LỊCH SỬ VIỆT NAM
LỊCH SỬ VIỆT NAM
THỜI KỲ LỊCH SỬ CỔ ĐẠI
Chương I
1. Thời kỳ dựng nước
1.1. Vài nét về đất nước, con người Việt Nam
1.2. Sự hình thành của Nhà nước Văn Lang – Âu Lạc
1.3. Vị trí và ý nghĩa của thời kỳ dựng nước đầu tiên trong lịch sử Việt Nam
1. Thời kỳ dựng nước
1.1. Vài nét về đất nước, con người Việt Nam
1. Thời kỳ dựng nước
1.2. Sự hình thành của Nhà nước Văn Lang – Âu Lạc
Sự ra đời của Nhà nước Văn Lang – Âu Lạc được bắt đầu từ những tiền đề lịch
sử:
+ Tiền đề về kinh tế:
Thời kỳ đồ đồng với những công cụ mới làm cho năng suất nông
nghiệp tăng, sản phẩm nông nghiệp ngày càng đa dạng. Làm cho các ngành
trồng trọt, chăn nuôi, thuần dưỡng gia súc cũng phát triển.
Nghề thủ công cũng phát triển mạnh mẽ và có vị trí quan trọng như
nghề luyện kim, đúc đồng, nghề mộc, nghề gốm, đan lát…
Sự phát triển của nông nghiệp và thủ công nghiệp làm cho sản phẩm
dư thừa, dẫn đến sự ra đời và tồn tại một lực lượng quản lý và bóc lột.
+ Tiền đề về chính trị, xã hội:
Sơ kỳ đồ đá mới Hình thái tổ chức xã hội
Thị tộc mẫu hệ
Hình thái tổ chức xã hội Công xã Thị tộc mẫu hệ
Hậu kỳ đồ đá mới
Sơ kỳ đồ đồng Hình thái tổ chức xã hội
Công xã Thị tộc phụ
quyền
Hậu kỳ đồ đồng Hình thái tổ chức xã hội
Thời kỳ Văn Lang – Âu Lạc là thời kỳ có thật trong lịch sử dân tộc,
điều này được phán ánh thông qua những truyền thuyết, trong thư tịch cổ, qua
các di chỉ khảo cổ học…
Thời kỳ Văn Lang – Âu Lạc là thời kỳ chuyển biến sâu sắc về nhiều
mặt kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa từ đó dẫn đấn sự hình thành nhà nước
phôi thai đầu tiên trọng lịch sử Việt Nam.
Thời kỳ Văn Lang – Âu Lạc là thời kỳ ra đời và phát triển của một nền
văn hóa cổ xưa của người Việt – VĂN MINH SÔNG HỒNG.
2. Thời kỳ Bắc thuộc và chống Bắc thuộc
2.1. Chính sách nô dịch và đồng hóa của bọn phong kiến phương
Bắc Trung Quốc
Sau thất bại của An Dương Vương, nước ta liên tục bị các thế lực
phong kiến phương Bắc xâm lược và thống trị hơn một ngàn năm.
Nam Việt 68 năm (179 TCn – 111 TCN); Tiền Hán 119 năm (111
TCN - 8); Tân 17 năm (8 - 25); Hậu Hán 195 năm (25 - 220); Đông Ngô 60
năm (229-280); Nhà Tây Tấn và Đông Tấn 155 (265 420); Nam Triều 122
(420 - 542); Tùy 16 năm (602 618); Đường 287 năm (618 - 905).
Trong 1000 năm độc lập và chủ quyền của đất nước bị chà đạp thô
bạo…
2.2. Một số phong trào đấu tranh độc lập tự chủ đầu tiên của dân
tộc Việt Nam
Cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng
Họ là con gái của Lạc tướng Mê Linh dòng dõi nhiều đời bên ngoại
Hùng Vương. Trưng Trắc kết hôn với Thi Sách con trai Lạc tướng Chu Diên.
Tô Định thấy Mê Linh và Chu Diên có mối quan hệ hôn nhân với nhau
nên đề phòng hậu họa nên đã giết Thi Sách, mâu thuẫn giai đình, mâu thuẫn
dân tộc trở nên sâu sắc.
