Bài tập nhóm môn: KINH TẾ TÀI CHÍNH
Học viên: Lưu Vũ Nam
Đề tài: Kế toán trong các tập đoàn kinh tế - khuynh hướng thế giới
và tại Việt Nam
1. TÌM HIỂU CHUNG VỀ TẬP ĐOÀN KINH TẾ
Tập đoàn kinh tế bao gồm nhóm các công ty có quy mô lớn, có tư cách
pháp nhân độc lập, được hình thành trên cơ sở tập hợp, liên kết thông qua
đầu tư, góp vốn, sáp nhập, mua lại, tổ chức lại hoặc các hình thức liên kết
khác; gắn bó lâu dài với nhau về lợi ích kinh tế, công nghệ, thị trường và các
dịch vụ kinh doanh khác tạo thành tổ hợp kinh doanh có từ hai cấp doanh
nghiệp trở lên dưới hình thức công ty mẹ - công ty con.
Tập đoàn kinh tế không có tư cách pháp nhân, không phải đăng ký
kinh doanh theo quy định của Luật Doanh nghiệp. Việc tổ chức hoạt động
của tập đoàn do các công ty lập thành tập đoàn tự thỏa thuận quyết định.
Công ty mẹ được tổ chức dưới hình thức công ty cổ phần hoặc công ty
trách nhiệm hữu hạn, đáp ứng điều kiện nêu tại khoản 15 Điều 4 của Luật
Doanh nghiệp. Công ty con được tổ chức dưới hình thức công ty cổ phần
hoặc công ty trách nhiệm hữu hạn theo quy định của Luật Doanh nghiệp
hoặc của pháp luật liên quan.
Công ty mẹ, công ty con và các công ty khác hợp thành tập đoàn kinh
tế có các quyền, nghĩa vụ, cơ cấu tổ chức quản lý và hoạt động phù hợp với
hình thức tổ chức doanh nghiệp theo quy định của Luật Doanh nghiệp, pháp
luật liên quan và Điều lệ công ty.
2. TẬP ĐOÀN KINH TẾ NHÀ NƯỚC VÀ THỰC TRẠNG HOẠT
ĐỘNG
Ngày 07/03/1994 Thủ tướng Chính phủ đã có quyết định số 90 và 91
thành lập các Tổng công ty nhà nước, đến năm 2005 thì một số Tổng công ty
được tổ chức thành tập đoàn kinh tế. Đến năm 2011 có 13 tập đoàn kinh tế
và 96 Tổng Công ty nhà nước hoạt động theo mô hình công ty mẹ - con.
Danh sách các tập đoàn kinh tế Việt Nam cho đến năm 2011 có:
• Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT)
* Thực trạng hoạt động
Tám tập đoàn kinh tế cùng với 96 tổng công ty, công ty lớn của Nhà
nước sở hữu gần 400.000 tỉ đồng, chiếm hầu hết vốn của Nhà nước có tại
các doanh nghiệp nhà nước. Các tập đoàn và tổng công ty đang nắm giữ
75% tài sản cố định của quốc gia, khoảng 60% tổng tín dụng ngân hàng
trong nước và tổng vốn vay nước ngoài nhưng chỉ tạo ra khoảng 40% tổng
sản phẩm trong nước, tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu của các đơn vị
này là 17%, 28,8% thu ngân sách. Tính đến cuối năm 2007, tổng số vốn chủ
sở hữu của các tập đoàn và tổng công ty đã tăng 18%, tổng tài sản tăng 26%.
Có nhiều số liệu khác nhau và nhiều cách nhìn nhận khác nhau về tỷ lệ
nợ vay trên vốn chủ sở hữu của các doanh nghiệp nhà nước mà các tập đoàn
kinh tế nhà nước và các Tổng công ty nhà nước là các chủ thể chiếm tỷ trọng
tuyệt đối về vốn.
