Một số bệnh truyền nhiễm thường thấy ở vật nuôi thú y - Pdf 13

Phạm Quang Trung Bài giảng Thú y cơ bản
Chương VII.
BỆNH TRUYỀN NHIỄM (Bệnh truyền lây)

Nội dung chính của chương:
Trong chương này bao gồm những nội dung chính sau:
- Giới thiệu một số bệnh thường gặp ở vật nuôi do các vi khuẩn gây nên
-Giới thiệu một số bệnh thường gặp ở vật nuôi do các virut gây nên
-Nắm rõ cơ chế bệnh lý, đối tượng mắc, tình hình dịch tể học của từng loại bệnh
-Con đường lây truyền bệnh
-Các triệu chứng của bệnh
-Biện pháp phòng trị bệnh
BỆNH NHIỆT THÁN
(Anthrax)
1. Đặc điểm địa dư căn bệnh
Bệnh Nhiệt thán, hay bệnh thán (Febris Carbunculosa) và bệnh truyền nhiễm thường ở thể
cấp tính, chung cho nhiều loại gia súc và người. Bệnh do trực khuẩn Bacillus Anthracis gây
nên, với đặc điểm sốt cao, tổ chức liên kết thường bị thấm máu và tương dịch, máu đen sẫm,
đặc và khó đông, lá lách sưng to mềm nhũn như bùn.
Bệnh có khắp nơi trên thế giới, ở những vùng ẩm, trũng hay bị ngập lũ, bệnh có tính chất địa
phương và từng mùa, nóng ẩm mưa nhiều. Nên ở Châu Âu có (vùng Nhiệt thán) và (năm
Nhiệt thán).
Châu Á, trước đây bệnh phát ra dữ dội, ở Xibia hàng năm diệt hàng nghìn ngựa, ở Thái Lan,
Miến Điện, Ấn Độ, Úc hàng năm làm chết hơn 300.000 cừu. Ngoài ra, còn Nam Phi, Nam
Mỹ.
Trên bán đảo Đông Dương, cả ba nước đều có, riêng ở nước ta thời kỳ Pháp thuộc, bệnh xẩy
ra giữ dội. Ở Thái Nguyên 1900, ở Vĩnh Phú, Sơn La, Hải Phòng 1933, Hà Nam Ninh, Hà
Bắc, Hải Hưng 1937, Hà Bắc, Quảng Ninh 1951 - 1953, khu tả ngạn Việt Bắc 1954, Hà Sơn
Bình 1956 làm chết hàng trăm gia súc và 118 người bị bệnh.
Ngoài ra, ở Huê, Nha Trang, Bạc liêu bệnh xẩy ra vào những năm 1973 - 1974. Ở Tây Bắc,
Lạng Sơn, 1978, ở Bắc Cạn, 1983-1984, Châu Quç - Hà Nội 1986, Thái Nguyên 1990, Hà

-Có nhiệt độ thích hợp từ 12-42
0
C, thích hợp nhất là 37
0
C.
-Có độ ẩm nhất định, chất dinh dưỡng thiếu, pH trung tính hoặc kiềm nhẹ.
Đó là những điều kiện cần thiết để Vi khuẩn hình thành nha bào.
2.4. Sức đề kháng của Vi khuẩn
Trực khuẩn Nhiệt thán đề kháng yếu với nhiệt. từ 50-55
0
C, bị giết chết sau 15-40 phút. Ở
75
0
C từ 1-2 phút. Dưới ánh sáng mặt trời, Vi khuẩn Nhiệt thán bị diệt từ 10 đến 16 giờ. Các
chất sát trùng thông thường giệt Vi khuẩn dễ dàng. Nhưng khi nó đã hình thành nha bào thì
nó có sức kháng mạnh và nó bị diệt khi đun sôi ở 100
0
C trong vòng 10 đến 20 phút. Nếu đem
hấp ướt 120
0
C thì trong vòng 20 phút mới tiêu diệt được nó. Hấp khô 140
0
C phải mất 3 giờ
mới tiêu diệt được nó. Với điều kiện hanh khô, nha bào sống được 28 năm. Hầm sâu nha bào
sống được 15 năm, trong nước phân nha bào sống được 15-17 tháng. Nhưng phân ủ nóng sau
khi nhiệt độ đã lên tới 72 đến 76
0
C nha bào bị diệt chết trong 4 ngày. Các chất sát trùng pha
đặc mới có tác dụng tiêu diệt. Formol 1% phải mất 2 giờ. Biclorua thuỷ ngân 1% mất 2 giờ,
Acide fenic 2% mất 2 giờ, väi đặc mất 48 giờ mới tiêu diệt được nha bào.

C, Vi khuẩn không thể hình thành nha bào. Nhưng với nhiệt độ
trên 37
0
C, nha bào hình thành rất tốt. Lợi dụng tính chất đó, người ta nuôi cấy nó để chế
Vaccine nhược độc nha bào Nhiệt thán.
3.3.3. Độc tố
Độc tố người ta chưa phân ly được, nhưng trong những biến đổi về bệnh lý thì thấy chính là
độc tố gây ra.
3.4. Đường xâm nhập của vi khuẩn
Vi khuẩn thường xâm nhập vào cơ thể qua các đường sau:
3.4.1. Đường tiêu hoïa
Sau khi con vật ăn thịt, thức ăn, nước uống, thông qua đường tiêu hoïa
vào cơ thể, nha bào cũng nhân cơ hội đó mà xâm nhập vào cơ thể. Qua hạch hạnh nhân, rồi
từ hạch hạnh nhân thông qua niêm mạc, bị tổn thương do ký sinh trùng đường ruột hay do
vết thường khi con vật ăn phải những vật nhọn, sắc, cứng làm tổn thương thành ruột, tạo điều
kiện cho nha bào dễ dàng xâm nhập vào cơ thể.
3.4.2. Đường da
Vi khuẩn vào cơ thể thông qua da bị tổn thương. Do cơ giới hay côn trùng mang mầm bệnh
đốt phải như: ruồi, nhặng hay tiêm phòng không cẩn thận. Trong quá trình thao tác, vô trùng
sơ sài, tạo điều kiện cho nha bào xâm nhập vào cơ thể. Năm 1974 ở Sơn Tây, một số người
bị bệnh do dùng néo đập lúa bằng da trâu bị bệnh Nhiệt thán mà không biết. năm 1986 ở xã
Châu Quì - Huyện Gia Lâm - ngoại thành Hà Nội một số người tắm, rữa, giặt dũ dưới ao
ngâm xương động vật bị bệnh Nhiệt thán, tay chân bị xây xát mầm bệnh xâm nhập vào gây
bệnh. Trong thí nghiệm, người ta thường gây bệnh dưới da chắc chắn hơn.
3.4.3. Đường hô hấp
Trong quá trình hô hấp, động vật phải bụi chứa nhiều nha bào hay do tiêm vào khí quản chất
có lẫn nha bào. Điều này hay xáøy ra đối với người.
3.5. Cách sinh bệnh
Trong tự nhiên, thời kỳ nung bệnh ít ra là ba ngày. Trong thí nghiệm thời kỳ nung bệnh từ
24 đến 42 giờ, nếu tiêm dưới da hoặc tĩnh mạch. Từ 2 đến 3 ngày nếu cho nuốt nhiều nha

3.5.2. Điều kiện phát sinh và lây lan
Bệnh thường xáøy ra trong những vùng nhất định. Gọi là (vùng Nhiệt thán) do những nguyên
nhân sau. Phát hiện và công bố dịch chậm, kiểm soát không nghiêm ngặt, chẩn đoán sai. Nên
để mổ thịt, ăn thịt bừa bãi, reo rắc mầm bệnh vào trong tự nhiên. Do xác chết chôn nông,
không thiêu xác nên sâu bọ, giun, dế đưa nha bào lên mặt đất. Nước, côn trùng mang mầm
bệnh đi. Gia súc mẫn cảm ăn phải nha bào. Do vất bừa bãi các phẩm vật như: da, lông, sừng,
móng, xương chó mèo, chim chóc mang mầm bệnh đi xa. Hoặc ở những vùng Nhiệt thán,
không có bãi chôn gia súc Nhiệt thán, lại chôn nông, nên gia súc gặm cỏ vùng đó có thể mắc
bệnh. Do không tiêm phòng Vaccine triệt để và đúng phương pháp. Đó là những nguyên
nhân làm cho bệnh Nhiệt thán phát sinh nhiều ở miền núi.

