MỤC LỤC
1
1 THU THẬP SỐ LIỆU VỀ TRỮ LƯỢNG TIỀM NĂNG, SẢN LƯỢNG KHAI THÁC, TIÊU
THỤ, XUẤT, NHẬP KHẨU CỦA DẦU MỎ VÀ KHÍ THIÊN NHIÊN TRONG GIAI ĐOẠN
1980-2012.
1.1 Trữ lượng tiềm năng của dầu mỏ và khí thiên nhiên
Bảng 1 : Trữ lượng Dầu thô tiềm năng
Bảng 2: Trữ lượng Khí thiên nhiên tiềm năng
1.2 Sản lượng tiêu thụ, xuất, nhập khẩu của dầu mỏ và khí thiên nhiên
Bảng 3 : Tổng tiêu thụ dầu
Bảng 4 : Lượng tiêu thụ Khí khô
Bảng 5: Tổng xuất khẩu dầu
2
Bảng 6: Lượng xuất khẩu bao gồm cả Dầu ngưng tụ
Bảng 7: Tổng nhập khẩu Dầu
1.3 Sản lượng khai thác của dầu mỏ và khí thiên nhiên.
Bảng 8: Tổng cung dầu
Bảng 9: Lượng cung Dầu và các sản phẩm từ Dầu
Bảng 10: Tổng cung khí
Bảng 11 : Lượng cung khí thương mại
3
2 PHÂN TÍCH NHU CẦU TIÊU THỤ, XUẤT NHẬP KHẨU, TÌNH HÌNH KHAI THÁC DẦU MỎ
VÀ KHÍ THIÊN NHIÊN CỦA VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN 1980-2012.
2.1 Tiềm năng dầu mỏ và khí thiên nhiên tại Việt Nam
Bảng : Các mỏ dầu đang được khai thác của Việt Nam
Tên mỏ Lô hợp đồng Nhà thầu
Năm bắt đầu khai
thác
Bạch Hổ 09-1 Vietsovpetro 1986
Nam Bạch Hổ 09-1 Vietsovpetro 2011
Rồng 09-1 Vietsovpetro 1994
Đông Đô LSJOC 2013
Sông Đốc 46-02 TSJOC 2008
Cendor PM304 Petrofac 2006
4
Dầu khí là một trong những nguồn tài nguyên quan trọng nhất trên vùng biển và thềm lục địa Việt
Nam. Công tác tìm kiếm thăm dò dầu khí ở Việt Nam được bắt đầu từ đầu những năm 60, nhưng hoạt động
tìm kiếm thăm dò chỉ thực sự được triển khai mạnh mẽ và sôi động từ khi Luật Đầu tư nước ngoài ở Việt
Nam được ban hành (1987). Công tác tìm kiếm thăm dò dầu khí được tiến hành ở cả vùng nước nông và
vùng nước sâu, xa bờ. Đến nay hiện có 61 hợp đồng dầu khí đang hoạt động trên 140 lô, trong đó 47 hợp
đồng ở giai đoạn thăm dò và thẩm lượng. Các lô hợp đồng chủ yếu ở vùng thềm lục địa đến 200m nước.
Hiện số lô mở không còn nhiều và chủ yếu nằm ở vùng ít/chưa rõ triển vọng, vùng nước sâu. Khối lượng
công tác thăm dò, khai thác dầu khí đã thực hiện trên toàn bộ vùng biển và thềm lục địa Việt Nam là khá lớn
với khoảng trên 300.000km tuyến khảo sát địa chấn 2D; 40.000km2 khảo sát địa chấn 3D và trên 1.000
giếng khoan.
Kết quả công tác tìm kiếm thăm dò dầu khí đã xác định được các bể/cụm bể trầm tích có triển vọng
dầu khí: Sông Hồng, Phú Khánh, Hoàng Sa, Cửu Long, Nam Côn Sơn, Trường Sa-Tư Chính-Vũng Mây,
Malay-Thổ Chu và Phú Quốc, trong đó các bể: Sông Hồng, Cửu Long, Nam Côn Sơn và Malay-Thổ Chu đã
phát hiện và đang khai thác dầu khí. Tuy nhiên do đặc điểm địa chất dầu khí khác nhau nên tiềm năng cũng
như các đặc trưng chính về dầu khí đã phát hiện của các bể cũng khác nhau, cụ thể như sau:
• Bể Sông Hồng: Phát hiện cả dầu và khí, trong đó mỏ khí Tiền Hải “C” ở đồng bằng sông Hồng
(miền võng Hà Nội) đang được khai thác.
• Bể Cửu Long: Chủ yếu phát hiện dầu, hiện có 12 mỏ đang khai thác (Bạch Hổ, Rồng, Đồi Mồi,
Rạng Đông, Phương Đông, Hồng Ngọc, Pearl, Topaz, Sư Tử Đen, Sư Tử Vàng, Tê Giác Trắng,
Cá Ngừ Vàng). Đây là bể chứa dầu chủ yếu ở thềm lục địa Việt Nam.
