Báo cáo thực tập tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
Trong cơ chế thị trường ngành kinh doanh sản xuất nói chung và các doanh
nghiệp sản xuất nói riêng luôn tồn tại và phát triển để đáp ứng mọi nhu cầu của xã
hội. Nó thực hiện chức năng quan trọng là sản xuất ra sản phẩm phân phối sản
phẩm hàng hóa trên thị trường. Vì vậy các Doanh nghiệp kinh doanh sản xuất sản
phẩm trong nền kinh tế thị trường đang đứng trước những thử thách khắc nghiệt
của quy luật cạnh tranh: "Thương trường là chiến trường". Đòi hỏi các Doanh
nghiệp sản xuất kinh doanh phải có những chuyển biến tích cực để thích nghi với
môi trường luôn biến động, tìm cho doanh nghiệp mình một chiến lược, một hướng
đi đúng đắn.
Mục đích cúa các Doanh nghiệp sản xuất kinh doanh là lợi nhuận càng tăng
thì khả năng cạnh tranh càng vững vàng. Tuy nhiên ta cũng biết rằng để thu được
lợi nhuận thì các Doanh nghiệp sản xuất phải có quá trình hoạt động kinh doanh có
hiệu quả: Cụ thể là giảm chi phí sản xuất, khai thác nguyên vật liệu tận gốc, nắm
bắt nhu cầu thị trường đón đúng thời cơ, đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm hàng hóa
Một Doanh nghiệp sản xuất kinh doanh muốn đứng vững tồn tại và phát
triển trong nền kinh tế thị trường ngoài đội ngũ cán bộ công nhân viên có trình độ
chuyên môn nhất định, đảm đương tốt mọi phần việc của mình nó đòi hỏi kế toán
Doanh nghiệp sản xuất phải có trình độ chuyên môn, am hiếu thị trường, có phong
cách lãnh đạo điều hành công việc tốt thì Doanh nghiệp đó nhiều khả năng thành
công trên thương trường.
Nhận thức được vấn đề trên, cùng với sự hướng dẫn chu đáo của giáo viên
hướng dẫn và bản thân em đang thực tập tại Công ty Dược Hải Phòng, vì vậy em
đã chọn đề tài: “ Phân tích hiệu quả sản xuất kinh doanh,và một số biện pháp
nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh tại Công ty Dược Hải Phòng”.
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
CHƯƠNG 1
GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY DƯỢC HẢI PHÒNG
Tên giao dịch của Công ty là: Công ty Dược Hải Phòng
(HAIPHARCO)
hoá chất, dụng cụ, vật tư y tế, môi trường dược liệu, xuất nhập khẩu thuốc phục
vụ việc chăm sóc, phòng và chữa bệnh cho nhân dân Thành Phố Hải Phòng.
Với chức năng nhiệm vụ được giao, hoạt động sản xuất kinh doanh
Công ty có những đặc điểm riêng của ngành.
- Thuốc chữa bệnh nên là loại hàng hoá đặc biệt, việc bảo quản, theo dõi
và bán thuốc đòi hỏi phải rất thận trọng, do đó hiệu quả thường không cao, chủ
yếu mang tính chất phục vụ cho phòng và chữa bệnh nhưng vẫn mang tính chất
kinh doanh. Phải hạch toán độc lập, bảo toàn vốn, lấy thu bù chi đóng góp vốn
ngân sách Nhà nước và đảm bảo đời sống cho cán bộ công nhân viên.
- Hàng hoá nhiều chủng loại, thường từ hàng nghìn danh mục hàng hoá,
giá trị hàng hoá tiêu thụ lớn.
- Nhu cầu thuốc chữa bệnh ngày càng tăng và đòi hỏi chất lượng ngày
càng tốt hơn, nhưng do nhà xưởng máy móc, thiết bị lâu năm không được nâng
cấp, máy móc cũ nát, lạc hậu không đáp ứng được tiêu chuẩn chất lượng của
ngành y tế nên việc sản xuất thuốc của khối sản xuất công nghiệp có giá trị
tổng sản lượng thấp hơn so với tổng doanh thu của khối kinh doanh thuốc.