4. Triệu chứng
4.1. Trâu, bò
4.1.1. Thể quá cấp hay thể kịch liệt
Bệnh thường xáøy ra đầu ổ dịch. Bệnh xáøy ra bất thình lình, con vật run rẫy, hai bên má hơi
sưng, thở hổn hễn, thở gấp, con vật bỏ ăn. Mồ hôi vã ra, các niêm mạc đỏ ửng hoặc tím bầm,
vật sốt cao, thân nhiệt từ 40,5
0
C- 42,5
0
C. Nghiến răng, thè lưỡi, đầu gục xuống, mắt đỏ quay
cuồng, loạng choạng, đứng không vững, âm hộ, hậu môn chảy máu, con vật chết trong vài
giờ. Cũng có trường hợp vật bất thần nhảy xuống ao, đâm vào bụi rậm, đang cày mang cả
cày chạy, rống lên một hồi rỗi ngã quỵ xuống, chết rất nhanh.
4.1.2. Thể cấp tính
Vật ủ rũ, dựng lông, tim đập nhanh, tai ve vẩy, mắt nhìn đờ đẫn một chỗ, sốt cao 40
0
C -42
0
C,

có khi lan xuống cả ngực, bụng lên mắt. Lợn khó nuốt, khó thở thậm chí không ăn, không
kêu được. Chỗ sưng có thể bùng nhùng, màu đỏ bầm, có khi tím sẫm.
4.4. Bệnh ở người
Người bị bệnh Nhiệt thán, chủ yếu là do ăn phải thịt gia súc bị bệnh Nhiệt thán. Ngoài ra, còn
do làm thịt gia súc ốm. Bệnh còn thấy ở công nhân lò mổ, những người bán thịt, cán bộ Thú
y Bệnh tiến triễn theo hai thể:
4.4.1. Thể ngoài da
Sau khi nhiễm trùng từ vài giờ đến 5-6 ngày, chỗ nhiễm trùng đỏ lên, ngứa, khó chịu, phải
gãi liên tục. Sau đó, chuyển thành màu đỏ sẫm, rất ngứa, hơi đau, chung quanh phồng lên. Về
sau vẩy rụng tạo thành vết loét có bờ, đáy sâu, ướt và đen, xung quanh đỏ sẫm. Sau đó những
triệu chứng chung xuất hiện: sốt cao, mệt mỏi, thích nằm, khó thở hay ngạt thở. Hiện tượng
thuỷ thũng khá rõ, nhất là ở mặt, nếu không điều trị kịp thời có thể chết.
4.4.2. Thể nội
Thể này ít gặp nhưng rất nguy hiểm, do Vi khuẩn nhiễm vào bộ máy hô hấp, hay tiêu hóa.
Người bị bệnh chóng mặt, buồn nôn, tức ngực, ho khan, Trong đờm thường có chứa Vi
khuẩn Nhiệt thán. Nếu bị nhiễm theo đường tiêu hóa thì thường buồn nôn, mệt mỏi, kiệt sức,
ù tai, đi ỉa chảy, bụng chướng nôn nao, khó thở và chết.

5. Bệnh tích
Bệnh Nhiệt thán sau khi chết, bụng trướng to, xác chóng thối. Do trướng bụng nên xác chết
thường bị lòi rom. Hậu môn, phân có lẫn máu, đen, nhớt, khó đông, các niêm mạc đỏ hay tím
bầm, mũi có chất lầy nhầy, có máu, vùng hạch hầu thường sưng to. Khi mổ xác, các tổ chức
liên kết có vết tụ máu và thấm tương dịch màu vàng. Các băp thịt như chính nhũn, thấm đầy
nước vàng, có khi hơi đỏ hoặc hơi đen. Máu đen hơi đặc, sánh có bọt, khó đông hay không
đông, có nước hồng. Các hạch lâm ba sưng to, xung huyết nặng thậm chí ứ máu. Phổi tụ máu
nặng, nhiều khi có máu hơi đen, lẫn bọt ở khí và phế quản. Tim có hiện tượng tụ máu và xuất
huyết rõ ở nội tâm mạc, tim nhảo. Lách sưng to hơn bình thường từ 2 đến 4 lần, màu đen
sẩm, mềm nát, nhũn như bùn.
Bóng đái chứa nhiều nước tiểu màu hồng, ruột viêm nặng xuất huyết, có phân nát lẫn máu
màu đen. Trong nhiều trường hợp, nhất là thể quá cấp, không thấy bệnh tích điển hình. Chỉ


6.3. Chẩn đoán Vi khuẩn học
Chẩn đoán Vi khuẩn học, có thể lấy máu hay tổ chức khác để tìm Vi khuẩn: Nếu là máu, tốt
nhất là lấy trước lúc vật chết, máu tĩnh mạch tai, tĩnh mạch đuôi, máu chảy ra ở các lỗ tự
nhiên. Lấy xương ống nhỏ, máu tai, khúc đuôi, mãnh da. Khi lấy cần đốt kỹ chỗ đã cắt. Bệnh
phẩm phải bao gói cẩn thận. Không để dây máu ra ngoài. Lấy một ít phân để tìm nha bào.
Khi cần lấy lách, thì sát trùng rồi rạch một đường nhỏ, lấy xong đốt kỹ. Tuyệt đối không
được mổ xác.
6.3.1. Kiểm tra kính
Dùng máu, lá lách, thể dịch nhuộm Gram thấy giáp mô (nhưng hay nhầm với trực khuẩn yếm
khí).
6.3.2. Bồi dưỡng phân lập trên các môi trường
Nếu bệnh phẩm còn tươi dễ phân lập. Nếu bệnh đã thối, hay chết đã lâu thì khó phân lập, vì
Vi khuẩn ít, lẫn nhiều tạp khuẩn. Vì vậy, phải đun 65
0
C trong vòng 30 phút để diệt tạp
khuẩn, cấy vào đĩa thạch máu, nước thịt, thạch bán cố thể.
6.3.3. Tiêm truyền động vật thí nghiệm
Khoa Chăn nuôi Thú y ĐHNL-Huế
117
Phạm Quang Trung Bài giảng Thú y cơ bản
Nếu bệnh phẩm còn tốt, hoặc canh khuẩn, thì khía da đùi chuột lang, chuột bạch. Nếu bệnh
phẩm đã thồi cần khía da lưng dễ bôi. Nếu bệnh phẩm là da lông thì nghiền với nước sinh lý,
đun 56
0
C trong vòng 30 phút rồi tiêm dưới da. Chuột lang sẽ chết trong vòng 2 đến 3 ngày,
chỗ tiêm sưng, thủy thũng, có chất keo màu hồng giống lòng trắng trứng.
6.4. Chẩn đoán huyết thanh học
Làm phản ứng kết tủa Ascoli. Kháng thể là một huyết thanh chế sẵn (huyết thanh ngựa).
Kháng nguyên nước lọc tổ chức cần chẩn đoán (lách, gan, da), chế kháng nguyên. Nghiền nát