• Bể Nam Côn Sơn: Phát hiện cả dầu và khí, hiện có 4 mỏ đang khai thác là các mỏ dầu Đại Hùng,
Chim Sáo, mỏ khí Lan Tây và mỏ khí – condensate Rồng Đôi-Rồng Đôi Tây; ngoài ra đang
chuẩn bị khai thác mỏ khí Hải Thạch – Mộc Tinh.
• Bể Malay- Thổ Chu: Phát hiện cả dầu và khí, hiện có mỏ dầu Sông Đốc và một số mỏ dầu-khí ở
vùng chồng lấn giữa Việt Nam và Malaysia đang được khai thác (Bunga Kekwa-Cái Nước,
Bunga Raya, Bunga Seroja).
lượng làm cơ sở cho việc quy hoạch khai thác dầu khí hợp lý và hiệu quả. Đồng thời cần đầu tư nghiên cứu
tìm các giải pháp để khai thác các mỏ nhỏ, mỏ khí có hàm lượng CO2 cao; phối hợp với các nhà thầu nghiên
cứu áp dụng các giải pháp công nghệ tiên tiến để nâng cao khả năng thu hồi dầu tại các mỏ đang khai thác.
Điều này có ý nghĩa kinh tế rất lớn trong điều kiện suy giảm sản lượng ở các mỏ dầu khí đang khai thác và
việc phát hiện các mỏ mới, mỏ có trữ lượng lớn và trung bình ngày càng khó khăn. Chính phủ cũng cần xem
xét sửa đổi, ban hành chính sách ưu đãi cho các dự án đầu tư thăm dò ở những vùng mới, vùng nước sâu, xa
bờ.
Theo EIA, trữ lượng dầu thô đã được chứng minh tính đến năm 2012 là 4.4 tỷ thùng, trữ lượng khí
thiên nhiên đã được chứng minh là 24.7 nghìn tỷ feet khối. Từ đó có thể thấy được tiềm năng dầu mỏ và khí
thiên nhiên của Việt Nam là rất lớn.
2.2 Quá trình khai thác dầu và khí thiên nhiên
Phần lớn nguồn dầu thô thường nằm ở độ sâu khoảng từ 200-7000 mét, bị chôn vùi dưới lớp đất đá
dày. Những nhà địa chất học trước tiên sẽ nghiên cứu những chi tiết bề mặt và bản đồ địa chất, sau đó, họ sử
dụng một thiết bị được gọi là trọng lực kế (gravity meter) để tìm ra những dao động trọng lực thoáng qua, từ
đó tìm ra một dòng dầu chảy ngầm dưới đất. Những lớp trầm tích ở trên nguồn dầu thô sẽ làm thay đổi từ
trường của Trái đất. Bằng cách sử dụng thiết bị nhận cảm từ trường (sensitive magnetic survey equipment),
tàu thăm dò có thể đi qua vùng biển nào đó và định vị chính xác những vùng từ trường bất thường. Những
6
số liệu này sẽ giúp họ tìm ra những dấu hiệu chỉ điểm cho nguồn dầu phía dưới. Không chỉ vậy, những nhà
địa chất học còn có thể phát hiện ra những nguồn dầu mỏ thông qua việc sử dụng thiết bị khảo sát địa chấn,
hay còn có tên gọi khác là phương pháp "bật lửa" (sparking). Những sóng siêu âm sẽ được được "bắn"
xuyên lòng đại dương qua nhiều lớp đất đá khác nhau. Với mỗi loại đá, những sóng này sẽ di chuyển với
những vận tốc khác nhau, và sự thay đổi vận tốc này sẽ trở thành tín hiệu gửi về bộ phận nhận cảm gắn bên
cạnh thuyền do thám. Cùng với sự trợ giúp của các thiết bị máy móc, những nhà nghiên cứu địa chấn có thể
phân tích thông tin để tìm ra những mỏ dầu tiềm năng.
Nhưng trên hết, để phát hiện ra một mỏ dầu, bạn vẫn phải tiến hành những mũi khoan thăm dò, nếu
như bạn muốn biết chắc rằng mỏ dầu này có thực sự đáng khai thác hay không. Để làm việc này, những
công ty khai thác dầu sử dụng những dàn khoan di động. Có những dàn khoan được gắn trực tiếp vào
thuyền, tuy nhiên phần lớn những dàn khoan này phải được vận chuyển đến từ những tàu chuyên chở khác.