Tỷ lệ nợ phải trả 8 tập đoàn kinh tế cùng với 96 tổng công ty, công ty
lớn của Nhà nước lên đến 1,36 lần, tính đến cuối năm 2007 và nợ của các
tập đoàn kinh tế vẫn trong vòng kiểm soát
[7]
Tỷ lệ nợ vay trên vốn chủ sở hữu của các doanh nghiệp nhà nước rất
cao, cá biệt lên đến 42 lần trên vốn của chủ sở hữu. So với mức tỷ lệ nợ vay
trên vốn chủ sở hữu của các tập đoàn kinh tế quốc tế là chỉ từ 1 đến 3 lần thì
tỷ lệ nợ vay/vốn chủ sở hữu của các tập đoàn kinh tế Việt Nam nếu được
công bố sẽ khiến "thế giới phải giật mình", có đại biểu quốc hội đặt nghi vấn
cho rằng nguyên nhân của việc thiếu rõ ràng trong bảo lãnh tín dụng, độc
quyền, khó kiểm soát nợ của doanh nghiệp nhà nước, các tập đoàn kinh tế,
Tổng công ty nhà nước có gốc gác từ lợi ích cục bộ, lợi ích nhóm.
Hoạt động yếu kém, sử dụng quá nhiều nguồn lực, được quá nhiều ưu
ái, ưu đãi kể cả lúc kinh tế đất nước gặp nhiều khó khăn, cạnh tranh không
bình đẳng, không làm tròn vai trò nòng cốt của nền kinh tế thậm chí đã trở
thành là gánh nặng của nền kinh tế, lũng đoạn thông qua quan hệ, coi trọng
lợi ích nhóm, các tập đoàn kinh tế được xem là một trong những nguyên
tâm (đơn vị kế toán cấp trên), còn ở các đơn vị kế toán cấp cơ sở đều có tổ
chức kế toán riêng (đơn vị kế toán cơ sở). Công việc kế toán của doanh
nghiệp được phân công như sau:
Phòng kế toán trung tâm có nhiệm vụ: Thực hiện các phần công việc kế
toán phát sinh ở đơn vị kế toán cấp trên và công tác tài chính của doanh
nghiệp. Hướng dẫn và kiểm tra công tác kế toán ở các đơn vị cấp cơ sở; Thu
nhận, kiểm tra báo cáo tài chính (BCTC) của các đơn vị cơ sở gửi lên và
cùng với BCTC ở đơn vị cấp trên để lập BCTC toàn doanh nghiệp.
Ở các đơn vi kế toán cấp cơ sở: Thực hiện công tác kế toán ở đơn vị
cấp cơ sở, tổ chức thu nhận, xử lý và hệ thống hoá toàn bộ thông tin kế toán
ở đơn vị để lập được các BCTC định kỳ gửi về phòng kế toán trung tâm.
- Hình thức 3: Tổ chức kế toán vùa tập trung, vừa phân tán: Theo hình
thức tổ chức công tác kế toán này, ở đơn vị kế toán cấp cở thực hiện một số
phần hành kế toán theo phân cấp và định kỳ lập BCTC, hoặc báo cáo phần
hành nghiệp vụ gửi về phòng kế toán trung tâm, cùng chứng từ kế toán.