Công bố hết dịch 15 ngày, sau khi con ốm cuối cùng khỏi hoặc chết, vùng có dịch đã được
tiêu độc kỹ.
7.2. Phòng bằng Vaccine
Vaccine phòng bệnh Nhiệt thán có rất nhiều loại, nhưng thông dụng là Vaccine nha bào
Nhiệt thán hay Vaccine STI (Sanytary Tochnical Institule) tiêm 1ml cho gia súc lớn 0,5ml
cho gia súc nhỏ, tiêm dưới da. Trước khi tiêm, kiểm tra nhiệt độ, nếu sốt không tiêm, phải
điều trị khỏi rồi mới tiêm. Sau khi tiêm Vaccine, vật sốt nhẹ vài ngày, chỗ tiêm có thể sưng,
hiện tượng đó là bình thường. Nhưng nếu sốt nặng thì phải can thiệp bàng kháng sinh hay
khánh huyết thanh. Khi dùng Vaccine cần lưu ý: tiêm ở những ổ dịch cũ, những vùng có dịch
đe doạ. Sử dụng Vaccine cần phải thận trọng, không rơi vãi, dùng dỡ, thừa phải chôn, không
Khoa Chăn nuôi Thú y ĐHNL-Huế
118
Phạm Quang Trung Bài giảng Thú y cơ bản
tiêm cho gia súc quá gầy, quá yếu, chưa đầy 1 tháng tuổi, hay cuối kỳ chữa (2 tháng cuối).
Lập danh sách tiêm chính xác, theo dõi tai biến, cho gia súc nghỉ 10 ngày sau khi tiêm.

8. Điều trị
Tốt nhất là dùng kháng huyết thanh và Penicillin, ngoài ra có thể dùng các hoá chất khác.
8.1. Kháng huyết thanh
Kháng huyết thanh chế từ ngựa hay bò được tối miễn dịch, kháng huyết thanh phải dùng sớm
mới có hiệu lực. Nếu đã phù nã,ö hay chảy máu åí các lỗ tự nhiên thì không nên dùng nữa.
Để phòng bệnh, tiêm dưới da 10ml đến 40ml cho gia súc lớn, 10ml đến 20ml cho gia súc
nhỏ. Để điều trị, dùng 50ml đến 100ml cho gia súc nhỏ. Gia súc lớn từ 100ml đến 200ml,
tiêm chậm và tiêm nhiều chỗ. Trường hợp cấp cứu có thể tiêm tĩnh mạch, nhưng rất ít khi
dùng. Sau khi can thiệp 6giờ đến 12giờ chưa có kết quả thì tiêm thêm lần nữa, dùng huyết
thanh sớm chữa khỏi 80-90%.
8.2. Penicilline
Nếu bệnh nhẹ có thể tiêm bắp Penicilline, cách nhau 4 đến 6 giờ một lần, ngày 2 đến 3 lần,
mỗi lần 1 đến 2 triệu đơn vị, nếu nặng tiêm liều cao hơn. Có thể tiêm thêm Streptomycine để
diệt Vi khuẩn kế phát. Kết hợp hộ lý chăm sóc nuôi dưỡng tốt, cần tiêm hỗ trợ các loại thuốc

C phải mất 3 giờ mới tiêu diệt được nó. Nha bào
sống hơn 10 năm ở chỗ tối. Các chất sát trùng muốn diệt nó phải pha đặc như: Acide phenic
Khoa Chăn nuôi Thú y ĐHNL-Huế
119
Phạm Quang Trung Bài giảng Thú y cơ bản
15% phải mất 15 giờ, Formol 3% phải mất 24 giờ mới tiêu diệt được nó. Nhưng khi đã sinh
ra ngoại độc tố thì nó có sức đề kháng kém. Dễ bị hoá chất và nhiệt độ tác động, ở 60
0
C độc
tố bị phá huíy trong vòng 5-20 phút.
3. Truyền nhiễm học
3.1. Loài mắc bệnh
Tất cả các loài vật có vú đều mắc bệnh này, nhưng ở mức độ cảm nhiễm có khác nhau. Mẫn
cảm nhất là ngựa, cừu, trâu, bò, lợn. Chó, mèo ít mắc, loài chim hầu như không mắc, trừ khi
ta gây bệnh thực nghiệm vào não nó. Trong thí nghiệm người ta dùng chuột lang, chuột bạch,
thỏ để gây bệnh thực nghiệm. Trong thực tế, một số điều kiện ngoại cảnh như: khí hậu nóng
nực, cảm lạnh, cơ thể yếu, sau ki đẻ, sau khi thiến, sau khi cắt rốn, tiêm, chích, vô trùng
không cẩn thận là điều kiện cho mầm bệnh phát triển và gây bệnh.
3.2. Chất chứa Vi khuẩn
Trên con vật bị bệnh, Vi khuẩn được chứa ở vết thương, chất tiết ra ở vết thương và các bộ
phận khác như: mũ, nước giải, phân Trong trường hợp đặc biệt có nhiễm thêm bệnh khác,
Vi khuẩn sẽ vào máu và phủ tạng. Vì vậy, trong ruột gia súc có nha bào, được bài ra ngoài
theo phân. Cho nên, trong tự nhiên mới có vùng Uốn ván. Ngoài ra, mầm bệnh thường có
trong chuồng nuôi gia súc, cống rãnh, vườn, ao, hồ, đầm
3.3. Đường xâm nhập
Nha bào Uốn ván xâm nhập vào cơ thể qua vêt thương bị xây xát hoặc qua vết thiến, chỗ
phẩu thuật, rốn của gia súc sơ sinh. Cũng có thể qua niêm mạc bị tổn thương, hay bị viêm,
bệnh có thể phát ra sau khi đau bụng, chướng håi, viêm ruột, sát nhau, hay tiêm Vaccine
thiếu vô trùng thì cũng dễ mang nha bào vào cơ thể.
3.4. Cách sinh bệnh