Dàn khoan di động này trước tiên sẽ khoan bốn lỗ thăm dò tại vị trí nghi ngờ, mỗi lỗ mất 2 đến 3 tháng để
xuống. Tiếp theo, những mũi khoan với đường kính khoảng 30 cm sẽ khoan sâu hơn xuống, và sau đó quy
trình lại được lặp lại: các mũi khoan được tháo ra, và những ống dẫn được lắp vào. Cứ như vậy, những mũi
khoan nhỏ hơn, khoan được sâu hơn sẽ tiếp tục thay thế và khoan sâu xuống, những đường ống bảo vệ liên
tục được lắp ráp vào. Trong suốt quá trình này, 1 thiết bị được gọi là "packer" sẽ đi theo những mũi khoan
xuống, để đảm bảo rằng mọi thứ đều được gia cố vững chắc.
Khi những mũi khoan cuối cùng đã chạm xuống đến mỏ dầu, ống dẫn sản xuất sẽ được gắn vào đó.
Hệ thống ống dẫn này sẽ được phân lập riêng ra trong một vỏ bọc rắn, từ đó cô lập giếng này với những
giếng lân cận. Điều này có vẻ hơi bất thường, khi bạn khóa mỏ vàng lại vào lúc mà bạn vừa chạm vào nó,
nhưng mục đích của việc này không chỉ là ngăn chặn dầu và ga trào ngược ra ngoài, mà còn là điều khiển
dòng chảy của những sản phẩm này. Những kỹ sư sau đó sẽ đưa chất nổ xuống để đục thủng ống dẫn ở
những độ sâu khác nhau, từ đó giúp cho dầu và ga thoát ra với áp suất nhẹ nhàng hơn rất nhiều.
Tiếp đó, những kỹ sư sẽ cần phải thiết kế một lực đẩy giúp bơm dầu lên trên. Họ quyết định sử dụng
nước hoặc ga, bơm chúng xuống giếng dầu, từ đó tăng áp lực trong mỏ dầu lên và dầu có thể được hút lên
mặt nước. Trong một số trường hợp, khí nén hoặc hơi nước được bơm xuống để hâm nóng lượng dầu trong
giếng, qua đó tăng cường áp suất giúp cho việc bơm dầu lên trở nên dễ dàng hơn.
Những gì họ hút ra được từ các giếng dầu này không phải là sản phẩm tinh khiết. Chúng là một hỗn
hợp bao gồm dầu thô, khí ga, hơi nước và các lớp cặn trầm tích. Thường thì việc lọc dầu được tiến hành trên
đất liền, tuy nhiên, đôi khi những công ty khai thác dầu cải tiến những tàu chở dầu để xử lý và lưu trữ dầu
ngay tại biển. Quá trình này giúp lọc bớt những chất cặn để sau đó việc lọc và tinh chế dầu được thuận tiện
hơn.
Cuối cùng thì, giếng dầu cũng sẽ có lúc phải cạn sạch. Khi đó, những kỹ sư sẽ tìm cách tháo bỏ dàn
khoan, với thuốc nổ nếu như cần thiết, sau đó tìm đến những mỏ dầu khác, hoặc quay về đất liền để sửa
chữa và nâng cấp. Những ống dẫn dầu sẽ được cắt bỏ và được đóng kín lại bằng bê tông. Tuy nhiên, trong
một số trường hợp, một phần của dàn khoan sẽ được để lại, và dần dần bị ăn mòn bởi nước biển.
2.3 Nhu cầu tiêu thụ, tình hình xuất nhập khẩu dầu, khí thiên nhiên tại Việt Nam trong giai đoạn
1980-2012.
2.3.1 Nhu cầu tiêu thụ và tình hình xuất, nhập khẩu dầu mỏ ở Việt Nam trong giai đoạn 1980-2012
Quan sát biểu đồ ta thấy sự tăng liên tục của tiêu thụ dầu mỏ, đặc biệt trong giai đoạn 1992-2011
(tăng 498,36%). Từ đó càng cho biết nhu cầu sử dụng các sản phẩm từ dầu mỏ ngày càng tăng, không chỉ
trong ngắn hạn mà cả trong dài hạn do sự bùng nổ dân số, các ngành công nghiệp tiếp tục phát triển, đặc biệt
như khi thăm dò.
