Lãi suất và ảnh hưởng của chính sách hạ lãi suất đến các doanh nghiệp Việt Nam năm 2012 - Pdf 13

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG

TIỂU LUẬN: TIỀN TỆ NGÂN HÀNG
Đề tài: “Lãi suất và ảnh hưởng của chính sách hạ lãi suất đến các
doanh nghiệp Việt Nam năm 2012”
Giáo viên hướng dẫn: TS.Nguyễn Thị Hiền
Nhóm thực hiện: Nhóm 1

Hà Nội, tháng 12 năm 2012
Tiền tệ ngân hàng – Nhóm 1
LỜI NÓI ĐẦU
Lãi suất là một trong những biến số được theo dõi vô cùng chặt chẽ trong nền kinh
tế. Mỗi mức lãi suất được công bố sẽ ảnh hưởng đến những quyết định của cá nhân cũng
như doanh nghiệp; quyết định đầu tư hay tiết kiệm. Mỗi quyết định đó đều có những tác
động nhất định tới sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia. Ở Việt Nam, Ngân hàng Nhà
nước đã khá linh hoạt trong việc sử dụng công cụ lãi suất nhằm tác động tích cực đến nền
kinh tế trong quá trình chuyển đổi.
Trong năm 2012 vừa qua, lãi suất đã liên tục được Ngân hàng nhà nước điều chỉnh
giảm. Vấn đề được quan tâm nhất trong thời gian này không chỉ là ảnh hưởng của nó tới
cá nhân mà còn tới các tổ chức nói chung và doanh nghiệp nói riêng.
Hiện nay, tác động và ảnh hưởng của lãi suất đến sự phát triển kinh tế ngày càng trở
nên quan trọng hơn trong bối cảnh đất nước đang tham gia ngày càng sâu rộng vào liên
kết khu vực và hội nhập quốc tế. Với đề tài “Lãi suất và ảnh hưởng của chính sách hạ
lãi suất đến tình hình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp năm 2012” nhóm
chúng em mong muốn có thể nghiên cứu sâu hơn về lãi suất và chiều hướng diễn biến
của nó.
Nội dung đề tài gồm ba phần:
Chương I: Các thông tư, nghị định quy định về việc hạ lãi suất từ đầu năm 2012 đến nay.
Chương II: Ảnh hưởng của hạ lãi suất tới tình hình sản xuất, kinh doanh.
1) Thông tin về tình hình tiếp cận vốn của các doanh nghiệp năm 2012

Thông tư số 30/2011/TT-NHNN ngày 28/9/2011 quy định lãi suất tối đa đối với tiền gửi
bằng đồng Việt Nam của tổ chức, cá nhân tại tổ chức tín dụng (TCTD), chi nhánh ngân
hàng nước ngoài.
Cụ thể, NHNN quy định lãi suất tối đa áp dụng đối với tiền gửi không kỳ hạn và có
kỳ hạn dưới 1 tháng là 4%/năm; lãi suất tối đa áp dụng đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 1
3
Tiền tệ ngân hàng – Nhóm 1
tháng trở lên là 12%/năm; riêng Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở ấn định mức lãi suất tối đa
đối với tiền gửi kỳ hạn từ 1 tháng trở lên là 12,5%/năm.
Cùng với quyết định trên, Ngân hàng Nhà nước cũng điều chỉnh giảm các mức lãi
suất điều hành của NHNN. Thống đốc NHNN quy định các mức lãi suất của NHNN như
sau: Lãi suất tái cấp vốn là 13%/năm; Lãi suất tái chiết khấu là 11%/năm; Lãi suất cho
vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng và cho vay bù đắp thiếu hụt vốn
trong thanh toán bù trừ của NHNN đối với các ngân hàng là 14%/năm.
Việc hạ lãi suất đã được dự báo trước và chính Ngân hàng Nhà nước sau khi hạ lãi suất
vầ 13% cũng cho biết mỗi quý sẽ hạ lãi suất 1%. Tuy nhiên, động thái hạ lãi suất này
được xem là diễn ra nhanh hơn dự kiến.
3) Quyết định giảm lãi suất III (28/5/2012)
Theo Quyết định số 1081/QĐ-NHNN ngày 25/5/2012 về việc điều chỉnh giảm các
mức lãi suất điều hành của NHNN, giảm lãi suất tái cấp vốn từ 13%/năm xuống
12%/năm, lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng từ 14%/năm
xuống 13%/năm, lãi suất tái chiết khấu từ 11%/năm xuống 10%/năm.
Theo thông tư số 17/2012/TT-NHNN, lãi suất tiền gửi tối đa bằng VND đối với
tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 1 tháng giảm từ 4%/năm xuống còn 3%/năm,
đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 1 tháng trở lên giảm từ 12%/năm xuống còn 11%/năm; riêng
Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở ấn định mức lãi suất tối đa đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 1
tháng trở lên giảm từ 12,5%/năm xuống còn 11,5%/năm.
Theo mức lãi suất tiền gửi tối đa bằng VND sau khi điều chỉnh giảm như nêu trên
và Thông tư số 14/2012/TT-NHNN ngày 4/5/2012 quy định lãi suất cho vay ngắn hạn tối
đa bằng VND của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng

5
Tiền tệ ngân hàng – Nhóm 1
trong thanh toán điện tử liên ngân hàng và cho vay bù đắp thiếu hụt vốn trong thanh toán
bù trừ của NHNN đối với các ngân hàng là 11%/năm.
Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1/7/2012 và thay thế Quyết định số
1196/QĐ-NHNN ngày 08/6/2012 về lãi suất tái cấp vốn, lãi suất tái chiết khấu, lãi suất
cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng và cho vay bù đắp thiếu hụt vốn
trong thanh toán bù trừ của NHNN đối với các ngân hàng.
Như vậy, đây là lần thứ 5 kể từ đầu năm nay, NHNN điều chỉnh giảm các mức lãi
suất chủ chốt. Trong lần điều chỉnh gần đây nhất, ngày 11/6, NHNN cũng đã giảm 1%
các lãi suất điều hành.
NHNN cho biết: Việc lãi suất điều hành tiếp tục giảm trong thời gian gần đây là dựa trên
xu hướng giảm của lạm phát và điều kiện cung - cầu vốn trên thị trường.
II. Ảnh hưởng của hạ lãi suất tới tình hình sản xuất, kinh doanh.
1) Thông tin về tình hình tiếp cận vốn của các doanh nghiệp năm 2012
Việc hạ lãi suất cho vay của các ngân hàng trong thời điểm này được xem là
động thái tích cực để giúp đỡ doanh nghiệp thoát khỏi tình trạng khó khăn. Tuy nhiên,
theo ý kiến của nhiều doanh nghiệp trên địa bàn, lãi suất vẫn còn ở mức cao. Trước tác
động của tình hình kinh tế khó khăn thì doanh nghiệp có được vay vốn cũng khó lòng mà
trả được nợ ngân hàng. Do đó, từ đầu năm tới nay, các doanh nghiệp lớn phải đứng ra để
vay vốn giúp cho các doanh nghiệp khác. Nguyên nhân là bản thân các doanh nghiệp này
không đủ điều kiện vay vốn ngân hàng do tài sản thế chấp không đảm bảo. Dự án có khả
thi đến mấy mà tài sản thế chấp không đảm bảo thì ngân hàng rất khó chấp nhận. Đấy
6
Tiền tệ ngân hàng – Nhóm 1
mới chỉ được vay ở mức lãi suất niêm yết thông thường chứ lãi suất ưu đãi thì có lẽ
không tiếp cận nổi. Doanh nghiệp nhỏ và vừa quá khó để vay vốn.
Thêm một cái khó của doanh nghiệp trong hành trình gian nan tìm nguồn vốn vay
từ ngân hàng, đó là thời điểm này ngân hàng vẫn chú trọng phần lớn đến nguồn vốn cho
vay ngắn hạn. Các ưu đãi hỗ trợ doanh nghiệp cũng chủ yếu tập trung ở hạn mức ngắn.

Công nghiệp và xây dựng 235010 43,06 48718 102,94
Công nghiệp 214333 39,27 42400 104,03
Xây dựng 20677 3,79 6318 96,15
Dịch vụ 226155 41,44 52036 105,31
(Nguồn: Tổng cục thống kê)
Chỉ số sản xuất công nghiệp Đơn vị tính: %
Tháng 4 năm
2012 so với
tháng 3 năm
2012
Tháng 4 năm
2012 so với
tháng 4 năm
2011
4 tháng năm
2012 so với
cùng kỳ năm
2011
TOÀN NGÀNH CÔNG NGHIỆP 101,5 107,5 104,3
Công nghiệp khai thác mỏ 97,7 101,7 102,6
Công nghiệp chế biến 103,7 109,3 103,8
Sản xuất phân phối, điện, ga, nước 97,6 114,3 114,0
(Nguồn: Tổng cục thống kê)
Hàng hóa xuất khẩu Đơn vị tính: Triệu USD
Tháng 4 năm
2012
4 tháng đầu
năm 2012
4 tháng đầu năm
2012 so với cùng