4.1. Bệnh ở ngựa
4.1.1. Cơ cứng cơ vân
Bệnh Uốn ván dấu hiệu đầu tiên của việc co cứng cơ vân là mi nháy dãn ra che một phần
đồng tử, cổ cứng, hàm cứng, đầu ngữa duỗi ra phía trước, hàm nghiến chặt, tai vễnh, lỗ mũi
nở to, khó thở, đuôi cong lên, lưng thẳng, bắp thịt nổi hàòn rõ, bốn chân thẳng cứng ra như
khúc gỗ.
4.1.2. Phản xạ quá mẫn
Mọi kích thích nhẹ về thính giác, thị giác đều làm cho con vật hốt hoãng, run rẫy, thậm chí
co giật ngã ra.
4.1.3. Rối loạn cơ năng
Thời gian đầu vật sốt, khi gần chết nhiệt độ tăng lên 40
0
C -41
0
C, khi chết vài giờ nhiệt độ lên
tới 43
0
C -44
0
C, xác nóng, mềm sờ thấy nhũn.
Vậy Marek giải thích: Lúc còn sống, các cơ bị thắt lại, khi gần chết cơ giãn, năng lượng được
giải phóng. Mạch nhanh và yếu. Niêm mạc mắt tím bầm, vật khó thở, có triệu chứng khí
thũng ở phổi, dần dần vật ăn không được do cứng hàm. Mồ hôi vã ra như tắm, ở con đực
thường bị cường dương. Bệnh kéo dài 3-10 ngày, nếu không can thiệp thì chết. Ngựa 80-90%
bò có triệu chứng giống ngựa, thường bị chướng hơi.
5. Bệnh tích
Bệnh tích của bệnh uốn ván không có gì đặc biệt, chủ yếu là niêm mạc tím bầm, phổi có bọt,
tim có chỗ màu vàng nhạt. Nguyên nhân là do vật bị ngạt thở nằm một chỗ, vật có thể bị ứ
huyết não.
6. Chẩn đoán

Cách thử: lấy 10ml tiêm dưới da chuột, sau 3 tuần công cường độc.
8. Điều trị
Mục đích: Ngăn chặn thần kinh không tiếp tục bị trúng độc do ngoại độc tố.
Phá huỷ độc tố đã sản sinh hấp thu vào tế bào. Xử lý vết thương làm hiếu khí bằng cách: làm
sạch vết thương sát trùng Iode. Mở rộng vết thương rắc Sulfamit. Tiêm kháng sinh xung
quanh vết thương. Dùng cồn 5%, thuốc tím Acide fenic 3-5%, bôi Ichiol, theo dõi và phát
hiện lỗ dò.
Phá hủy độc tố, tiêm kháng huyết thanh và giải độc tố Uốn ván, cần can thiệp sơm. Khi tiêm
dưới da, một phần ở cạnh vết thương với liều: 80.000UI cho gia súc lớn, 40.000UI cho gia
súc bé. Nếu tiêm cấp cứu 15.000 - 20.000UI vào rãnh lưng. Cũng có thể tiêm huyết thanh và
giải độc tố nhưng ở hai vị trí khác nhau. Tiêm 1ml giải độc dưới da, 15 phút sau tiêm
80.000ml huyết thanh. Sau đó, tiêm 3 lần giải độc tố nữa, một tuần sau có thể tiêm 80.000UI,
6 tháng sau tiêm lần cuối giải độc tố.
Hộ lý: Cho con vật ở nơi yên tĩnh chăm sóc, cho ăn những thức ăn dễ tiêu.
Tiêm Magnesium sulfate 10%, Gluconate magnesium 15% 1 lít vào tĩnh mạch. Sau đó dùng
nước đường cho uống. Tiêm 1-1,5 lít nước sinh lý mặn hoặc ngọt vào tĩnh mạch. Ngoài ra, có
thể tiêm Acide fenic 3% 50-70ml, Adrenalin hoặc Efedrin làm giãn phế nang cho con vật dễ
thở.
B.S Trịnh Ngọc Phan đã chế ra Diazepan viên 5mg - 10mg cho gia súc uống. Nếu dùng tiêm
2ml thì tương đương với 10mg tiêm tĩnh mạch.

BỆNH SẨY THAI TRUYỀN NHIỄM
(Brucellosis)
1. Đặc điểm mầm bệnh
Là một bệnh truyền nhiễm mãn tính, của nhiều loại gia súc và người, do Vi khuẩn Brucella
gây ra. Mầm bệnh thường gây viêm nhiễm các nội quan, đặc biệt là cơ quan sinh dục. Gây
sẫy thai, sát nhau, sỗi bởi vì mầm bệnh gây viêm đường sinh dục. Vi khuẩn Brucella là Vi
khuẩn Gram âm, có sức đề kháng cao với kháng sinh gấp mười lần, nó có nhiều tyïpe khác
nhau:
Brucella A bortus 9 chủng

2.2. Bệnh ở bò đực
Bệnh Sẩy thai truyền nhiễm thể hiện ở bò đực: dương vật sưng đỏ, dịch hoàn sưng to, thượng
hoàn viêm, con vật sốt, bỏ ăn, thích nằm, sờ vào có phản ứng đau, lúc đầu thì cứng sau teo
lại. Tinh dịch giảm, tính đực giảm. Sau đó, xuất hiện triệu chứng viêm khớp, rõ nhất là khớp
gối. Cừu cũng vậy, nhưng cừu mệt, uống nước nhiều, không ăn, liệt hai chân, viêm âm hộ.
2.3. Bệnh ở lợn
Sẩy thai truyền nhiễm lợn xuất hiện triệu chứng tả chảy, thủy thũng vú, âm đạo chảy nhiều
nước nhớt, con vật kém ăn, bại liệt chân sau, nổi nhọt dưới da. Có trường hợp queì, giai đoạn
này con vật thường chết, nếu sẩy muộn có thể sống nhưng yếu ớt.
2.4. Bệnh ở ngựa
Sẩy thai truyền nhiễm thường ít khi gặp ở ngựa, con vật không muốn chạy, con vật sốt, viêm
túi khớp ở gáy, ở u vai, đầu gối và cổ chân. Có trường hợp to bằng quả bóng, cắt ra có nước,
trong đó có nhớt và những hạt như hạt gạo. Nếu để lâu trở thành mũ, vỡ tạo thành lỗ dò,
trường hợp này thường xuất hiện ở vai và ở gáy ngựa.
3. Bệnh tích
Sẩy thai truyền nhiễm trên tất cả các con vật đều giống nhau về bệnh tích. Núm nhau hoại từ
từng điểm hay toàn phần. Gai thịt dính lại hoặc nát ra, nước ối đục, lẫn mũ, thả vào nước
không nổi. Cuống rốn thấm nước nhớt, thai thấm nước nhớt màu hơi vàng. Mổ ra dạ dày và
ruột viêm có đám hoại tử nhỏ. Nước dạ dày đục, vàng, lẫn mũ. Gan, lách, hạch bị sưng, có
trường hợp hoại tử. Trong tử cung mẹ có nước nhớt lẫn mũ. Vú có hạt hoại tử nhỏ. Con đực
có bệnh tích dịch hoàn và tuyến sinh dục phụ, thành ống dày có điểm xuất huyết, có trường
hợp thượng hoàn và dịch hoàn có mũ, tổ chức đệm, kẽ tăng sinh, ống sinh tinh bị chèn ép,
khi cắt dai. Ngoài ra, còn có bệnh tích ở xương, có nốt hoại tử ở thận, lách của con mẹ.
4. Chẩn đoán
4.1. Chẩn đoán lâm sàng
Sẩy thai truyền nhiễm trên con vật sống chú ý triệu chứng viêm khớp, sẩy thai nhiều lần, con
đẻ ra yếu, viêm dịch hoàn, thượng hoàn, viêm đầu gối.
4.2. Chẩn đoán vi khuẩn học
Khoa Chăn nuôi Thú y ĐHNL-Huế
123