Riêng năm 2009, sản lượng khai thác tăng là thành quả của việc chuẩn bị từ năm 2004-2005 khi VN
thực hiện việc đấu thầu giấy phép khai thác lần đầu tiên. Điều quan trọng trong cuộc đấu thầu này là các
công ty nước ngoài đã được mời tham gia khai thác mỏ Sông Hồng, khu vực trước nay vẫn nằm trong danh
sách hạn chế. Những phát triển vào thời gian này trong hoạt động khai khoáng ở tại và xung quanh khu vực
nước sâu Bể Phú Khánh và bằng chứng tìm được ở Cá Rồng đỏ cho thấy Nam Côn Sơn có tiềm năng về dầu
thô đã làm cho ngành khai thác dầu thô sôi nổi trở lại. Ngoài ra, sự gia tăng của các công ty dầu khí tự do
trong lĩnh vực khai thác và sản xuất tại Việt Nam đã đẩy mạnh sự phát triển vượt bậc của ngành dầu khí năm
2009. Tập đoàn PVN cũng đưa 3 mỏ mới vào khai thác Bunga-Orkid vào 25/3/2009, Nam Rồng-Đồi Mồi,
Đông Rồng 39/12/2009. Sản lượng tăng cao đầu năm 2009 sau đó giảm dần qua các tháng cho thấy tác động
rõ rệt của cuộc suy thoái kinh tế. Việc tăng nguồn cung đầu năm cũng một phần nhằm đáp ứng nguồn cung
cho nhà máy lọc dầu dung quất đang đưa vào hoạt động.
Năm 2010, sản lượng khai thác thấp cho thấy nền kinh tế chưa có dấu hiệu hồi phục và mỏ dầu lớn
nhất, đem lại nguồn cung chủ yếu cho đất nước là mỏ Rồng và Bạch Hổ đang cạn kiệt nhanh chóng và việc
khai thác các mỏ mới vẫn đang nằm trong dự án chưa đưa vào khai thác kịp thời trong năm 2010.
9
2.4.2 Tình hình khai thác khí thiên nhiên từ năm 1980-2012
Mặc dù nền công nghiệp khai thác và chế biến khí của việt nam còn khá non trẻ, song cũng đã đi vào
hoạt động ổn định. Sản phẩm của các nhà máy chế biến khí của Việt Nam hiện nay là khí khô thương phẩm,
LPG và condensate. Trong đó có hai loại sản phẩm LPG và Condensate đã được tận dụng triệt để mang lại
hiệu quả kinh tế mang lại hiệu quả kinh tế cho quốc gia. Sản phẩm khí khô thương phẩm mà thành phần chủ
yếu là khí metan và etan chỉ dùng làm nhiên liệu cho các nhà máy điện với giá trị kinh tế thấp. Trong khi đó,
trên thế giới người ta đã tận thu khí khô thương phẩm để sử dụng làm nguyên liệu cho ngành công nghiệp
hóa dầu dể sản xuất ra hàng loạt sản phẩm mang lại hiệu quả kinh tế cao. Vì vậy định hướng cho ngành công
nghiệp hóa dầu là một hướng đi đúng, phù hợp vói xu hướng thế giới và tiềm năng khí Việt Nam.
Thị trường khí Việt Nam chủ yếu tập trung ở phía Nam. Thị trường khí miền Bắc và miền Trung có
tiềm năng, nhưng hiện nay mới chỉ vận hành mỏ Tiền Hải với công suất 16mmcm mỗi năm. Sản lượng khí
thiên nhiên khai thác từ năm 1995-2011 tăng, giảm thất thường.Sản lượng giảm vào năm 1997, 2007,2011,
tăng lên trong giai đoạn 1998-2009, 2008-2010. Đặc biệt tăng mạnh trong giai đoạn 2001-2006( tăng
324.24%) và 2009-2010 ( tăng 16.86%).
khí đốt là 66 lần (đứng đầu Châu Á - TBD và thứ 6 thế giới). Ngoài ra, khả năng khai thác dầu khí của Việt
Nam đã được nâng cấp, kể từ năm 2010, PVN đã có những mỏ được khai thác ở mức sâu hơn 200m so với
mực nước biển và trong những năm gần đây Việt Nam còn liên doanh khai thác dầu khí ở các quốc gia khác
như Cuba, Indonesia, Iran, Tuynidi, Myanmar, Lào, Campuchia, Công gô, Madagasca, Nga, Venezuela,
Algeria và Malaysia.
Điều này cho thấy tiềm năng phát triển của ngành dầu khí trong tương lai còn rất lớn. Và có thể thấy
rằng, Việt Nam sẽ tiếp tục tăng khai thác dầu mỏ và khí thiên nhiên trong thời gian tới để đáp ứng nhu cầu
tiêu thụ.
Về xuất khẩu dầu thô, theo PVN, việc tăng hay giảm xuất khẩu dầu thô phụ thuộc rất nhiều vào giá.
Ưu tiên hàng đầu của ngành dầu khí Việt Nam không phải là số lượng xuất khẩu mà cần tập trung phân tích
tình hình và nâng cao dự báo chính xác về thời điểm nhằm đẩy mạnh xuất khẩu đúng thời điểm có lợi nhất
để thu được giá trị lợi nhuận cao.
Về nhập khẩu dầu tinh chế, ngành dầu khí trong nước đang từng bước phát triển vững chắc. Nhà máy
lọc dầu Dung Quất sẽ tiến hành mở rộng quy mô nâng công suất lên 9,5 triệu tấn/năm và ứng dụng công
nghệ hóa dầu đầu tiên ở Việt Nam đáp ứng được khoảng 50% nhu cầu trong nước. Do đó có thể nhập khẩu
dầu tinh chế sẽ không tăng trong thời gian tới.