Mùa Xuân năm 40, Hai Bà Trưng phát động và lãnh đạo cuộc khởi
nghĩa, làm cho chính quyền đô hộ bị tan rã, Trưng Trắc được suy tôn làm vua,
sử gọi là Trưng Nữ Vương (40 - 43).
Phùng Hưng cùng em là Phùng Hải đã cùng nhân dân khởi nghĩa và
chiếm được Đường Lâm. Thành Tống Bình bị uy hiếp, quan là Cao Chính Bình
sợ hãi mà chết, sau Phùng Hưng mất con là Phùng An lên thay và suy tôn là Bố
Cái Đại Vương.
Họ Khúc và những cải cách của họ Khúc (906-923)
Năm 907, triều đại nhà Đường (TQ) chấm dứt, Trung Quốc rơi vào tình
trạng Ngũ Đại Thập Quốc. Lợi dụng tình hình đó, nhân dân ta dưới sự lãnh đạo
của Khúc Thừa Dụ đã giành chính quyền và tự xưng là Tiết độ sứ, nhà Đường
sau phong là Đông Bình Chương sự.
Khúc Thừa Dụ được cho là người mở đầu ngoại giao khôn khéo với
phong kiến phương Bắc: “Độc lập thực sự, thần phục danh nghĩa”
Ngày 23/7/907, Khúc Thừa Dụ qua đời, con Khúc Hạo lên thay và cũng
xưng là Tiết độ sứ. Từ năm 907 – 917, Khúc Hạo đã đề ra nhiều chính sách cải
cách quan trọng nhằm xây dựng một nền tảng độc lập, tự chủ.
Khúc Hạo mất con là Khúc Thừa Mỹ lên thay nhưng sau bị vua Nam
Hán khuất phục.
Dương Đình Nghệ đánh đuổi quân Nam Hán (931)
Nam Hán là một trong 10 nước Ngũ đại thập quốc do Lưu Ẩn lập ra,
Nam Hán cử tướng cũ của họ Khúc là Dương Đình Nghệ giữ chức Thứ sử Ái
Châu.
Năm 931, Dương Đình Nghệ bất ngờ tấn công thành Tống Bình và
xưng là Tiết độ sứ. Đến năm 937, ông bị chính con nuôi là Kiều Công Tiễn giết
để giành chức Tiết độ sứ, nước ta rơi vào khủng hoảng chính trị mới.
Ngô Quyền – chiến thắng Bạch Đằng (931):
Ngô Quyền là bộ tướng của Dương Đình Nghệ. Ông là một người phi
thường. Theo Đại Việt sử ký toàn thư miêu tả: “vẻ khôi ngô, mắt sáng như chớp,
dáng đi như cọp, có trí dũng, có thể nhấc được vạc” được Dương Đình Nghệ giao
cho coi quản đất Ái Châu và gả con gái cho.
Khi Kiều Công Tiễn giết Dương Đình Nghệ đã làm nhân dân căm phẫn,
hoảng sợ Kiều Công Tiễn cầu cứu vua Nam Hán là Lưu Cung sai con là Vạn
giết em.
Năm 979, Đinh Tiên Hoàng và Đinh Liễn bị Đỗ Thích giết, triều thần lập
Vệ vương Đinh Tuệ (Toàn) lên làm vua, sử gọi là Phế Đế. Do vua còn nhỏ nên
binh quyền nằm trong tay Thập đạo tướng quân Lê Hoàn, sau đại thần nhà
Đinh nghi Lê Hoàn tư thông với Thái hậu nên cử binh đi đánh Lê Hoàn.
Nhà Tống nghe tin ĐTH mất nền cử binh đánh chiếm, trươc nguy cơ đó
Thái hậu Dương Vân Nga đã trao long bào cho Lê Hoàn, nhà Tiền Lê được
thành lập.