0,5ml. Có hai ống đối chứng, để tủ ấm37
0
C trong 24 giờ, để ở độ nhiệt trong phòng độ 1 giờ.
Căn cứ vào sự mất màu của phản ứng, mức độ ngưng kết d 2 (++) và độ pha loãng huyết
thanh từ 1/200 đến 1/400 thì được coi là dương tính. Nhiều tác giả cho rằng, với bệnh
Brucellois nên dùng phản ứng ngưng kết, phản ứng bổ thể kết hợp thường cho kết quả cao.
Những bò đã tiêm B19 thì khó kiểm tra.
Người ta không dùng nước sinh lý để pha môi trường mà dùng NaCl 12%. Ngoài ra, còn
dùng nước nhờn âm đạo để chẩn đoán, bởi vì dùng huyết thanh không xác nhận được mức độ
trầm trọng. Đồng thời, không xác minh được nơi cư trú của mầm bệnh.
Chú ý: khi lấy không để lẫn máu, lấy sau khi sẩy. Cách lấy: dùng ambun đã khử trùng cho
vào âm đạo, qua mỏ vịt để 3-4 phút sau lấy ra làm phản ứng.
4.5. Ngưng kết sữa
Người ta cho 2ml sữa vào ống nghiệm, sữa còn cả bơ, đổ vào 0,1-0,2ml kháng nguyên màu
đỏ, lắc lên, để nhiệt độ phòng. Phản ứng dương tính là mở nổi lên màu trắng, rồi chuyển sang
đỏ thẩm. Nếu là màu trắng hẳn thì là âm tính.
Nguyên lý: trong sữa có kháng thể khi kết hợp với kháng nguyên nó bám vào mở rồi nổi lên
trên mặt.
4.6. Chẩn đoán dị ứng
Tiêm cho động vật thí nghiệm 0,2ml kháng nguyên Brucella vào dưới da sau 24 hay 48 giờ
kiểm tra kết quả. Kết quả dương tính là chổ tiêm sưng, xung quanh thuỷ thuîng. Nếu là âm
tính thì không sưng.
5. Phòng bệnh
Bệnh kín đáo, ít sẩy hoặc khôn sẩy, nếu gia súc đã thu được miễn dịch hoặc mầm bệnh trong
tự nhiên, hoang thú, bệnh có tính chất nguồn dịch, thì hiệu quả của thuốc điều trị không đáng
kể. Vì vậy, tuỳ theo biện pháp kinh tế mà xử lý. Nhưng nói chung, phòng bệnh là biện pháp
quan trọng cho người và gia súc. Vì vậy, phải tự túc giống. Hàng năm kiểm tra bệnh cho
người và gia súc, gia súc nhập nội, gia súc nhập ngoại đều phải tiêm phòng. Đối với các sản
Khoa Chăn nuôi Thú y ĐHNL-Huế
124

tại trong giã thú, trong ve. Nên việc thanh toán Lepto rất khó khăn. Trong nước ta, theo thống
kê cho biết, hàng năm bệnh Lepto thường xảy ra vùng phụ cận Hà Nội 40% là Lepto Môma,
L.Mitis, L.Cancicona. Đồng bằng Bắc Bộ 27% chủ yếu là loại Lepto Batanie,
L.Guyppotyphora. Vùng núi và trung du nhiều nhất là L. Pera. Con đường phổ thông nhất là
qua tiêu hoá. Nhưng thông thường nó qua được cả da nguyên lành. Khi Vi khuẩn vào cơ thể
nó vào máu gây sốt. Sau đó vào cư trú ở gan, lách hoặc bể thận. Tuy nhiên, trong nước quá
bẫn thì hàm lượng Lepto không cao.
2. Triệu chứng
Bệnh ở bò, lợn, dê đều có triệu chứng tương tự. Bệnh Lepto xuất hiện quanh năm, nhưng
nhiều nhất là mùa xuân, sau trận lụt, sau đợt vận chuyển hoặc là mùa giáp hạt thiếu thức ăn.
Thường xuất hiện nặng ở loại lợn từ 3-6 tháng tuổi. Loại theo mẹ cũng lây, nhưng ít hơn, loại
lớn ở dạng mãn tính. Một số bệnh nội khoa, truyền nhiễm khác đều có hiện tượng vàng da
hoặc bệnh dinh dưỡng. Bệnh tụ cầu, bệnh E.coli và một số bệnh gây hoàng đản, cũng có
chứng vàng da. Vì vậy, cần phải chú ý để phân biệt. Đối với bệnh Lepto thể hiện các triệu
chứng sau:
2.1. Thể quá cấp tính
Bệnh Lepto xuất hiện phần nhiều ở gia súc non chết nhanh, máu loãng, da vàng, phù nhẹ. Sự
thay đổi về nội quan chưa đáng kể, mầm bệnh thường có nhiều trong máu, thường xảy ra sau
đợt vận chuyển hay sau trận lụt.

Khoa Chăn nuôi Thú y ĐHNL-Huế
125
Phạm Quang Trung Bài giảng Thú y cơ bản
2.2. Thể cấp tính
Thể này bệnh Lepto xuất hiện rất điển hình vật sốt thất thường (sốt khi Lepto có trong máu).
Vật bỏ ăn, phù rõ, bắt không kêu, sờ vào có cảm giác lạnh, phân táo, niêm mạc vàng. Da
vàng, có điểm xuất huyết, có nhiều Anbumin, nước tiểu có màu cà phê, sau 3-4 ngày thì con
vật chết. Nếu không chết thì chuyển sang thể mãn hay thể ẩn. Bệnh ở bò có trường hợp
không biểu hiện gì, nhưng kiểm tra thì thấy dương tính, kiểm tra nước tiểu khi vàng, khi
không.

công nhân.
6. Điều trị
Nói chung điều trị bệnh Lepto thông thường là tốn kém. Điều trị đi đôi với chăm sóc và nuôi
dưỡng. Điều trị bằng kháng huyết thanh đúng chủng gây bệnh thì mới có hiệu quả. Điều trị
con mới bị bệnh. Trong điều trị có một tỷ lệ dị ứng, nên cần phải can thiệp bằng Adrenalin
với liều 0,5-1ml/kg thể trọng. Dùng kháng sinh: Stretomycine 10.000 - 15.000UI/1kP.
Penicillin 20.000UI/1kP, tiêm bắp ngày 3-4 lần, liên tiếp 3-4 ngày. Sau đó, cho nghỉ 3 ngày,
nếu không khỏi lại tiếp tục tiêm. Biomycine, Tetracycline 0,01 g/1kgP, Aureomycine cho
uống. Ngoài ra, người ta còn dùng Novaciron (914). Ngày thứ nhất dùng 0,9g, ngày thứ 3
dùng 1,8g ngày thứ 5 dùng 2,7g. Cũng có thể dùng Hemosporidin 0,0005g/1kgP, pha thành
dung dịch 1% tiêm tĩnh mạch. Dùng các thuốc trợ tim như Caphein benzoat, Gluco, B1, C,
Khoa Chăn nuôi Thú y ĐHNL-Huế
126
Phạm Quang Trung Bài giảng Thú y cơ bản

BỆNH LAO
(Tuberculosis)

1. Đặc điểm mầm bệnh
Bệnh Lao là bệnh truyền nhiễm mãn tính của nhiều loại động vật và người, có đặc điểm gây
ra trong phủ tạng những hạt viêm đặc biệt gọi là hạt Lao
Do nhiều týpe Vi khuẩn thuộc họ Mycobacterium Tuberculosis gây ra. Các týpe chính là
M.T Humanus ở người
M.T Avium ở chim
M.T Muris ở chuột
M.T Piscium ở cá
Tất cả giống nhau về hình thái, còn tính gây bệnh trên các động vật thì khác nhau. Có lẽ là do
sự tiến hoá thích nghi lâu đời của nó. Nó có sức đề kháng bởi vì có vỏ bên ngoài chống được
cồn và Acide. Dưới ánh sáng mặt trời mất 2 ngày mới chết. Nước sôi 100
0