Về xuất nhập, khẩu khí tự nhiên và các sản phẩm khí tự nhiên : Việt Nam trong thời gian tới chưa thể
xuất khẩu khí thiên nhiên và các sản phẩm khí được do chưa đáp ứng được cầu nội địa. Nhưng Việt Nam sẽ
bắt đầu nhập khẩu khí thiên nhiên hóa lỏng LNG từ năm 2012 với sản lượng khoảng 1 triệu tấn/năm nhằm
đáp ứng nhu cầu sử dụng khí của nền kinh tế - xã hội.
Dự báo này được Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam (PVN) đưa ra trên cơ sở số liệu tính toán cân
đối cung cầu thị trường khí Việt Nam từ nay đến 2015; trong đó, lượng khí thiếu hụt trong cả giai đoạn đạt
mức 1,4 tỷ m3/năm, tương đương với 1 triệu tấn khí thiên nhiên hóa lỏng LNG.
Hiện Tổng Công ty khí Việt Nam (PV Gas) - đơn vị thành viên của PVN đang gấp rút đầu tư 500 triệu
USD để triển khai Dự án nhập khẩu LNG về Việt Nam nhằm đảm bảo nguồn cung cấp khí ổn định lâu dài,
đáp ứng nhu cầu tiêu thụ khí của nền kinh tế xã hội, nhất là nhu cầu sản xuất điện từ khí.
Theo đó, PV Gas đang chuẩn bị các điều kiện cần và đủ để xây dựng và vận hành kho cảng tiếp nhận
và phân phối LNG tại Thị Vải (Bà Rịa-Vũng Tàu) với công suất 1 triệu tấn LNG/năm, dự kiến đi vào hoạt
động từ 2013. Bên cạnh đó, để chuẩn bị cho hệ thống kho cảng trên bờ tiếp nhận LNG với công suất trên 3
11
Theo dự đoán của APEC, nhu cầu dầu thô của Việt Nam, từ 2010 đến 2025 là
Ta thấy từ năm giai đoạn 2005 – 2020, nhu cầu tiêu thụ dầu thô tăng tuyến tính khoảng 6 MTOE sau
mỗi 5 năm. Vì vậy có thể dự đoán rằng nhu cầu tiêu thụ dầu thô năm 2025 là vào khoảng 37 Mtoe. Do đặc
điểm của ngành công nghiệp dầu khí là vốn đầu tư lớn, thời gian thăm dò, xây dựng, khai thác cũng như
thay đổi quy trình công nghệ tương đối lớn, cần có những định hướng xây dựng mang tính chiến lược nên
thông thường khả năng khai thác dầu thô sẽ tăng theo dạng bậc thang qua mỗi giai đoạn. Dựa vào biểu đồ
trên, ta thấy, giai đoạn, 2005 – 2010 và 2015 đến 2020, sản lượng dầu thô khai thác tăng khoảng 6,2 Mtoe,
trong khi đó giai đoạn 2010 – 2015, khả năng khai thác lại thay đổi ko đáng kể. Như vậy, ta có thể kết luận
rằng năm giai đoạn 2020 – 2025, sẽ là giai đoạn chuẩn bị, để có những bước nhảy vọt về cả công nghệ lẫn
quy mô khai thác dầu thô cho giai đoạn sau. Chính vì vậy, giai đoạn này, sản lượng khai thác dầu thô sẽ ko
có nhiều thay đổi và sẽ được giữ ở mức 31 Mtoe.
Do dầu thô là loại nhiên liệu có vai trò vô cùng quan trọng trong đời sống và sản xuất. Mọi sự thay
đổi của nó đều có ảnh hưởng to lớn đến toàn bộ nền kinh tế. Chính vì thế, để đảm bảo nhu cầu tiêu thụ trong
nước, cũng như an ninh năng lượng, ta giả thiết rằng toàn bộ lượng dầu khai thác được đều phục vụ nhu cầu
tiêu thụ trong nước, và lượng dầu thô dư thừa mới được đem xuất khẩu. Như vậy, hệ số độc lập năng lượng
của dầu thô là
Nghìn
thùng/ngà
y
sản xuất tiêu thụ Hệ số độc
lập
13
2015 25.5 23.7 0.98
2020 30.5 32.2 0.95
2025 31 37 0.84
4.2.2 Ràng buộc về than
Với Việt Nam, than là một nguồn nhiên liệu sơ cấp quan trọng. Việt Nam có nguồn trữ lượng than vô
cùng dồi dào, đảm bảo đáp ứng đủ cho khai thác phục vụ tiêu dùng trong nước và xuất khẩu trong vòng ít
nhất là 200 năm tới. Theo Tập đoàn Công nghiệp Than Khoáng sản Việt Nam – VINACOMIN, trữ lượng
than Việt Nam rất lớn: Quảng Ninh khoảng 10,5 tỷ tấn trong đó đã tìm kiếm thăm dò 3,5 tỉ tấn, chủ yếu là