- Màng lưới kinh doanh rộng, có nhiều đơn vị trực thuộc như các hiệu
thuốc nằm rải rác trên khắp nội và ngoại Thành Phố. Công ty có cơ chế khoán
và phân cấp quản lý kinh tế cho từng hiệu thuốc, các đơn vị trực thuộc hạch
toán báo sổ nên thông tin kinh tế thường chưa kịp thời, độ chính xác chưa cao.
1.3. Vốn kinh doanh của Công ty:
Trong các hoạt động sản xuất kinh doanh thì vốn là một nhân lố quan
trong nhất ảnh hưởng đến kết quả của hoạt động sán xuất kinh doanh.
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Về quy mô sản xuất kinh doanh của Công ty tính đến ngày 31/12/2005
thì tổng số vốn kinh doanh của Công ty hiện có là 118.936.701.472đ. Trong đó:
- Vốn lưu động: 105.958.763.647 đ, chiếm 5,16%
- Vốn cố định: 13.977.937.825 đ chiếm 94,84%
Đối với một doanh nghiệp kinh doanh chủ yếu là thuốc trên thị trường,
do đặc thù của ngành kinh doanh sản phẩm hàng hoá có giá trị lớn như vậy thì
Phòng
kế toán
thống
kê
Phòng
TC
LĐTL
Đại lý
thuốc tuyến
9 hiệu thuốc
huyện, thị xã
Khối SXCN
6 hiệu
thuốc Quận
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
a. Ban Giám đốc: Bao gồm 1 Giám đốc, 1 Phó giám đốc phụ trách chung.
* Giám đốc: Phụ trách chung, quản lý toàn bộ hoạt động SXKD của công
ty. Chịu trách nhiệm trước Nhà nước và cấp trên về kết quả hoạt động SXKD,
nâng cao thu nhập cho CBCNV. Giám đốc công ty phân nhiệm vụ 1 phần công
tác quản lý doanh nghiệp cho Phó giám đốc còn trực tiếp chỉ đạo các công tác
quan trọng như công tác tổ chức - LĐTL, công tác đầu tư xây dựng cơ bản,
công tác tài chính kế toán, sản xuất kinh doanh và XNK.
* Phó giám đốc: Giúp việc, thay mặt cho Giám đốc công ty tổ chức chỉ
đạo các công tác kỹ thuật, nghiên cứu các sản phẩm mới, cải tiến nâng cao chất
lượng sản phẩm, mẫu mã, quy cách đóng gói sản phẩm sản xuất, áp dụng tiến
bộ KHKT, chuyển giao công nghệ, trang bị và sửa chữa máy móc thiết bị đảm
bảo quá trình sản xuất, công tác an toàn, BHLĐ, kiểm tra và đảm bảo chất
lượng sản phẩm sản xuất và lưu thông hàng hoá bồi dưỡng nâng cao trình độ
chuyên môn cho CNVC. Ngoài ra Phó giám đốc còn thay mặt cho Giám đốc
công ty chỉ đạo, đôn đốc hoạt động của các hiệu thuốc kinh doanh theo pháp
- Tiến độ kỹ thuật
- Quản lý qui trình kỹ thuật, qui trình công nghệ sản xuất
- Quản lý và xây dựng kế hoạch sửa chữa máy móc thiết bị.
- Giải quyết các sự cố máy móc, công nghệ sản xuất.
- Soạn thảo qui trình, qui phạm, xây dựng định mức vật tư kỹ thuật, qui
cách đóng gói sản phẩm.
- Nghiên cứu các mặt hàng mới, cải tiến, nâng cao chất lượng mẫu mã
bao bì.
* Phòng Dược chính: (3 người) Giúp việc cho Giám đốc những công tác
sau:
- Phổ biến các qui chế mới của Bộ, ngành đối với SXKD dược.
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
- Xây dựng và kiểm tra việc thực hiện qui chế của bộ, ngành cũng như
của công ty.
- Đào tạo, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ dược cho CNV.
- An toàn - BHLĐ.
* Phòng KCS: (9 người) Tham mưu cho Giám đốc các mặt công tác sau:
- Kiểm tra nguyên liệu đầu vào và kiểm tra chất lượng sản phẩm trong
và sau quá trình sản xuất.
- Kiểm tra chất lượng thuốc nhập và bán của công ty.
* Phòng Kế toán - Thống kê: (15 người) Giúp việc cho Giám đốc các mặt
công tác sau:
- Kế toán, thống kê tài chính.