Phạm Quang Trung Bài giảng Thú y cơ bản
Bệnh ở bò thường hay gặp, lúc đầu con vật ho khan, sau ho thành tiếng, ho từng cơn. Khi
đuổi chạy hoặc uống nước lạnh vật lại càng ho, con vật gầy sút, lông dựng, da khô, khí ho
thường có đờm, mũ. Có khi lẫn máu chảy ra ở mồm và mũi con vật thở khó, dang chân ra
thở.
4.2. Lao vuù
Tuỡy theo mổc ọỹ nhiĩựm maỡ ỏửu vỳ, nỳm vỳ biĩỳn daỷng, sồỡ vaỡo cú nhổợng haỷt lao
lọứm nhọứm, haỷch sổng, cổng, nọứi cuỷc, sổợa giaớm. Nĩỳu dởch hoaỡn bở lao thỗ sổng
cổng khọng au.
4.3. Lao hạch
Loại này khá phổ biến nhất là ở hạch phổi. Hạch sưng tạo thành những cục cứng có khi sờ
thấy lổm nhổm. Chủ yếu nổi lên dưới hàm, dưới tai, trước vai, hạch vú. Có thể làm con vật
què, hoặc rối loạn tiêu hoá nếu là lao ruột.
4.4. Lao đường tiêu hoá
Lao phổ biến là ở ruột có trường hợp ở gan, gia súc ỉa chảy triền miên, gầy dần, chướng håi
nhẹ, rối loạn tiêu hoá. Lao ở lợn kín đáo hơn, chủ yếu là lao hạch hàm, con vật khó nuốt, đau,
thường là tạo ra lỗ dò. Âối với chó, mèo ít bị hơn, nhưng chủ yếu là lao da, tạo nên các vết
loét trên mặt da. Lao phổi chủ yếu là lao xuất hiện ở phổi, vật ho nhiều. Lao gia cầm: con vật
gầy, mào tái, kém ăn, gầy dần, cơ ngực bị teo, sản lượng trứng giảm, kiểm tra máu hồng cầu
giảm, bạch cầu tăng.
5. Bệnh tích
Bệnh Lao thường biểu hiện ở 3 loại: hạt Lao, khối tăng sinh, đám viên bã đậu.
5.1. Hạt Lao
Tuỳ theo giai đoạn phát triển mà biểu hiện khác nhau. Các hạt này biểu hiện rõ ở phổi, màng
treo ruột và hạch. Lúc đầu nhoí cứng gọi là hạt kê, có giới hạn rõ, khó bóc, màu xám hoặc
trắng nhạt, xung quanh hạt tổ chức phổi vẫn hoạt động được. Nếu hạt nhiều, khi ta nắm vào
phổi giống như nắm vào bao cát, có tiếng lạo xạo. Các hạt lớn dần bằng hạt đậu, hạt ngô,
thoái hoá nhân, biến thành bã đậu. Vàng hay trắng đục gọi là hạt vàng. Có thể bị vỡ ra hay
tăng sinh, tổ chức bọc lại gọi là hạt xơ. Hạch bị Lao có thể vỡ hoặc Cazein hoá.
5.2. Khối tăng sinh

chỗ tiêm sưng gấp 2-3 lần tích kia. Ngoài ra, còn chẩn đoán lâm sàng, giải phẩu, Vi khuẩn
học và tế bào. Lấy bệnh phẩm cấy môi trường có Venstein và Petraguani, đọc kết quả 7, 14,
30, 45, 60 ngày. Nhuộm Zin - Nen - Xơn. Tiêm chuột lang 21 ngày giết tìm Vi khuẩn. Còn 1
con tiêm PPDM và PPPA theo dõi. Lấy bệnh phẩm bảo quản Formol 10% làm phiến đồ tìm
Lang han. Ngoài ra còn nhỏ mắt.
7. Phòng bệnh
Đối với gia súc, việc phòng bệnh và thánh toán bệnh Lao rất công phu, lâu dài. Tuỳ thuộc
vào điều kiện tự nhiên, khả năng kinh tế và chính sách chăn nuôi ở mỗi nước, mỗi vùng, mà
mức độ phòng bệnh có khác nhau:
7.1. Phòng bằng vệ sinh và phát hiện bệnh Lao
Trong công tác phòng chống Lao, ở các nông trường, trạm, trại, những nơi nuôi bò nhiều, đối
với bò cái, bò đực thường xuyên kiểm tra bệnh mỗi năm hai lần, các loại khác mỗi năm một
lần. Tất cả những con dương tính phải loại thải. Nếu phát hiện nhiều thì tiêu diệt cả đàn.
Những con nghi ngờ 45 - 60 ngày sau kiểm tra lại. Gia súc mới nhập, nhốt riêng 1 tháng theo
dõi kiểm tra bệnh. Nếu mẹ có Lao thì chỉ cho bú sữa đầu 1 ngày, sau đó tách nuôi bộ. Gia súc
nhập nội, phải có giấy chứng nhận không có bệnh Lao. Sau khi nhập về phải kiểm tra lại, sữa
phải tiệt trùng bằng Pasteur. Kiểm tra để phát hiện Lao ở những động vật khác. Thường
xuyên kiểm tra Lao cho công nhân. Tổng tẩy uế vệ sinh chuồng trại như vôi bột 15%, Crêzin
5%, chăm sóc bồi dưỡng gia súc.
7.2. Bằng Vaccine
Dùng Vaccine B C G (Bacterium Calmelte Guerin 1924), chế bằng trực khuẩn Lao bò, trong
môi trường khoai tây, thêm Glicerin, cho giảm độc qua mật bò trong 198 đời, Vi khuẩn mất
khả năng gây bệnh trở thành Vaccine. Liều dùng 40ml -100ml, tiêm dưới yếm da bê 15 ngày,
hiệu lực 1 đến 1,5 năm. Nhưng hiện nay người ta ít dùng, vì nó trở ngại cho công tác chẩn
đoán bệnh.
7.3. Điều trị
Dùng Streptomycin: Trâu, bò, ngựa 5-10-20mg/kgP/ngày chia 2-3 lần.
Chó, mèo 20-40-50mg/kgP/ ngày chia 2-3 lần
Gà 30-40mg/kgP chia 2 lần tiêm 4-6 ngày liên tục