6
VND/ PJ cho giai đoạn từ năm 2010 đến 2015
4.4 Số liệu về dầu thô
4.4.1 Quá trình lọc dầu và chưng cất.
Năm 2011, dự án nhà máy lọc dầu dung quất với tổng vốn đầu tư lên tới hơn 3 tỷ USD được chính
thức đưa vào hoạt động, với công suất dự kiến 6,5 triệu tấn dầu thô/năm (1 tấn dầu thô = 40GJ) tương đương
260PJ/năm, và đến năm 2015 sẽ được nâng cấp lên 10 triệu tấn / năm. Cùng với đó, theo tập đoàn dầu khí
14
Việt Nam, thì đến năm 2013, nhà máy lọc dầu Nghi Sơn với công suất thiết kế là 8.4 triệu tấn dầu trong một
năm. Như vậy đến năm 2015, nước ta sẽ có khả năng lọc 18,4 triệu tấn dầu /năm. Năm 2020, dự án Nghi
Sơn đã bước vào giai đoạn 2, công suất nhà máy được nâng cấp lên thành 10 triệu tấn dầu/ năm. Đến năm
2025, nước ta ko có thêm bất kì dự án lọc dầu bổ sung nào. Như vậy giai đoạn 2020 – 2025, khả năng lọc
dầu của nước ta sẽ là 20 triệu tấn dầu thô / năm.
Dự báo giá dầu của một số tổ chức trên thế giới:
Dự báo dài hạn của giá dầu thế giới
Tài liệu tham khảo
2015 2020 2025 2030
Kịch bản cao
2010 U.S. EIA AEO –
Tài liệu tham khảo
Kịch bản thấp
$
144,72
$
94,52
$
51,48
$
185,51
$
61,16
N / A N / A
Deutsche Bank - tham
khảo
$
93,18
$
105,81
$
114,65
$
121,16
INFORUM - tham khảo
$
92,50
$
107,98
$
109,74
$
116,81
IEA - tham khảo
$
86,67
$
100.00
$
107,50
$
115,00
khảo
Ẻnergy SEER - Multi-
Dimensional
$
79,20
$
99,03
$
74,31
$
101,52
$
69,73
$
105,81
$
65,43
$
113,19
Tham khảo trường hợp $ $ $ $
15
trung bình 87,27 94,10 96,57 101,20
Nguồn: Thông tin Năng lượng Mỹ và Tài nguyên
Canada
Trên đây là giá của dự báo dầu thế giới của các tổ chức dầu thô trên thế giới được quy về năm 2008.
Do dầu thô là mặt hàng mang tính quốc tế, nên có thể lấy giá dầu thô quốc tế làm giá nhập khẩu cho Việt
Nam. Như vậy, ta sẽ lấy giá dầu thô dự báo của tổ chức quốc tế EIA AIO cho mô hình. Ta có năm 2015, giá
dầu là 94,52$/thùng, tương đương khoảng 330 000 x 10
6
/PJ . (1 tấn = 7 thùng = 40GJ và1$ = 20 000 VND)
n/a 255 305 310
Giá dầu xuất khẩu ( VND/ PJ) 325 500 374 500 398 500
Chi phí khai thác 271 000 312 000 332 000
16
4.4.3 Hiệu suất biến đổi
Công suất của nhà máy lọc dầu Dung Quất là: các sản phẩm khí hóa lỏng (gas) LPG (900-1.000
tấn/ngày) xăng A90 (2.900-5.100 tấn/ngày) và A92-95 (2.600-2.700 tấn/ngày), dầu Diesel (7.000-9.000
tấn/ngày), LPG và các sản phẩm khác như Propylene (320-460 tấn/ngày), xăng máy bay Jet-A1 và nhiên
liệu cho động cơ phản lực (650-1.250 tấn/ngày) và dầu đốt lò F.O (1.000-1.100 tấn/ngày). Như vậy tỷ lệ các
sản phẩm nhiên liệu lỏng tổng sản phẩm có thể sản xuất là 0.95. Coi tỷ lệ Cracking và tỷ lệ chưng cất là
tương đương nhau.