Ở các TĐKT với quy mô lớn, có nhiều đơn vị thành viên và trực thuộc
nên thực hiện hình thức tổ chức công tác kế toán và phân tán như sau:
Cấp 1: Bộ phận kế toán tại trung tâm kế toán (gọi là kế toán tại ngành):
Tại trung tâm của tập đoàn có bộ máy làm nhiệm vụ kế toán, lập BCTC, lập
BC kế toán quản trị; báo cáo chi phí sản xuất theo yếu tố; doanh thu, chi phí,
lãi lỗ của từng sản phẩm,
Cấp 2: Bộ phận kế toán tại các đơn vị thành viên và trực thuộc TĐ. Đối
với các đơn vị thành viên (ĐVTV) là các công ty trách nhiệm hữu hạn
(TNHH) một thành viên do TĐ nắm giữ 100% vốn điều lệ, các công ty cổ
phần (CTCP) do TĐ nắm giữ cổ phần chi phối, các công ty liên kết với TĐ
là các đơn vị có tổ chức bộ máy kế toán riêng. Các đơn vị thực hiện lập
BCTC hợp nhất của công ty. Riêng đối với các Tổng công ty hoạt động theo
mô hình công ty me – công ty con thì tổng công ty phải lập BCTC của công
ty mẹ và BCTC hợp nhất, các ĐVTV lập báo cáo KTQT. Các đơn vị trực
thuộc tập đoàn thực hiện tổ chức bộ máy kế toán riêng và thực hiện lập
Để xây dựng và vận hành thành công được chương trình phần mềm kế
toán, một trong những yếu tố rất quan trọng là các TĐKT phải chuẩn hoá hệ
thống TKKT và các TKKT được mã hoá. hệ thống TKKT được áp dụng
thống nhất cho Cty mẹ và các Cty thành viên và phụ thuộc của TĐ và được
thống nhất từ đơn vị cấp 1 đến đơn vị cấp 2,3,4 của toàn TĐ. Cần quy định
rõ những TKKT do nhà nước quy định, TKKT do TĐ mở thêm. TĐKT có
thể đưa ra tài khoản cấp cụ thể của từng loại tài khoản theo yêu cầu của quản
lý nhưng không quá 24 số.
Hệ thống báo cáo tài chính
Xây dựng một hệ thống mẫu BCTC để áp dụng thống nhất cho Cty mẹ
và các ĐVTV, trực thuộc làm cơ sở cho việc thiết lâp một chương trình kế
toán chuẩn hoá từ Cty mẹ đến Cty con và các đơn vị liên kết. BCTC cung
cấp thông tin về tình hình tài chính, tình hình kinh doanh và các luồng tiền
của đơn vị, đáp ứng yêu cầu quản lý của đơn vị và của TĐ, cơ quan nhà
nước và nhu cầu hữu ích của những người sử dụng trong việc ra các quyết
định kinh tế. BCTC cung cấp thông tin về tài sản, nợ phải trả và vốn chủ sở
hữu, Doanh thu, thu nhập khác, chi phí kinh doanh và chi phí khác; lãi lỗ và
phân chia KQKD; Thuế và các khoản nộp nhà nước; Tài sản có liên quan
đến đơn vị kế toán; các luồng tiền. Ngoài ra, trong bản thuyết minh BCTC
giải trình thêm về các chỉ tiêu đã phản ánh trên các BCTC tổng hợp và các
chính sách kế toán đã áp dụng để ghi nhận các nghiệp vụ kinh tế phát sinh,
lập và trình bày BCTC.
Hệ thống BCTC năm áp dụng cho các TĐ, các ĐVTV và phụ thuộc.
TĐ lập BCTC hợp nhất phải tuân thủ quy định tại CMKT số 25 – “BCTC
hợp nhất và kế toán đầu tư vào Cty con”. Hệ thống BCTC gồm BCTC năm
và BCTC giữa niên độ, cụ thể:
BCTC gồm: Bảng CĐKT; báo cáo kết quả HĐKD; Báo cáo lưu chuyển
tiền tệ; Bản thuyết minh BCTC. BCTC giữa niên độ: Để thuận tiện trong
việc thiết lập phần mềm kế toán và thống nhất trong các kỳ kế toán và luỹ kế
cả năm, các TĐKT nên quy định thống nhất báo cáo quy; Bảng CĐKT; Báo
được tách rời đối với công tác kế toán thống kê. Tại các hãng này, quản trị
tài chính là tổng hợp, phân tích, đánh giá thực trạng về tài chính và đưa ra
những quyết định về mặt tài chính ngắn hạn cũng như dài hạn của doanh
nghiệp.
Bộ phận quản trị tài chính trong các doanh nghiệp Mỹ và châu Âu dựa
vào các báo cáo kế toán, báo cáo doanh thu, chi phí, báo cáo nhân sự và tiền
lượng, do các bộ phận kế toán tài chính, kế toán quản trị, thống kê cung
cấp, kết hợp với những yếu tố khách quan để tiến hành phân loại, tổng, hợp,
phân tích và đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp, so sánh kế quả
phân loại của kỳ này với kỳ trước của doanh nghiệp mình với các doanh
nghiệp cùng ngành, lĩnh vực sản xuất, so sánh với các chuẩn mực của ngành.