thú, người ăn thịt súc vật ốm là mắc bệnh.
2.1. Cách sinh bệnh
Nha bào vào cơ thể theo thức ăn, nước uống, vào dạ dày hoặc ruột bị tổn thương do ký sinh
trùng. Nếu không bị thực bào thì bệnh phát ra. Khi Vi khuẩn vào máu phát triển và sinh bệnh.
Vi khuẩn sinh độc tố tác động vào cơ thể, chống lại thực bào. Khi Vi khuẩn vào máu phát
triển nhiều, làm cho huyết quản bị tổn thương, rồi từ máu đi vào các bắp thịt, làm sưng lên
các khối ung, trong khối ung sản sinh ra nhiều khí. Vì vậy, khi ta ấn vào khối ung có tiếng
lạo xạo.
2.2. Điều kiện sinh nha bào
Nha bào hình thành với hai điều kiện.
(1) thiếu không khí (yếm khí),
(2) Được bảo vệ bởi bạch huyết cầu (không bị thực bào).
3. Triệu chứng
Tuỳ theo mức độ nhiễm bệnh mà có các triệu chứng khác nhau, thể hiện qua các thể sau:
3.1. Thể quá cấp
Bệnh tiến triển nhanh trong vòng 3-6 giờ, vật chết nhanh, cũng có con sưng mình. Sưng
nhiều nơi khác nhau trên cơ thể, khi chúng ta lấy ngón tay ấn vào chỗ sưng thì vết lõm vẫn
giữ nguyên trong một thời gian dài và có tiếng kêu lạo xạo. Khi chết bụng chướng to, hậu
môn loìi phân ra ngoài.
3.2. Thể cấp tính
Bệnh tiến triển từ 1-3 ngày, có con 24-48 giờ, cũng có trường hợp kéo dài 1 tuần. Thân nhiệt
39
0
C-39,5
0
C, ít khi tăng lên 40
0
C. Thường con vật vẫn ăn uống bình thường cho đến khi
chết. Sau một thời gian ngắn, xuất hiện khối ung trên mình. Nhất là ở các bắp thịt, khối ung
có thể di chuyển được từ nơi này sang nơi khác, từ trên lưng xuống dưới bụng, từ đùi trước ra

Lấy bệnh phẩm làm tiêu bản bằng cách phét kính nhuộm Gram. Nuôi cấy phân lập trên môi
trường nước thịt yếm khí. Thạch VF cấy 24 giờ sinh hơi và nứt thạch. Cấy vào thạch máu có
Gluco, Vi khuẩn dung huyết, khuẩn lạc màu trắng tro. Lên men sinh hơi đường Gluco,
Saxcaro, Manto, không lên men đường Salicin, sinh H
2
S.
5.4. Tiêm động vật thí nghiệm
Lấy 0,5 đến 1ml canh khuẩn tiêm vào bắp cho chuột lang, chuột chết sau 24 giờ, chỗ tiêm
sưng, ứ máu, thịt thâm đen thuỷ thũng đỏ sẩm lan tràn.
5.5. Chẩn đoán huyết thanh học
Làm phản ứng ngưng kết nhanh trên phiến kính. Kháng thể là huyết thanh chuột lang miễn
dịch cao độ, bằng cách tiêm Vi khuẩn chết có 5% Formol 1 đến 2ml. Kháng nguyên là canh
khuẩn nước thịt yếm khí 48 đến 72 giờ, hoặc máu súc vật ốm chắt lấy huyết thanh.
6. Phòng trị
6.1. Vệ sinh phòng bệnh
Cách ly gia súc, tiêu độc tiêm phòng Vaccine. Thành lập ban chống dịch, công bố dịch, tìm
biện pháp dập tắt dịch, công bố hết dịch sau khi đã làm đầy đủ thủ tục phòng, chống dịch, thì
công bố hết dịch sau 14 ngày con vật ốm cuối cùng khỏi, hoặc chết.
6.2. Điều trị
Dùng huyết thanh trị bệnh Ung khí thán chế từ bò, hay ngựa, liều dùng: lần đầu n thứ hai (12
giờ sau) 25-50ml và một lần thứ 3 nữa. Cả 3 lần tiêm 150-200ml. Penicilline 400.000 -
500.000UI, cứ 4 đến 6 giờ tiêm 1 lần, ngày tiêm 3 lần, liều trung bình có thể dùng 10.000
UI/1kgP. Huyết thanh kết hợp Penicilline. Tiêm 150-200ml huyết thanh + 1-2 triệu đơn vị
Penicilline (mỗi lần 20 đơn vị cách nhau 4-6 giờ một lần). Tiêm tĩnh mạch Oreomycine
10mg/1kgP mỗi ngày. Chữa triệu chứng dùng Urotrofin 40% ngày 4-10gam, 2-3 ngày liền.
Hoá chất sát trùng Acide fenic 5%, thuốc tím 3-5%, Lizon 5%.
Khoa Chăn nuôi Thú y ĐHNL-Huế
131
Phạm Quang Trung Bài giảng Thú y cơ bản


nhiệt 40-42
0
C, niêm mạc mắt đỏ, chảy nước mắt, nước mũi.
Bệnh cư trú ở vùng ngực: phổi tụ máu, viêm màng phổi. Viêm ngoại tâm, maûc có nước
vàng, vật ho khán, ho nhỏ, ho từng cơn, nước mũi chảy ra đặc có khi lẫn mũ.
Bệnh cư trú ở vùng bụng: Thường viêm ruột cấp tính, lúc đầu đi táo, sau đi tháo, có máu.
Viêm phúc mạc có nước vàng, bụng chướng to. Bệnh cư trú ở hạch lâm ba. Viêm hạch thuỷ
thũng, hạch bị sưng to, chổ sưng nóng đau, ấn tay có vết lõm. Ngoài ra, con vật bị sưng hầu,
sưng hàm, nuốt khó. Viêm phổi, dẫn đến ngạt thở. Đặc biệt vùng hầu sưng, cuống lưỡi sưng
to, lưỡi thè ra ngoài miệng. Khi vật gần chết, tim ngừng đập, ngạt thở, niêm mạc có chấm
xuất huyết. Con vật đi kiết lỵ hoặc đái ra máu. Nếu chuyển sang bại huyết thì chết trong 24
giờ, bò 5-10% trâu, dê 90-95%.
2.3. Thể mãn tính
Bệnh kéo dài, xuất hiện những biểu hiện mãn tính, ở ruột, phổi và cuống phổi, có khi cả
ngoại tâm mạc. Thường tiếp theo thể cấp hoặc ghép bệnh dịch tả. Bệnh tiến triễn vài tuần và
Khoa Chăn nuôi Thú y ĐHNL-Huế
132
Phạm Quang Trung Bài giảng Thú y cơ bản
kết thúc bằng cách con vật khỏi, các triệu chứng nhẹ dần, con vật có thể tự ăn uống bình
thường hoặc chết.
3. Bệnh tích
3.2. Bệnh tích chung
Bệnh Tụ huyết trùng nói chung có hiện tượng tụ huyết, xuất huyết ở tổ chức liên kết dæåïi da
lấm tấm xuất huyết. Bắp thịt và thịt ướt thấm nước. Hạch viêm, lâm ba quản và hạch tiết ra
nhiều nước, làm cho thịt ướt và có thủy thũng, thận, gan viêm.
3.2. Bệnh tích đặc biệt
Có thuỷ thũng xung quanh vùng hạch lâm ba rất rõ, có khi 1/2 cơ thể, cắt ra có nhiều nước
màu vàng hay xanh nhạt. Thuỷ thũng vùng ngực có nước màu vàng, có khi đông lại ở màng
phổi. Phổi lấm tấm xuất huyết có thể dính với sườn hoặc cơ hoàn cách. Phổi viêm nhất là
phần trước. Viêm ngoại tâm mạc có nước, viêm tim có xuất huyết ở phủ tạng, hạch ruột.