- Lập các chứng từ sổ sách, thu chi với khách hàng, nội bộ.
- Theo dõi quá trình chu chuyển tiền tệ của công ty.
- Phân tích hoạt động kinh tế.
- Kiểm tra công tác tài chính, quản lý kinh tế ở các đơn vị sản xuất kinh
doanh thuộc công ty.
* Phòng Hành chính - quản trị: (20 người) Tham mưu cho Giám đốc những
công tác sau:
- Công ty Dược phẩm Ninh Bình
- Công ty CP Dược phẩm Hà Tây
- Công ty Cổ phần Dược Thanh Hóa
- Dược liệu TW 1, TW 2
b, Mối quan hệ đầu ra:
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
- Công ty đã cung cấp sản phẩm tại các thị trường như: Thái Bình,
Thanh Hóa, Quảng Ninh, Hà Nội, TP.HCM, Nghệ An và đặc biệt thị trường
Hải Phòng chiếm đến 70%.
c, Mối quan hệ với cơ quan Nhà nước:
- Chịu sự quản lý trực tiếp của Sở Y tế HP, UBND TP và có quan hệ
với:
+ Sở Tài chính
+ Sở Kế hoạch đầu tư
+ Sở Nội vụ, Ngoại vụ
- Hệ thống giao dịch:
+ Ngân hàng Công thương quận Hồng Bàng
CHƯƠNG 2
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ KINH DOANH
Hiệu quả kinh doanh và biên pháp tăng lợi nhuận là một trong các vấn
đề được các doanh nghiệp quan tâm hàng đầu. Chương này em xin trình bày
các quan điểm về hiệu quả kinh doanh và lợi nhuận, cách phân loại, vai trò, các
nhân tố ảnh hưởng và hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sản xuất kinh
doanh.
2.1. Các quan điểm về hiệu quả kinh doanh và lợi nhuận, bản chất của
hiệu quả kinh doanh trong doanh nghiệp.
2.1.1. Các quan điểm về hiệu quả kinh doanh và lợi nhuận.
2.1.1.1. Các quan điểm về hiệu quả kinh doanh
Hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng
hai yếu tố hoặc kết quả đầu ra hoặc chi phí bỏ ra, nhưng trên thực tế thì các
yếu tố này không ở trạnh thái tĩnh mà luôn biến đổi và vận động.
Quan điểm thứ tư cho rằng: "Hiệu quả kinh doanh là mức độ thoả mãn
yêu cầu quy luật cơ bản của chủ nghĩa xã hội, cho rằng quỹ tiêu dùng với tư
cách là chỉ tiêu đại diện cho mức sống của mọi người trong doanh nghiệp" (GS
Đỗ Hoàng Toàn, 1998). Quan điểm này có ưu điểm là bám sát mục tiêu tinh
thần của nhân dân. Nhưng khó khăn ở đây là phương tiện đó nói chung và mức
sống nói riêng là rất đa dạng và phong phú, nhiều hình nhiều vẻ phản ánh trong
các chỉ tiêu mức độ thoả mãn nhu cầu hay mức độ nâng cao đời sống nhân
dân.
Quan điểm thứ năm cho rằng: "Hiệu quả kinh doanh là chỉ tiêu kinh tế-
xã hội tổng hợp để lựa chọn các phương án hoặc các quyết định trong quá trình
hoạt động thực tiễn ở mọi lĩnh vực kinh doanh và tại mọi thời điểm. Bất kỳ các
quyết định cần đạt được phương án tốt nhất trong điều kiện cho phép, giải pháp
thực hiện có tính cân nhắc, tính toán chính xác phù hợp với sự tất yếu của quy
luật khách quan trong từng điều kiện cụ thể" (GS Đỗ Hoàng Toàn, 1994).
2.1.1.2. Các quan điểm về lợi nhuận
Theo Các Mác thì “ Giá trị thặng dư hay cái phần trội lên nằm trong
toàn bộ giá trị của hàng hoá, trong đó lao động thặng dư hay lao động không
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
được trả công của công nhân đã được vật hoá thì tôi goi là lợi nhuận” (PGS.