phần trăm.
Tổng thu ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến 15/3/2012 ước tính đạt 136,9 nghìn
tỷ đồng, bằng 18,5% dự toán năm, trong đó thu nội địa 89,5 nghìn tỷ đồng, bằng 18,1%;
thu từ dầu thô 19,5 nghìn tỷ đồng, bằng 22,4%; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất
nhập khẩu 27,1 nghìn tỷ đồng, bằng 17,6%. Trong thu nội địa, thu từ khu vực doanh
nghiệp Nhà nước bằng 22% dự toán năm; thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
(không kể dầu thô) bằng 16,3%; thu thuế công, thương nghiệp và dịch vụ ngoài nhà nước
9
Tiền tệ ngân hàng – Nhóm 1
bằng 17,8%; thuế thu nhập cá nhân bằng 17,2%; thuế bảo vệ môi trường bằng 18,4%; thu
phí, lệ phí bằng 12,7%.
Tổng chi ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến 15/3/2012 ước tính đạt 164,9 nghìn
tỷ đồng, bằng 18,3% dự toán năm, trong đó chi đầu tư phát triển 31,4 nghìn tỷ đồng, bằng
17,4% (riêng chi đầu tư xây dựng cơ bản 30,7 nghìn tỷ đồng, bằng 17,6%); chi phát triển
sự nghiệp kinh tế-xã hội, quốc phòng, an ninh, quản lý Nhà nước, Đảng, đoàn thể 111,4
nghìn tỷ đồng, bằng 18,5%; chi trả nợ và viện trợ 22,1 nghìn tỷ đồng, bằng 22,1%.
(Nguồn: Tổng cục thống kê)
Theo nhận định của Bộ Kế hoạch và Đầu tư về tình hình kinh tế Việt Nam quý
I/2012: “Tình hình kinh tế 3 tháng đầu năm 2012 có những chuyển biến tích cực. Các
ngành, các lĩnh vực sản xuất kinh doanh đều có bước phát triển. Thu ngân sách nhà nước
đạt kết quả tốt bảo đảm cân đối các nhu cầu chi một cách chủ động”.
Tuy nhiên với tình hình kinh tế còn nhiều khó khăn, mặc dù theo chính sách của
chính phủ, trong quý 1 lãi suất huy động của ngân hàng đã giảm xuống còn 12% nhưng
các doanh nghiệp vẫn “đồng loạt” xin giải thể.
Chỉ trong quý I, tại TP.HCM có tới 931 doanh nghiệp đã khóa mã số thuế để giải
thể (theo tổng hợp của cơ quan thuế TP.HCM). Số doanh nghiệp đã hoàn tất thủ tục giải
thể tại Sở Kế hoạch và Đầu tư là 526 đơn vị, tăng 23,8% so với cùng kì năm ngoái. Trong
khi đó số doanh nghiệp gửi thông báo ngừng hoạt động đến Cục thuế TP.HCM còn lớn
hơn nhiều lần, lên đến 5.012 doanh nghiệp. Cụ thể: 1.725 đơn vị chờ làm thủ tục giải thể,
phá sản; 1.198 doanh nghiệp đã bỏ trốn, mất tích; 1.136 đơn vị tạm ngừng hoạt động có

Tiền tệ ngân hàng – Nhóm 1
• Nợ phải trả,
• Hệ số nợ/tổng vốn ,
• Hệ số thanh toán nhanh( tài sản lưu động/ nợ ngắn hạn)
3.3) Phân tích cụ thể
12
Tiền tệ ngân hàng – Nhóm 1
a. Chi phí lãi vay( đơn vị: tr VND):
Bảng 1: Chi phí lãi vay
So với thời điểm trước khi có chính sách lãi suất, thì chi phí lãi vay của
nhóm các doanh nghiệp trên hầu như không có biến động nhiều. Điều này
cho thấy, nguồn vốn vay chưa có sự biến chuyển rõ rệt. Các doanh nghiệp
trên nói riêng và đa số các doanh nghiệp vừa và nhỏ nói chung vẫn chưa tiếp
cận được nguồn vốn cho vay.
13
Tiền tệ ngân hàng – Nhóm 1
b. Nợ phải trả( đơn vị: tr VND)
Doanh nghiệp
Nợ Phải Trả
Q2 2012 Q1 2012 Q4 2011 Q3 2011
CÔNG TY CỔ PHẦN
ALPHANAM - ALP
1,923,738 596,383 611,514
1,057,06
6
CÔNG TY CỔ PHẦN TRUYỀN
THÔNG SỐ 1 - ONE
102,835 77,073 70,463 120,202
CÔNG TY CỔ PHẦN TẬP
ĐOÀN HAPACO - HAP