Hệ số sử dụng là tỷ số của tổng khối lượng đầu ra trên cho tổng khối lượng đầu vào. Theo thiết kế,
tổng sản phẩm đầu ra cho một ngày của nhà máy khi hoạt động 100% công suất là 20 196 tấn / ngày, trong
khi tổng lượng dầu đầu vào là khoảng 18 000 tấn / ngày. Như vậy hệ số sử dụng là 1.12
Nhiên liệu lỏng Các sản phẩm khác Hệ số sử dụng
Tỷ lệ chưng cất 0.95 0.05 1.12
Tỷ lệ Cracking 0.95 0.05 1.12
4.4.4 Chi phí đầu tư.
Nhà máy lọc dầu Dung Quất có vốn đầu tư 3 tỷ USD cho công suất 6.5 triệu tấn/ năm. Coi nhà mày
lọc dầu gồm 2 thành phần chính là phân xưởng cracking và phân xưởng chứng cất, và vốn đầu tư tương ứng
tỉ lệ với công suất thiết kế. Như vậy chi phí đầu tư cho hệ thống chưng cất và cracking là 9 x 10
6
VND/
tấn.năm
Chi phi đầu tư
(bao gồm cả chi phí khai thác cố định)
Chưng cất Cracking
VND/ PJ/năm 225 000 225 000
4.4.5 Tuổi thọ thiết bị
Tuổi thọ trung bình của một nhà máy lọc dầu vào khoảng 30 năm . ( tham khảo ý kiến giáo viên )
hành
Hệ số phụ
tải
VND/ /PJ VND/ /PJ/s
Thủy điện 18 600 000 400 000
000
0.6
Nhiệt điện than 12 400 000 1,6x10
9
1
Hệ số phụ tải: tỷ số lượng điện năng thực tế với lượng điện năng có thể sản xuất ở chế độ vận hành
100%
Theo quy hoạch điện 7, hệ số tổn thất trong truyền tải và phân phối điện năm 2010 là …9.5.% ( theo
quy hoạch điện 7 năm 2010) và giảm xuống còn 7.5% năm 2020
4.6 Dự báo nhu cầu.
Dự báo nhu cầu than chuyên dùng được lấy từ số liệu dự báo của APEC.
Tên
biến
2010 2015 2020 2025
Nhu cầu than chuyên dùng (PJ) SPCHt 120 144 172 1576
Nhu cầu dầu chuyên dùng (PJ) SPCAt 672 940 1276 446
Nhu cầu điện chuyên dùng
PJ
SPELt 176 252 356
Nhu cầu xăng chuyên dùng (PJ) 92.44 249.12 349.41 490.06
Biểu đồ 1: Nhu cầu than, dầu, điện chuyên dùng
Biểu đồ 2: Biểu đồ nhu cầu xăng chuyên dùng.
Xét nhu cầu tiêu thụ than. Dựa vào biểu đồ ta thấy hàm nhu cầu dầu chuyên dùng có dạng gần như là
đường thẳng tuyến tính. Sử dụng phương pháp dự báo chuyên gia, ta thấy rằng cứ sau mỗi 5 năm, nhu cầu
dầu chuyên dùng tăng khoảng 300 PJ. Như vậy, nhu cầu dầu chuyên dùng năm 2025 sẽ là 1576 PJ
Nhu cầu dịch vụ năng lượng
Giao thông vận tải :
+Di chuyển cá nhân
Dân dụng
+Nhiệt đun nấu
+Nước nóng để tắm
Thương mại dịch vụ :
+Chiếu sáng
Theo khảo sát thực tế quanh khu vực dân cư lân cận với quy mô là 30 hộ gia đình tương đương
khoảng 135 người. Trong 30 hộ đã khảo sát có 15 hộ trong diện khá giả, 8 hộ trong diện giàu và 7 hộ diện
khó khăn thu được kết quả như sau :
Thiết bị
Khá giả
( 8 hộ )
Trung bình
( 15 hộ )
Khó khăn
( 7 hộ )
Bếp than ( CUCt) 0 8 7
Xe máy ( CUFt ) 21 19 4
Bình nước nóng
( CUEt ) 16 15 5
Bóng đèn ( CUEt ) 105 150 45
Trên đây là kết quả khảo sát về các thiết bị sử dụng than, dầu và điện trong khu vực dân dụng. Ta có
một số lập luận sau :
• Với bếp than một ngày trung bình sử dụng 3 viên than tổ ong có trọng lượng 0.8 kg có nhiệt trị
5500klcal/kg. Như vậy 30 hộ gia đình 1 năm tiêu tốn 1 nhiệt lượng là : 3x10
-4
PJ
• Với xe máy giả sự có bình xăng trung bình là 3.5l ( xe wave Honda ), một tháng trung bình mỗi
5 THIẾT LẬP MÔ HÌNH BÀI TOÁN CHO NĂM 2015
5.1 Sơ đồ Res cho bài toán :
19
5.2 Ràng buộc
5.2.1 Ràng buộc giới hạn khả năng khai thác:
• TKT: lượng than khai thác (PJ)
• TNK: lượng than nhập khẩu
• TXK : lượng than xuất khẩu
• TKT <= 1276
• DKT: lượng dầu khai thác được
• DNK: lượng dầu nhập khẩu
• DXK: lượng dầu xuất khẩu
• DKT <= 255
• DKT / ( DKT + DNK – DXK ) <1 DXK-DNK<0
• DKT >= DXK (lượng dầu xuất khẩu phải nhỏ hơn lượng dầu khai thác được)
5.2.2 Ràng buộc tại nhà máy lọc dầu
• CCI: lượng dầu đầu vào nhà máy lọc dầu
• CCO: lượng dầu đầu ra của quá trình chưng cất của nhà má lọc dầu
• CRI: lượng dầu đầu vào của quá trình cracking
• CRO: lượng dầu đầu ra của quá trình cracking
• XCRO: lượng xăng cho đầu ra của phân xưởng cracking
20
Coi toàn bộ lượng dầu trên thị trường sẽ được đưa vào nhà máy lọc dầu để sản xuất ra xăng phục vụ
nhu cầu dầu chuyên dùng .