PTS Phạm Hữu Huy, 1998)
Các nhà linh tế học hiện đại như P.A.Samuelson và W.D.Nordhaus phát
biểu “ Lợi nhuận là một khoản thu nhập dôi ra, bằng tổng số thu về trừ đi tổng
số chi “ hay cụ thể hơn: “ Lợi nhuận được định nghĩa là sự chênh lệch giữa
tổng thu nhập của một doanh nghiệp với tông chi phí” Theo David Begg,
Stanley Fisher và Rudigev Doven Busch thì “ Lợi nhuận là lượng dôi ra của
doanh thu so với chi phí”. (PGS. PTS Phạm Hữu Huy, 1998)
2.1.2. Vai trò của lợi nhuận.
Theo PGS. PTS Phạm Hữu Huy vai trò của lợi nhuận là:
Trong công tác quản lý, phạm trù hiệu quả kinh doanh được biểu hiện
dưới các dạng khác nhau. Mỗi dạng có những đặc trưng và ý nghĩa cụ thể hiệu
quả theo hướng nào đó. Việc phân chia hiệu quả kinh doanh theo các tiêu thức
khác nhau có tác dụng thiết thực cho công tác quản lý kinh doanh. Nó là cơ sở
để xác định các chỉ tiêu và định mức hiệu quả kinh doanh để từ đó có biện pháp
nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.
a) Hiệu quả tài chính và hiệu quả kinh tế quốc dân.
Theo GS Đỗ Hoàng Toàn hiệu quả tài chính và hiệu quả kinh tế quốc dân là:
Hiệu quả tài chính còn gọi là hiệu quả sản xuất kinh doanh hay hiệu quả
doanh nghiệp là hiệu quả xem xét trong phạm vi doanh nghiệp. Hiệu quả tài
chính phản ánh mối quan hệ lợi ích kinh tế mà doanh nghiệp nhận được và chi
phí mà doanh nghiệp phải bỏ ra để có được lợi ích kinh tế đó. Hiệu quả tài
chính là mối quan tâm hàng đầu của các doanh nghiệp, các nhà đầu tư. Biểu
hiện chung của hiệu quả doanh nghiệp là lợi nhuận mà mỗi doanh nghiệp đạt
được. Tiêu chuẩn cơ bản của hiệu quả này là lợi nhuận cao nhất và ổn định.
Hiệu quả kinh tế quốc dân hay còn gọi là hiệu kinh tế xã hội tổng hợp
xét trong phạm vi toàn bộ nền kinh tế. Hiệu quả kinh tế quốc dân mà doanh
nghiệp mang lại cho nền kinh tế quốc dân là sự đóng góp của doanh nghiệp vào
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
phát triển xã hội, tích luỹ ngoại tệ, tăng thu ngân sách, giải quyết việc làm, tăng
thu nhập, cải thiện đời sống cho người lao động
Hiệu quả tài chính là mối quan tâm của các doanh nghiệp hoặc các nhà
đầu tư. Hiệu quả kinh tế quốc dân mối quan tâm của toàn xã hội mà đại diện là
nhà nước Hiệu quả tài chính được xem xét theo quan điểm doanh nghiệp, hiệu
quả kinh tế quốc dân xem xét theo quan điểm toàn xã hội. Quan hệ giữa hiệu
quả tài chính và hiệu quả kinh tế quốc dân là mối quan hệ giữa lợi ích bộ phận
với lợi ích tổng thể, giữa lợi ích cá nhân với lợi ích tập thể và toàn xã hội. Đó là
quan hệ thống nhất có mâu thuẫn. Trong quản lý kinh doanh không những cần
tính hiệu quả tài chính doanh nghiệp mà còn phải tính đến hiệu quả kinh tế xã
hội của doanh nghiệp đem lại cho nền kinh tế quốc dân. Hiệu quả kinh tế quốc
c) Hiệu quả tuyệt đối và hiệu quả tương đối.
Theo GS Đỗ Hoàng Toàn hiệu quả tuyệt đối và hiệu quả tương đối là:
Hiệu quả tuyệt đối và hiệu quả tương đối là hai hình thức biểu hiện mối
quan hệ giữa kết quả và chi phí. Trong đó hiệu quả tuyệt đối được đo bằng hiệu
số giữa kết quả và chi phí. Hiệu quả tương đối được đo bằng tỷ số giữa kết quả
và chi phí.