Nhà Đinh – Đinh Bộ Lĩnh (968 - 980)
Dẹp yên giặc giã, Lê Hoàn bắt tay ngay vào chăm lo xây dựng đất
nước trên tất cả các mặt kinh tế, chính trị, văn hóa:
Hành chính: đặt nhiều chức quan mới: Thái sư, Tổng quản, Thái úy
Kinh tế: coi trọng KT nông nghiệp, năm 987 mở lễ Tịch Điền
Văn hóa: Nho giáo được truyền bá, Phật giáo được tôn sùng…
Khi khi Lê Long Đĩnh chết, Chư tăng Sư Vạn Hạnh cùng quan đại thần
Đào Cam Mộc đã đồng tâm tôn Lý Công Uẩn lên ngôi, nhà Lý được thành lập
Nhà Đinh – Đinh Bộ Lĩnh (968 - 980)
THỜI KỲ LỊCH SỬ TRUNG ĐẠI
Chương II
1. Thời kỳ văn minh Đại Việt từ thế kỷ X đến thế kỷ XVII
1.1. Quán trình hình thành, xác lập và phát triển của chế độ phong kiến
Việt Nam qua các triều đại Lý, Trần, Hồ và Hậu Lê.
1.2. Văn minh văn hóa Đại Việt và văn minh văn hóa Chămpa
1.3. Những cuộc chiến tranh giữ nước, giải phóng dân tộc tiêu biểu của
dân tộc ta chống Tống, Nguyên và Minh.
1. Thời kỳ văn minh Đại Việt từ thế kỷ X đến thế kỷ XVII
1.1. Quán trình hình thành, xác lập và phát triển của chế độ phong kiến
Việt Nam qua các triều đại Lý, Trần, Hồ và Hậu Lê.
a. Thời nhà Lý (1009 - 1225)
Năm 1072, Lý Thánh Tông mất, Lý Nhân Tông 6 tuổi lên thay, nhà
Tống lợi dụng cơ hội xâm lược nước ta. Lý Thường Kiệt được giao nhiệm vụ tổ
chức kháng chiến.
Đạo Phật rất phát triển ở thời Lý, các vua Lý đều theo đạo Phật, rất
nhiều chùa chiền được xây dựng (năm 1031 có 950 ngôi chùa). Năm 1049, Lý
Thái Tông cho xây chùa Diên Hựu (chùa Một Cột), một công trình tiêu biểu cho
kiến trúc nhà Lý.
Nhà Lý luôn coi trọng xây dựng và phát triển nền giáo dục quốc gia:
Năm 1070 cho xây dựng Văn Miếu, năm 1076 lập Quốc Tử Giám. Năm 1075
cho mở khoa thi đầu tiên được gọi là Tam Trường (Minh kinh bác học), thủ khoa
là Lê Văn Thịnh.
Nhà Lý rất coi trọng chính sách dân tộc vừa mang tính mềm dẻo vừa
mang tính kiên quyết nên đã có sự cố kết cao của các thủ lịnh người dân tộc
cùng bảo vệ triều định, bảo vệ biên cương quốc gia.
Cuối TK XII, đầu TK XIII nhà Lý bắt đầu suy yếu. Năm 1225, Lý Huệ
Tông nhường ngôi cho con gái 7 tuổi là Lý Chiêu Hoàng nhưng quyền bính lại
rơi vào tay Trần Thủ Độ.
Ngày 10/1/1226, Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho chồng là Trần
Cảnh, kết thúc 216 năm cầm quyền của nhà Lý.
1. Thời kỳ văn minh Đại Việt từ thế kỷ X đến thế kỷ XVI
1.1. Quán trình hình thành, xác lập và phát triển của chế độ phong
kiến Việt Nam qua các triều đại Lý, Trần, Hồ và Hậu Lê.
b. Thời nhà Trần (1226 - 1400)
Trần Cảnh – Trần Thái Tông là vị vua đầu tiên mở đầu cơ nghiệp nhà
Trần. Chính Trần Thủ Độ là người mưu sức giúp Trần Cảnh lấy được thiên hạ từ
tay nhà Lý.
Chính quyền nhà Trần trong TK XIII đã phát triển thành một chính quyền
trung ương tập quyền chuyên chính - dân chủ dòng họ, đoàn kết nội bộ dòng họ
Trần.
Nhà Trần áp dụng chế độ Thái Thượng hoàng để cho vua trẻ được