Cân bằng của các quá trình trong nhà máy lọc dầu
• CCO – 1.12 * CCI = 0 (đầu ra bằng đầu vào chia hệ số biến đổi)
• CRI – 0.95 * 1.12 * CCO = 0
• CRO – 1.12 * CRI = 0
• XCRO - 0.95 * CRO = 0
• Chi phí khai thác dầu là : 325500DKT
• Chi phí vận hành:
Nhà máy thủy điện : 400000000TD
Nhà máy nhiệt điện than: 1600000000NDT
21
5.3 Hàm mục tiêu:
Hàm mục tiêu là tổng tất cả các chi phí của phần ràng buộc chi phí. Yêu cầu của hàm mục tiêu là tổng chi
phí đạt giá trị nhỏ nhất.
325500DKT+90000TNK+330000DNK+68000TKT+12400000Z+18600000K+T+
400000000TD+1600000000NDT MIN
5.4 Các ràng buộc thể hiện trên LINDO:
ST
TKT <= 1276
DKT <= 255
DXK-DNK<=0
DKT-DXK>=0
TKT-TXK>=0
! Rang buoc tai nha may loc dau
DKT + DNK - DXK - CCI >= 940
CCO - 1.12CCI = 0
CRI - 1.064 CCI = 0
CRO - 1.12CRI = 0
XCRO - 0.95CRO = 0
XCRO+XNK>=249.12
! Rang buoc ve dien
0.905TD+0.905NDT>=252
NDT <= 815.520960
TD <= 174.078720
Z+0.905NDT+K+0.905TD=252
TKT + TNK - TXK - NDT/0.3>=144
5) 255.000000 0.000000
6) 144.000000 0.000000
7) 0.000000 -330000.000000
8) 0.000000 0.000000
9) 0.000000 310150.375000
10) 0.000000 276919.968750
11) 0.000000 291494.718750
12) 0.000000 0.000000
13) 0.000000 ****************
14) 711.146606 0.000000
15) 0.000000 ****************
23
16) 0.000000 -12400000.000000
17) 0.000000 -68000.000000
18) 0.000000 -0.710594
NO. ITERATIONS= 12
RANGES IN WHICH THE BASIS IS UNCHANGED:
OBJ COEFFICIENT RANGES
VARIABLE CURRENT ALLOWABLE ALLOWABLE
COEF INCREASE DECREASE
DKT 325500.000000 4500.000000 INFINITY
TNK 90000.000000 INFINITY 22000.000000
DNK 330000.000000 134400.015625 4500.000000
TKT 68000.000000 22000.000000 68000.000000
Z 12400000.000000 6200000.000000 INFINITY
K 18600000.000000 INFINITY 6200000.000000
T 1.000000 INFINITY 0.289406
TD 400000000.000000 **************** INFINITY
NDT **************** INFINITY ****************
DXK 0.000000 INFINITY 330000.000000
Phương án tối ưu X=(255,0,905,144)
Từ kết quả của chương trình LINDO ta có thể kết luận :
Chi phí nhỏ nhất là 0.2370219E+12 triệu VNĐ
5.6 Phân tích độ nhạy
5.6.1 Sự thay đổi hệ số các ẩn cơ bản trong hàm mục tiêu
Ẩn cơ bản là ẩn trong phương án tối ưu của bài toán có giá trị khác 0, ở đây bài toán là DKT và DNK
và TKT.
Giá trị “Allowable Increase” và “Allowable Decrease” trong phần “OBJ COEFFICIENT RANGES”
cho biết phạm vi mà trong đó các hệ số của hàm mục tiêu có thể thay đổi mà không làm thay đổi phương án
tối ưu ( ẩn cơ bản trong hàm mục tiêu )
Giả sử chi phí khai thác dầu tăng lên 2 triệu VNĐ/PJ
25