Trong công tác quản lý kinh doanh việc xác định hiệu quả nhằm mục
tiêu cơ bản:
+ Để thể hiện và đánh giá trình độ sử dụng các nguồn lực trong hoạt
động kinh doanh
+ Phân tích luận chứng kinh tế của các phương án khác nhau trong việc
thực hiện một nhiệm vụ cụ thể đó để lựa chọn phương án tối ưu nhất.
Người ta xác định hiệu quả tuyệt đối khi phải bỏ chi phí ra để thực hiện
một phương án quyết định nào đó. Để biết rõ chi phí bỏ ra sẽ thu được bao
nhiêu lợi ích cụ thể và mục tiêu cụ thể là gì, từ đó quyết định bỏ tiền ra thực
hiện phương án hay quyết định kinh doanh phương án đó không. Vì vậy, trong
công tác quản lý kinh doanh, bất cứ việc gì đòi hỏi chi phí, dù một phương án
lớn hay một phương án nhỏ đều cần phải tính hiệu quả tuyệt đối.
d) Hiệu quả trước mắt và lâu dài.
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Căn cứ vào lợi ích nhận được trong các khoảng thời gian dài hay ngắn
mà người ta đưa ra xem xét đánh giá hiệu quả trước mắt và hiệu quả lâu dài.
Lợi ích trong hiệu quả trước mắt là hiệu quả xem xét trong thời gian ngắn. Hiệu
quả lâu dài là hiệu quả dược xem xét đánh giá trong một khoảng thời gian dài.
doanh nghiệp cần phải xem xét thực hiện các hoạt động kinh doanh sao cho nó
mang lại lợi ích trước mắt cũng như lâu dài cho doanh nghiệp. Phải kết hợp hài
hoà lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài, không được chỉ vì lợi ích trước mắt mà
làm thiệt hại đến lợi ích lâu dài của doanh nghiệp. (GS Đỗ Hoàng Toàn,1994).
2.3. Vai trò của nâng cao hiệu quả kinh doanh đối với các doanh nghiệp.
2.3.1. Hiệu quả kinh doanh là mục tiêu của kinh doanh.
hiếm lại càng khan hiếm hơn theo cả nghĩa tuyệt đối và nghĩa tương đối của nó.
Khan hiếm nguồn lực đòi hỏi bắt buộc con người phải nghĩ đến việc lựa chọn
kinh tế, khan hiếm càng tăng nên dẫn tới vấn đề lựa chọn tối ưu ngày càng đặt
ra nghiêm túc và ngay gắt. Thực ra khan hiếm mới chỉ là điều kiện cần để lựa
chọn kinh tế, nó bắt buộc lựa chọn con người phải lựa chọn kinh tế. Chúng ta
biết rằng lúc đầu dân cư còn ít mà của cải trên trái đất còn phong phú, chưa bị
cạn kiệt vì khai thác và sử dụng: lúc đó con người chỉ chú ý phát triển theo
chiều rộng. Điều kiện đủ cho việc lựa chọn kinh tế là cùng với sự phát triển
nhân loại thì càng ngày người ta càng tìm ra nhiều phương pháp sản xuất kinh
doanh. Vì vậy, cho phép cùng một nguồn lực đầu vào nhất định người ta làm
nhiều công việc khác nhau. Điều này cho phép các doanh nghiệp có khả năng
lựa chọn kinh tế: lựa chọn kinh tế tối ưu. Sự lựa chọn này sẽ mang lại cho
doanh nghiệp hiệu quả kinh doanh cao nhất, thu được nhiều lợi ích nhất. Giai
đoạn phát triển theo chiều rộng nhường chỗ cho phát triển theo chiều sâu: sự
phát triển theo chiều sâu nhờ vào nâng cao của hiệu quả kinh doanh.
Như vậy, nâng cao hiệu quả kinh doanh là nâng cao khả năng sử dụng
các nguồn lực có sẵn của doanh nghiệp để đạt được sự lựa chọn tối ưu. Trong
điều kiện khan hiếm nguồn lực thì việc nâng cao hiệu quả kinh doanh là điều
kiện sống còn đặt ra đối với doanh nghiệp trong quá trình tiến hành các hoạt
động kinh doanh.