Thực hiện tốt công tác vệ sinh phòng bệnh. Tiêm phòng bằng Vaccine khi chưa có dịch liều
lượng 2-3, tiêm dưới da, 7-15 ngày có miễn dịch, miễn dịch kéo dài 6-7 tháng. Chăm sóc
nuôi dưỡng tốt, tắm rửa sạch sẽ. Không thay đổi thức ăn đột ngột, thức ăn thừa đã lên men
không nên cho ăn. Không nhốt quá chặt, sử dụng gia súc phải điều độ, áp dụng tốt các biện
Khoa Chăn nuôi Thú y ĐHNL-Huế
133
Phạm Quang Trung Bài giảng Thú y cơ bản
pháp chống dịch. Chú ý khâu vận chuyển, tiêm phòng bằng Vaccine và kháng huyết thanh
liều 15-30ml liều tối đa 50ml tuỳ theo trọng lượng.
6. Điều trị
Tất cả các loại gia súc và gia cầm khi đã mắc bệnh hoặc phát hiện thấy bệnh thì phải điều trị
ngay. Điều trị sớm mới có kết quả, nếu để quá muộn khó cứu. Có thể dùng huyết thanh đơn
giá hay đa giá: Đối với bê, nghé liều tiêm 20-40ml. Trâu, bò 60-100ml, liều lượng không quá
100-120ml, dùng Sulfamethazine tiêm tĩnh mạch dung dịch 6% với liều 0,13g/l kg trọng
lượng. Cho uống 0,2g/1kg trọng lượng. Liều dùng 3-5 ngày. Streptomycine 40-60mg/1kg
trọng lượng. Trường hợp nặng có thể kết hợp Sulfamethazine + Penicilline (100.000UI/1kg
trọng lượng, cứ 3 giờ tiêm 1 lần). Suldadimethoicine 30-50mg/I kg trọng lượng.
Sulfamethocipirydazol 30-40mg/1kg trọng lượng cho uống 2 ngày liền. Kynamycine 30-
50mg/1kg trọng lượng. Tất cả các thuốc trên tuỳ theo trường hợp nặng nhẹ mà dùng chứ
không phải dùng một lúc tất cả.

BỆNH ĐÓNG DẤU LỢN
(Erysipelas Suum)
1. Đặc điểm căn bệnh
Âóng dấu lợn là một bệnh truyền nhiễm, thường là cấp tính của loài lợn. Gây ra do Vi khuẩn,
biểu hiện triệu chứng viêm, tụ máu ở da, niêm mạc, khí quan phủ tạng. Âóng dấu lợn gây ra
dịch địa phương, do L.Pasteurr và Pilie người Pháp tìm ra năm 1882. Bệnh có khắp nơi trên
thế giới. Riêng ở Việt Nam, bệnh rãi rác ở nhiều nơi, nhưng nhiều nhất là ở Bắc Bộ và Trung
Bộ.
Căn bệnh Âóng dấu lợn chủ yếu do Erysipelaphiae, là trực khuẩn nhỏ, thẳng có khi hơi cong.

Phạm Quang Trung Bài giảng Thú y cơ bản

3. Triệu chứng
3.1. Thể quá cấp tính
Thời gian nung bệnh từ 2-24 giờ. Vật sốt 40
0
C-41
0
C, chết nhanh. Mổ ra có trường hợp Âóïng
dấu trắng, có hiện tượng xuất huyết trên bề mặt thận.
3.2. Thể cấp tính
Thể này phổ biến, vật ủ rũ mệt nhọc, kém ăn chỉ thích chui đầu vào rơm rạ, góc chuồng, vật
sốt 40
0
C-41
0
C, có khi hơn vật đi táo phân rắn kéo dài sinh ra ỉa chảy, vật nôn mửa. Niêm
mạc mắt đỏ, sốt, viêm kết mạc, chảy nhiều nước mắt vật khó thở. Dưới da xuất hiện nốt đỏ,
hình vuông, hình quả trám, hình tam giác, các loại hình khác. Lưng, vai, cổ, đùi, bụng, có
màu đỏ sẩm xung quanh, trong nhạt dần. Khi chết dấu bầm dần do tụ máu, ứ máu, khi ấn tay
vào dấu mất đi, bỏ tay ra dấu hiện lại. Kiểm tra máu, bạch cầu đa nhân trung tính phát triển
nhiều 2%, 8%, có khi tăng lên đến chín lần, tiến triển 3-5 ngày. Vật khó thở, thân nhiệt hạ vật
chết hoặc kéo dài, có thể chuyển sang thể mãn.
3.3. Thể mãn tính
Âóng dấu lợn thể này, con vật biểu hiện gầy còm, thiếu máu kéo dài, chuyển sang đi lỏng.
Viêm nội tâm mạc mãn tính, nghe có tiếng tâm suy, có hiện tượng phù, bại liệt hai chân sau,
van tim sần sùi như bắp cải, gây tác động mạch chủ. Tuần hoàn trở ngại, gây thuỷ thũng
phổi, bại liệt chân.
- Miễn dịch học Hệ thống tế bào dưới nội mô tham gia chống lại, bao vây, tiêu diệt, một số
chết, một số mọc lên thành sợi, hình thành thịt thừa ở van tim. Hình thành miễn dịch, nếu vi

5.1. Chẩn đoán lâm sàng
Dựa vào tình hình dịch tẻ, dịch phát ra lẻ tẻ, dịch địa phương, cò mùa có vùng Âóng dấu lợn,
nhất là lợn sau cai sữa, lan ra nhiều trâu, bò, dê, cừu, chim, người, rõ nhất ở ngoài da. Cấp
tính kéo dà, do tụ máu, ứ máu. Rõ nhất là khi có mãn tính xảy ra. Bệnh tích viêm khớp. Da
bong lên thành mai cua.
5.2. Chẩn đoán phân biệt
5.2.1. Bệnh cảm nắng, cảm nóng
Bệnh cảm nắng, cảm nóng trên da sưng do xuất huyết, sau khi vận chuyển trên xe, do viêm
ca ta. Không sốt, không ỉa chảy.
5.2.2. Trúng độc
Trúng độc xảy ra nhiều con, không có dấu rõ, không sốt, sùi bọt mép không kêu.
5.2.3. Bệnh Dịch tả lợn
Bệnh Dịch tả lợn xảy ra cho mọi lứa tuổi, ỉa chảy có lẫn máu, sốt cao kéo dài, đi lảo đảo, nửa
thân sau bị liệt. Viêm loét dạ dày, thận xuất huyết đinh gim. Rìa lách nhồi huyết, xuất huyết
lấm tấm ở chân.
5.2.4. Tụ huyết trùng
Bệnh Tụ huyết trùng xuất huyết từng mảng, hầu thủy thũng. Lách hạch sưng ứ máu, Phổi
sưng tụ máu, gan hoá.
5.2.5. Phó thương hàn
Bệnh Phó thương hàn lợn con 3-6 tháng, ỉa chảy phân loãng, vàng, có máu, vật lòi rom, viêm
loét từng đám lớn, rộng ở ruột già, lách sưng, dai như cao su.
5.2.6. Nhiệt thán
Bệnh Nhiệt thán sưng hầu, ruột, hạch viêm đỏ sẩm, đen. Lách sưng, nhaío như bùn, chướng
bụng.
5.3. Chẩn đoán Vi khuẩn học
Soi kính: Lấy máu, phết kính nhuộm Gram không có bào tử. Bạch cầu thành từng đám, phân
lập ở nước thịt.
5.4. Chẩn đoán huyết thanh học
Lấy huyết thanh vật nghi mắc bệnh. Làm phản ứng ngưng kết trong ống nghiệm. Phản ứng
kết tủa khuếch tán trên thạch. Phản ứng ngưng kết hồng cầu gà.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status