động: cho vay sản xuất kinh doanh trong nước, cho vay bổ sung
vốn kinh doanh trả góp, thấu chi tài khoản.
Tài trợ xuất khẩu: tài trợ thu mua dự trữ, tài trợ xuất nhập khẩu trọn gói, tài trợ
xuất khẩu trước khi giao hàng, chiết khấu hối phiếu kèm theo bộ chứng từ hàng
xuất khẩu theo phương thức L/C, D/A, D/P, cho vay bảo đảm bằng khoản phải
theo theo bộ chứng từ hàng xuất khẩu theo phương thức L/C, D/A, D/P.
Tài trợ nhập khẩu: tài trợ nhập khẩu, tài trợ nhập khẩu thế chấp bằng chính lô
hàng nhập khẩu.
Tài trợ tài sản cố định- dự án: tài trợ tài sản cố định/ dự án, cho vay mua xe thế
chấp bằng chính xe mua.
Các chương trình tài trợ đặc biệt cho doanh nghiệp vừa và nhỏ: SMEDF, SMEFP,
SMESC, SMEHG.
Dịch vụ bảo lãnh: bảo lãnh trogn nước, bảo lãnh quốc tế.
Cho vay đầu tư: cho vay đầu tư vàng, cho vay đầu tư tiền ngày T.
Chính sách của ACB – CH
Nhìn lại những biến đổi và thách thức từ môi trường, có thể nói ngân hàng đã hoàn
thành kế hoạch lợi nhuận, dự trữ tốc độ tăng trưởng khá cao và đáp ứng tốt yêu cầu về đảm
bảo an toàn hoạt động (đặc biệt là chất lượng tín dụng), đồng thời có bước tiến tiếp tục
khẳng định được thương hiệu và vị thế của ACB cũng như ACB- CH trên thị trường. Với
Sinh Viên: – MSSV: – Lớp: www.giokim.com – Nhiều thông tin hay
20
những kết quả trên, ACB-CH đã góp phần giúp ACB chứng tỏ mình là ngân hàng luôn
đem lại giá trị gia tăng cao và bền vững cho cổ đông cả trong ngắn hạn và dài hạn.
Tiến tới năm 2010, Ban lãnh đạo ACB- CH cho rằng có khó khăn nhưng cơ hội cũng
không ít. Cơ hội đến từ sự phục hồi của kinh tế thế giới nói chung (trong đó khu vực châu
Á tiếp tục làm đầu tàu) và kinh tế trong nước nói riêng. Còn khó khăn đến từ việc các
nghiệp vụ kinh doanh đặc trưng của ngân hàng phần nào bị thu hẹp, khả năng tăng trưởng
mạng lưới hoạt động bị giới hạn trong khi các loại rủi ro đều gia tăng (thanh khoản, tỷ giá,
pháp lý, vận hành). Câu hỏi là làm thế nào để đáp ứng được yêu cầu của tình hình mới và
hoá để giải quyết nhu cầu phân phối vốn, nhu cầu thanh toán … , phục vụ cho phát triển,
mở rộng sản xuất kinh doanh của các tổ chức kinh tế, cá nhân với đặc thù kinh doanh trên
lĩnh vực tiền tệ. Vì vậy, hoạt động ngân hàng chứa đựng nhiều tiềm ẩn rủi ro mà chúng ta
khó có thể lường trước được. Nguyên nhân của những tiềm ẩn rủi ro này là do ngân hàng
là một trung gian tài chính, huy động vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế với lãi suất thấp, sau
đó cho các tổ chức kinh tế, cá nhân vay lại với lãi suất cao để thu lợi nhuận. Nếu ngân
hàng không đáp ứng đủ vốn cho nền kinh tế hoặc huy động đủ vốn nhưng không có thị
trường để cho vay thì ngân hàng hoạt động kém hiệu quả, sẽ dẫn đến rủi ro.
Hoạt động kinh doanh ngân hàng rất nhạy cảm, có liên quan đến nhiều lĩnh vực khác
nhau của nền kinh tế, chịu sự tác động của nhiều nhân tố khách quan và chủ quan như kinh
tế, chính trị, xã hội … Từ đó cũng gây ra những thiệt hại không nhỏ cho ngân hàng. Hơn
nữa, ngân hàng kinh doanh không những chỉ huy động vốn và cho vay mà còn rất nhiều
lĩnh vực khác như thanh toán, bảo lãnh, kinh doanh ngoại hối, chứng khoán, góp vốn liên
doanh, dịch vụ thẻ đại lý … Vì vậy có thể núi rằng rủi ro ngân hàng rất đa dạng. Ngoài ra,
các ngân hàng đang hoạt động trong cơ chế thị trường có sự cạnh tranh khốc liệt giữa các
ngân hàng với nhau hoặc giữa các tổ chức tín dụng, dẫn đến việc cạnh tranh về lói suất để
huy động được vốn, làm cho lãi suất huy động vốn cao hơn lãi suất cho vay cũng là một
trong những nguyên nhân gây ra rủi ro cho ngân hàng.
Do đặc thù kinh doanh của ngân hàng nên có rất nhiều loại rủi ro: rủi ro lãi suất, rủi ro
ngoại hối, rủi ro thanh khoản, rủi ro tín dụng … Trong số tất cả các loại rủi ro kể trên thì
rủi ro trong hoạt động tín dụng là loại rủi ro lớn nhất và phức tạp nhất, đang diển ra ở mức
đáng quan tâm.