Tuy nhiên, sự lựa chọn kinh tế của các doanh nghiệp trong cơ chế kinh
tế khác nhau là không giống nhau: Trong cơ chế kinh tế kế hoạch hoá tập
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
trung, việc lựa chọn kinh tế thường không đặt ra cho mọi cấp xí nghiệp mọi
quyết định kinh tế sản xuất cái gì? sản xuất như thế nào? sản xuất cho ai? đều
được giải quyết ở trung tâm duy nhất. Các đơn vị kinh doanh cơ sở tiến hành
các hoạt động của mình theo sự chỉ đạo từ một trung tâm vì vậy mục tiêu cao
nhất của các đơn vị này là hoàn thành kế hoạch nhà nước giao. Do hạn chế nhất
định của cơ chế kế hoạch hoá tập trung cho nên không những các đơn vị kinh
tế cơ sở ít quan tâm đến hiệu quả kinh tế của mình mà trong nhiều trường hợp
xuất còn thị trường đầu ra quyết định quá trình tái sản xuất và tính hiệu quả
trong kinh doanh.
b) Nhân tố kỹ thuật công nghệ: Nhân tố này cho phép các doanh nghiệp
nâng cao năng xuất, chất lượng và hạ giá thành sản phẩm. Nhờ đó mà tăng khả
năng cạnh tranh, tăng vòng quay của vốn lưu động, tăng lợi nhuận, đảm bảo
thực hiện yêu cầu quy luật tái sản xuất mở rộng.
c) Nhân tố này đảm bảo cho dây chuyền sản xuất cân đối. Cho phép
doanh nghiệp khai thác tới mức tối đa các yếu tố vật chất trong sản xuất, nhờ
đó mà góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.
Nhân tố quản lý: Nhân tố này cho phép doanh nghiệp sử dụng hợp lý và
tiết kiệm các yếu tố vật chất trong quá trình sản xuất kinh doanh, giúp lãnh đạo
doanh nghiệp đề ra các quyết định về chỉ đạo sản xuất kinh doanh chính xác và
kịp thời, tạo ra những động lực to lớn để kích thích sản xuất phát triển.
Nhân tố về vận dụng các đòn bẩy kinh tế: Nhân tố này cho phép doanh
nghiệp khai thác một cách tối đa tiềm năng về lao động, tạo điều kiện cho mọi
người mọi khâu và bộ phận phát huy đầy đủ quyền chủ động sáng tạo trong sản
xuất và kinh doanh.
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
2.5. Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh.
(PGS. PTS Phạm Hữu Huy, 1998)
Chỉ tiêu Công thức tính
Nhóm chỉ tiêu đánh
giá hiệu quả xử dụng
lao động
Năng suất lao động Doanh thu tiêu thụ sản phẩm trong kỳ
Tổng số lao động bình quân trong kỳ
Kế quả sản xuất trên
một đồng chi phí tiền
lương
Doanh thu tiêu thụ sản phẩm trong kỳ
Vốn lưu động bình quân trong kỳ
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Số ngày luân chuyển 365 ngày
Số vòng quay vốn lưu động
Hệ số đảm nhiệm của
vốn
Vốn lưu động bình quân trong kỳ
Doanh thu tiêu thụ ( trừ thuế)
Nhóm chỉ tiêu đánh
giá hiệu quả kinh tế
tổng hợp
Doanh thu trên 1 đồng
vốn sản xuất
Doanh thu tiêu thụ sản phẩm trong kỳ
Tổng chi phí sản xuất và tiêu thụ trong kỳ
Doanh thu trên 1 đồng
vốn sản xuất
Doanh thu tiêu thụ sản phẩm trong kỳ
Vốn kinh doanh bình quân trong kỳ
Doanh lợi theo chi phí Lợi nhuận trong kỳ
Tổng chi phí sản xuất và tiêu thụ trong kỳ
Doanh lợi theo vốn sản
xuất
Lợi nhuận trong kỳ
Vốn kinh doanh bình quân trong kỳ
Doanh lợi theo doanh
thu thuần
Lợi nhuận trong kỳ
Doanh thu tiêu thụ thuần
Kết luận: Qua chương 2 ta có thể thấy rõ hơn các quan điểm về hiệu quả kinh
Quảng Ninh đến Nghệ An, cho đến TP Hồ Chí Minh, uy tín của Công ty ngày
một nâng cao trên thị trường.