HAPACO - HAP
23% 22%
CÔNG TY CỔ PHẦN HOÀNG HÀ -
HHG
56% 54%
CÔNG TY CỔ PHẦN CHẾ TẠO
KẾT CẤU THÉP VNECO.SSM -
SSM
46% 47%
CÔNG TY CỔ PHẦN CHƯƠNG
DƯƠNG - CDC
65% 63%
Bảng 3: Hệ số Nợ/Tổng vốn
So sánh giữa quí 2/2012 và năm 2011, hệ số nợ/tổng vốn của nhóm doanh nghiệp
trên biến động từ 1-6%. Hệ số này không có sự biến động nhiều chứng tỏ chưa có
sự thay đổi đáng kể trong cơ cấu vốn của nhóm doanh nghiệp này. Hay nói cách
khác là chưa có sự xuất hiện của các khoản vay nợ trung và dài hạn rất cần thiết
cho hoạt động sản xuất kinh doanh trong cơ cầu vốn của doanh nghiệp.
15
Tiền tệ ngân hàng – Nhóm 1
d. Hệ số thanh toán nhanh: ( đơn vị %)
Doanh nghiệp
Chỉ Số Thanh Toán Nhanh
Q2 2012 năm 2011 năm 2010
CÔNG TY CỔ PHẦN
ALPHANAM - ALP
91% 104% 129%
CÔNG TY CỔ PHẦN TRUYỀN
THÔNG SỐ 1 - ONE
94% 121% 128%

ALPHANAM - ALP
377% 400% 484%
CÔNG TY CỔ PHẦN
TRUYỀN THÔNG SỐ 1 -
ONE
437% 1125% 1578%
CÔNG TY CỔ PHẦN TẬP
ĐOÀN HAPACO - HAP
339% 439% 477%
CÔNG TY CỔ PHẦN
HOÀNG HÀ - HHG
2190% 2140% 1852%
CÔNG TY CỔ PHẦN CHẾ
TẠO KẾT CẤU THÉP
VNECO.SSM - SSM
228% 386% 371%
CÔNG TY CỔ PHẦN
CHƯƠNG DƯƠNG - CDC
56% 69% 142%
Bảng 5: Vòng quay hàng tồn kho
Chỉ số vòng quay hàng tốn kho này thể hiện khả năng quản trị hàng tồn kho
hiệu quả như thế nào. Chỉ số vòng quay hàng tồn kho càng cao càng cho thấy
doanh nghiệp bán hàng nhanh và hàng tồn kho không bị ứ đọng nhiều trong
doanh nghiệp. chỉ số này nhìn chung có xu hường giảm xuống, thể hiện các
doanh nghiệp đang mắc vấn đề chính trong đầu ra chứ ko phải vấn đề vốn
vay=> hạ lãi suất ko ảnh hưởng tích cực nhiều đến các doanh nghiệp này
3.4) Kết luận:
Tóm lại, lãi suất cho vay vốn quá cao là một trong những khó khăn của doanh
nghiệp trong thời gian qua. Tuy nhiên thông qua phân tích các chỉ tiêu tài chính
trên báo cáo tài chính của nhóm doanh nghiệp trên và so sánh với thời điểm trước