Rủi ro tín dụng phát sinh trong trường hợp ngân hàng không thu được đầy đủ cả gốc lẫn
lãi của khoản cho vay, hoặc là việc thanh toán nợ gốc và lãi không đúng kỳ hạn. Rủi ro tín
dụng không chỉ giới hạn ở hoạt động cho vay, mà còn bao gồm nhiều hoạt động mang tính
chất tín dụng khác của ngân hàng như bảo lãnh, cam kết, chấp thuận tài trợ thương mại,
cho vay ở thị trường liên ngân hàng, tín dụng thuê mua, đồng tài trợ …
Rủi ro tín dụng luôn là một vấn đề được quan tâm đặc biệt đối với mọi ngân hàng.Trên
thực tế, hầu hết các ngân hàng đều đã áp dụng các biện pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro
nhưng do rất nhiều nguyên nhân,có nguyên nhân chủ quan và khách quan, rủi ro tín dụng
Việc phân loại nợ và lập dự phòng rủi ro tín dụng được thực hiện theo quyết định
số493/2009/QĐ-NHNN ngày 22 tháng 04 năm 2009 và Quyết định số 18/2011/QĐ-NHNN
ngày 22 tháng 04 năm 2011 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
Dù đã đạt được những kết quả đáng khích lệ trong hoạt động tín dụng, nhưng trên thực tế, vấn
đề nợ quá hạn cũng là một vấn đề mà ACB- CH cần phải quan tâm vì công cụ đo lường phổ
biến tình hình rủi ro tin dụng là chỉ tiêu “nợ quá hạn”, khi mà tỷ lệ nợ quá hạn lên tới 5% so với
tổng dư nợ thì chứng tỏ ngân hàng đang trong tình trạng nguy hiểm cao và đây cũng là nhân tố
ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
Bảng 8: Nhóm các khoản nợ của ACB - CH
Đơn vị: 1.000 VNĐ
Chỉ tiêu Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012
Năm
2013
Sinh Viên: – MSSV: – Lớp: www.giokim.com – Nhiều thông tin hay
23
Nợ đủ tiêu chuẩn 86,693,232,000 101,564,431,000 95,663,399,000 100,980,135,000
Nợ cần chú ý 209,067,000 326,758,000 4,567,430,000 2,967,018,000
Nợ dưới tiêu chuẩn 64,759,000 326,758,000 747,218,000 656,978,000
Nợ nghi ngờ 58,399,000 345,655,000 673,361,000 463,358,000
Nợ có khả năng mất vốn 169,648,000 297,339,000 1,150,391,000 2,122,532,000
( Nguồn: Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của ACB - CH năm 2013)
Trong đó:
- Nợ đủ tiêu chuẩn vẫn chiếm tỷ lệ gần như tuyệt đối và tăng trưởng qua các
năm, năm 2010 nợ đủ tiêu chuẩn chiếm 99,3% trong tổng nợ và đến năm 2013 đả tăng gấp
3,65 lần chiếm 99,4% trong tổng nợ.
- Nợ dưới tiêu chuẩn và nợ nghi ngờ năm 2012 và năm 2013 tăng lên so với các năm
trước. Từ năm 2010 đến nay thì nợ dưới tiêu chuẩn tăng gấp khoảng 6 lần, nợ nghi ngờ
tăng 12 lần và nợ có khả năng mất vốn tăng 5 lần.
Tuy con số này chiếm tỷ lệ thấp so với nhiều ngân hang khác và so với toàn ngành song
ngân hàng cũng cần đưa ra biện pháp để duy trì ổn định hoặc giảm tỷ lệ nợ xấu đi, đề
Chỉ tiêu Tỷ lệ dự phòng (%)
Nợ đủ tiêu chuẩn 0
Nợ cần chú ý 5
Nợ dưới tiêu chuẩn 20
Nợ nghi ngờ 50
Nợ có khả năng mất vốn 100
( Nguồn: Báo cáo thường niên năm 2013)
Dự phòng cụ thể được tính theo số dư các khoản cho vay hoặc cho thuê tài chính từng
khách hàng tại ngày 30 tháng 11 hàng năm trừ đi giá trị của tài sản đảm bảo. Giá trị của
tài sản đảm bảo được xác định theo các quy định của Quyết định 493/2009/QĐ-NHNN
và Quyết định 18/2011/ QĐ-NHNN.
Theo Quyết định 493/2009/QĐ-NHNN ngày 22 tháng 4 năm 2009, dự phòng chung phải
được lập bằng 0,75% tổng số dư tại ngày 30 tháng 11 của các khoản cho vay khách hàng,
không bao gồm các khoản cho vay khách hàng được phân loại vào nhóm nợ có khả năng
mất vốn. Mức dự phòng chung này được yêu cầu phải đạt được trong vòng 5 năm kể từ
ngày Quyết định có hiệu lực.
Bảng 11: Tỷ lệ trích lập dự phòng
Đơn vị: %
Chỉ tiêu Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012
Đầu năm
2013
Hệ số an toàn vốn
(CAR)
0.00 0.00 0.00 12.14
VCSH/Tổng tài sản
5.55 4.26 7.16 7.51
( Nguồn: Báo cáo thường niên năm 2013)
Hệ số an toàn vốn (vốn tự có/tổng tài sản có rủi ro, Capital Adequacy Ratio –
CAR) là một chỉ tiêu quan trọng phản ánh năng lực tài chính của các ngân hàng.
Sinh Viên: – MSSV: – Lớp: www.giokim.com – Nhiều thông tin hay