Trong năm qua, bằng nội lực phấn đấu, bằng ý chí và quyết tâm của Ban
giám đốc cùng toàn thể CBCNV trong Công ty, mặc dù năm 2008 thị trường có
nhiều biến động, giá thuốc của một số hãng tăng cao, song Công ty đã đạt được
những kết quả đáng khích lệ, điều đó được thông qua bảng “Tình hình thực
hiện một số chỉ tiêu kinh doanh chủ yếu của Công ty Dược Hải Phòng”, cụ thể
như sau:
1. Chỉ tiêu về sản lượng.
Chỉ tiêu
Đơn vị
tính
Thực hiện Chênh lệch
tuyệt đối
So sánh
tương
Năm 2008 Năm 2009
Mặt hàng Công ty sản Lọ 145,000,000 149,565,000 4,565,000 103.15
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
xuất
Mặt hàng Mỹ phẩm Tuýp 98,000,000 102,000,000 4,000,000 104.08
Tổng cộng 243,000,000 251,565,000 8,565,000 103.52
Là một chỉ tiêu kinh tế quan trọng, phản ánh rõ nét tình hình sản xuất kinh
doanh của doanhnghiệp qua một số năm.
Năm 2008 là: 243.000.000 Lọ
Năm 2009 là: 251.565.000 Tuýp
Giá trị sản lượng của Công ty năm 2009 tăng so với năm 2008 số tuyệt đối
là 8.565.000 và số tương đối là 103,52%. Điều đó nói lên sự tăng trưởng kinh
tế của Công ty là rất lớn.
- Công ty đã mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh, mở rộng thị trường
thị trường. Mặt khác cần phải mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh, chuyển
hướng đầu tư thêm các ngành nghề mới để đảm bảo cho sản xuất kinh doanh
được liên tục, cần phải quan tâm đến đời sống của cán bộ công nhân viên trong
Công ty và người lao động, tăng cường khuyến khích bằng lợi ích vật chất để
họ yên tâm công tác và phục vụ lâu dài cho Công ty.
a, Sản lượng về mặt hàng sản xuất của Công ty:
- Sản lượng về mặt hàng do Công ty sản xuất năm 2008 là: 145.000.000 lọ
- Sản lượng về mặt hàng do Công ty sản xuất năm 2009 là: 149.565.000 lọ
Qua số liệu trên ta thấy tổng sản lượng của mặt hàng do Công ty sản xuất
năm 2008 tăng một lượng tuyệt đối so với năm 2009 là 4.565.000 lọ và số
tương đối là 103,15%. Đây là dấu hiệu khả quan cho tình hình sản xuất kinh
doanh của Công ty. Những nguyên nhân làm tăng là:
-Công ty đã hoàn thành việc đầu tư lắp ráp dây chuyền sản xuất thuốc và
khu nhà xưởng mới ở Kiến An - Hải Phòng nên đã tăng rõ rệt năng suất và sản
lượng mặt hàng thuốc của công ty. Với khu nhà xưởng mới hoàn thành, công ty
đã tăng đáng kể năng suất lao động, giảm số giờ nghỉ không sản xuất cũng như
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
tiết kiệm được những chi phí phát sinh trước đây khi phải sử dụng hệ thống
máy móc thiết bị cũ, lạc hậu.
-Công ty đã tăng cường công tác điều tra nghiên cứu thị trường để có
những chính sách phù hợp về giá và lựa chọn những mặt hàng có tính mũi
nhọn, đột phá đáp ứng nhu cầu của thị trường trong nước, đảm bảo cung cấp
cho thị trường những mặt hàng thuốc đảm bảo chất lượng với giá cả hợp lý.
-Hiện nay Bộ Y tế đã đồng ý cho các doanh nghiệp tự quyết định giá thuốc
(nhưng phải niêm yết công khai giá), nên công ty đã kịp thời có những chính
sách điều chỉnh giá linh hoạt, có chế độ khuyến mãi, thưởng cho các đại lý nên
đã mở rộng được mạng lưới bán hàng đồng thời thúc đẩy sự năng động của các
đại lý và các trình dược viên trong quá trình giới thiệu, tư vấn, bán và hướng
dẫn sử dụng thuốc.
-Một nguyên nhân khách quan nữa làm tăng sản lượng mặt hàng thuốc do