Bằng các chỉ tiêu và sự nhạy bén mà bộ phận quản trị tài chính có thể
chỉ ra những mặt mạnh cũng như những thiếu sót của doanh nghiệp trong
kỳ. Ngoài ra, bộ phận quản trị tài chính còn giúp giám đốc hoạch định chiến
lược tài chính ngắn và dài hạn của doanh nghiệp dựa trên sự đánh giá tổng
quát cũng như từng khía cạnh cụ thể các nhân tố tài chính có ảnh hưởng
quan trọng tới sự tồn tại của doanh nghiệp, bao gồm: chiến lược tham gia
vào thị trường tiền tệ, thị trường vốn, thị trường chứng khoán; xác định
chiến lược tài chính cho các chương trình, các dự án của doanh nghiệp là mở
rộng hay thu hẹp sản xuất Thông qua đó, đánh giá, dự đoán có hiệu quả
các dự án đầu tư, các hoạt động liên doanh liên kết, phát hiện âm mưu thôn
tính doanh nghiệp của các đối tác cạnh tranh; đề xuất phương án chia tách
hay sáp nhập
Nhu cầu vốn sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp luôn có những biến
động nhất định trong từng thời kỳ. Vì vậy, một trong những nhiệm vụ quan
trọng của quản trị tài chính là xem xét, lựa chọn cơ cấu vốn sử dụng sao cho
tiết kiệm, hiệu quả nhất:
- Quản trị tài chính trong doanh nghiệp phải tiến hành phân tích và đưa
ra một cơ cấu nguồn vốn huy động tối ưu cho doanh nghiệp trong từng thời
kỳ.
tạo ra một “khoảng trống về quản trị tài chính” trong các doanh nghiệp Việt
Nam hiện nay. Nguyên nhân cơ bản của tình trạng trên là sự nhầm lẫn chức
năng giữa bộ phận kế toán và bộ phận tài chính doanh nghiệp, không chỉ có
trong nhận thức của các chủ doanh nghiệp mà cả trong tư duy của không ít
nhà làm luật. Chẳng hạn, cho đến nay, trong hệ thống văn bản pháp quy về
kế toán chưa có một văn bản nào quy định về giám đốc tài chính.
Trong một số công ty liên doanh, khi tồn tại song song hai chức danh
giám đốc tài chính và kế toán trưởng, nếu giám đốc tài chính là người nước
ngoài và kế toán trưởng là người Việt Nam thì thông thường kế toán trưởng
chỉ tồn tại trên hình thức.
Như vậy, có thể nói để có thể phát triển, tình hình tài chính ổn định thì
các doanh nghiệp cần:
- Phân định rõ ràng chức năng của giám đốc tài chính và kế toán trưởng
như là một bộ phận quản trị tài chính và bộ phận kế toán trong doanh
nghiệp;
- Tổ chức bộ phận quản trị tài chính doanh nghiệp do giám đốc tài
chính đứng đầu theo một cơ cấu thống nhất giữa các doanh nghiệp;
- Có sự phối hợp chặt chẽ hơn mối quan hệ mật thiết giữa bộ phận quản
trị tài chính doanh nghiệp với các phòng ban chức năng khác, đặc biệt là tạo
ra mối quan hệ chặt chẽ giữa bộ phận quản trị tài chính, giám đốc tài chính
với giám đốc, tổng giám đốc hay hội đồng quản trị của doanh nghiệp.
Đó là những việc làm cấp thiết giúp cho các doanh nghiệp Việt Nam
phát triển nhanh hơn, tăng thêm khả năng hội nhập kinh tế thế giới. Một
doanh nghiệp phát triển và thành công trong kinh doanh bao giờ cũng phải đi
kèm với tình hình tài chính vững mạnh và hiệu quả.