quốc gia, CAR của hệ thống đạt mức 11.62%; cao hơn đáng kể so với mức 9% đặt
ra trong thông tư 13. Song, một số quan ngại được đặt ra ở tỷ lệ này nếu xu hướng
vận động những năm trước tiếp tục thể hiện.
Đó là quy mô tăng trưởng tổng tài sản của các tổ chức tín dụng liên tục được đẩy
cao những năm gần đây, trong khi tốc độ gia tăng vốn tự có khó có thể bắt nhịp.
Nếu những năm 2005 – 2010, thị trường chúng khoán đã tạo cơ hội đ™ các ngân
hàng tăng vốn , thặng dư lớn, hoạt động có lợi nhuận cao. Trong khi đó hiện nay,
các kế hoạch tăng vốn theo hướng huy động thêm gần như “đóng băng”, trong khi
đó tỷ lệ nợ xấu gia tăng mạnh, lợi nhuận giảm sút kìm hãm quy mô vốn tự có.
18
Tiền tệ ngân hàng – Nhóm 1
Thứ hai, tỷ lệ CAR của hệ thống hiện còn có những khác biệt nhất định so với các
chuẩn mực trong Hiệp ước tiêu chuẩn Basel II. Cụ thể là cách tính CAR chỉ mới
xác định được rủi ro tính dụng mà chưa tính đến rủi ro thị trường và rủi ro hoạt
động. Thế nên, cuối năm 2011, đã có tổ chức chuyên môn đánh giá lại thực tế CAR
của hệ thống và hạ xuống thấp hơn cả mức 9% trong tiêu chuẩn thông tư 13. Theo
Basel III, để tính đến cả những rủi ro đó thì CAR cần đạt đến 13%.
Trên thực tế, theo số liệu của nhân hàng nhà nước thì tăng trưởng tín dụng tín đến
19/10 mới chỉ tăng 2,8% so với đầu năm. Mối quan ngại về nợ xấu của ngân hàng
chính là một trong những lý do quan trọng. Đây cũng chính là lý do khiến doanh
nghiệp khó tiếp cận tín dụng ngân hàng, mặc dù lãi suất huy động được giảm nhiều
lần từ đầu năm tới nay.
Theo báo cáo ngày 5/6 của Ngân hàng Nhà nước, có 7 nguyên nhân khiến ngân
hàng khó cho vay vốn với doanh nghiệp:
Thứ nhất, hầu hết các doanh nghiệp đều đang trong tình trạng có nợ quá hạn hoặc
nợ xấu cao tại ngân hàng.
Thứ hai, các DN chưa có phương án kinh doanh hiệu quả.
Thứ ba, các chỉ số an toàn trong hoạt động DN bị suy giảm đáng kể.
Thứ tư, NHNN chưa có hướng dẫn và quy định cụ thể về cho vay mới trả nợ cũ
nên các ngân hàng không thể thực hiện.

KẾT LUẬN
Thông qua phân tích ảnh hưởng của chính sách lãi suất 2012 đến tình hình sản
xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, nhóm nghiên cứu đã rút ra được nguyên
nhân cho vấn đề: “ Tại sao chính sách lãi suất 2012 chưa có tác động hiệu quả
đến nhóm doanh nghiệp vừa và nhỏ trong ngắn hạn”. Từ chính những nguyên
nhân đó kết hợp với các kiến thức đã được học chúng em xin đưa ra giải pháp
tương ứng với các nguyên nhân đã nghiên cứu ở trên như sau:
- Về phía NHNN, cần có sự giám sát và điều tra kĩ tình hình hoạt động kinh
doanh của nhóm các doanh nghiệp vừa và nhỏ để ban hành chính sách lãi
suất phù hợp hơn nữa, chú trọng ưu đãi hơn cho các doanh nghiệp vừa và
nhỏ do nhóm doanh nghiệp này chiếm tỉ lệ cao. Ngoài ra, NHNN có thể
khuyến khích các NHTW cho vay đối với các doanh nghiệp này.
- Về phía các doanh nghiệp, cần nghiên cứu đưa ra phương án kinh doanh phù
hợp, có tính hiệu quả cao, tập trung vào nhưng ưu thế của doanh nghiệp
mình để tiến hành xây dựng phương án đầu tư hiệu quả.
- Các gói kích cầu nên được ban hành nhiều hơn để giải quyết đầu ra cho sản
phẩm của các doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Trên đây là những giải pháp do nhóm nghiên cứu đưa ra dựa trên kiến thức cơ
bản đã được học cộng với phân tích của các cá nhân. Kết luận lại, chính sách lãi
suất 2012 tuy chưa có hiệu quả trong ngắn hạn nhưng đây là một động thái tích
cực, thể hiện sự khuyến khích của NHNN đối với hoạt động kinh doanh của các
doanh nghiệp, đặc biệt là nhóm doanh nghiệp vừa và nhỏ. Trong tương lai, theo
xu hướng này, các doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể sẽ bớt đi phần nào khó khăn
trong việc tiếp cận nguồn vốn.
21
Tiền tệ ngân hàng – Nhóm 1
TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Nguồn báo cáo tài chính các doanh nghiệp được lựa chọn: www.cophieu68.com
- Số liệu Tổng cục thống kê: />tabid=621&ItemID=12410
/>- Báo cáo thường kỳ VNR số 14,15,16.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status