Luận văn tốt nghiệp Xây dựng website bán coupon
Trang 1
Luận văn tốt nghiệp Xây dựng website bán coupon
LỜI CAM ĐOAN
Chúng tôi xin cam đoan, sản phẩm từ luận văn này và những gì được trình bày trong cuốn luận văn
đều do chúng tôi thực hiện, những tài liệu chúng tôi tham khảo đều được nêu rõ nguồn gốc của tài
liệu đó. Không có phần nào được sao chép một cách bất hợp pháp.
Nếu có bất cứ sai phạm nào so với lời cam kết, chúng tôi xin chịu các hình thức xử lý theo quy
định
Nhóm làm Luận Văn:
Trần Hồng Quân
Nguyễn Minh Hoàng
Trần Ngọc Hoài Phong
Trang 2
Luận văn tốt nghiệp Xây dựng website bán coupon
LỜI CẢM ƠN
Chúng tôi xin gởi lời cảm ơn chân thành đến thầy Đặng Trần Trí, giáo viên hướng dẫn đề tài luận
văn này. Cám ơn thầy đã tận tình chỉ bảo và hướng dẫn chúng tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp.
Chúng tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè, những người luôn sát cánh, động viên và tạo
mọi điều kiện tốt nhất để chúng tôi có thể học tập và hoàn thành tốt được luận văn tốt nghiệp này.
Xin chân thành biết ơn sự tận tình dạy dỗ và truyền đạt kiến thức của tất cả quý thầy cô tại trường
Đại Học Bách Khoa, đặc biết là các thầy cô trong khoa Khoa Học và Kỹ Thuật Máy Tính.
Nhóm làm Luận Văn
Trần Hồng Quân
Nguyễn Minh Hoàng
Trần Ngọc Hoài Phong
Trang 3
Luận văn tốt nghiệp Xây dựng website bán coupon
MỤC LỤC
DANH MỤC HÌNH ẢNH
Trang 4
Trang 6
Luận văn tốt nghiệp Xây dựng website bán coupon
Các nhà cung cấp đồng ý đưa ra các siêu khuyến mãi, siêu giảm giá tới 60%, 70% thậm chí là trên
90%, mục đích chủ yếu là để quảng cáo, vì nếu đơn thuần chỉ là giảm giá để thu hút lượng lớn
khách hàng thì tính thế nào nhà cung cấp cũng vẫn lỗ vốn. Và hơn nữa lượng người mua càng
nhiều thì càng lỗ nặng. Nhưng, nếu coi như đây là một phương thức quảng cáo, và các chi phí
thông qua giảm giá là các chi phí dành cho quảng cáo thì lại thấy cực kỳ có lợi và cực kỳ đáng.
Nhà cung cấp nếu sử dụng các phương thức quảng cáo khác, sẽ phải chi trả chi phí lớn hơn mà
hiệu quả thì không được đảm bảo vì các phương thức quảng cáo khác không đảm bảo lượng khách
hàng sẽ tìm đến với nhà cung cấp sau thời gian quảng cáo. Còn nếu thông qua tổ chức mua theo
nhóm thì có thể chắc ăn hơn, sẽ tạo cơ hội để khách hàng đích thân tới trải nghiệm sản phẩm - dịch
vụ của chính mình.
Nếu số người mua không đạt được số người yêu cầu tối thiểu thì hoạt động mua theo nhóm đó coi
như hủy bỏ, không có khách hàng đến thì nhà cung cấp cũng chẳng mất gì, hơn nữa lại còn được
quảng cáo miễn phí trên website của các trang Groupon nữa.
2.1.2 Lợi thế của Groupon khi phát triển ở Việt Nam
• Người tiêu dùng VN rất quan tâm tới GIÁ.
• Tâm lý thích khuyến mãi: Rất nhiều người mua khi có khuyến mãi, ngay cả
khi họ không có nhu cầu, nhất là phụ nữ.
• Tâm lý đám đông ảnh hưởng mạnh đến người Việt: Yên tâm khi có nhiều
người cùng mua một lúc, mua hùa theo đám đông.
• Mua bán/giải trí là một trong những hoạt động chủ chốt của người Việt từ
offline -> online.
• Mỗi site có những lợi thế khác nhau (những lợi thế này có phân tích ở phần
sau)
2.1.3 Khó khăn của groupon khi phát triển ở Việt Nam
Có 6 lý do chính mà các website kinh doanh theo mô hình groupon sẽ gặp phải khi phát
triển ở VN:
• Hình thức thanh toán
Khách hàng -> Groupon (khách hàng trả tiền khi deal): Các phương thức
hàng để được quảng cáo Groupon thì ở VN các Groupon VN phải đi thuyết
phục, dụ dỗ các nhà cung cấp.
• Thương hiệu
Do Groupon là mô hình đầu tiên nên thường được báo chí, khách hàng ở
Mỹ nhớ đến và bàn tán truyền miệng -> không tốn nhiều chi phí marekting.
Còn ở VN các website chỉ là rập khuôn lại mô hình Groupon. Các DN
không biết các clone này khác nhau chỗ nào -> chi phí cho marketing và
educate khách hàng càng cao.
• Thói quen mua hàng
Người tiêu dùng VN vẫn có thói quen mua hàng phải sờ tận tay, xem tận
mắt, chưa quen với việc mua hàng qua mạng. Các DN VN chưa có thói quen sử dụng
Internet làm kênh marketing
Trong các bất lợi này, bất lợi 1 (thanh toán) và 6 (thói quen mua hàng) nắm
vai trò then chốt cho thành công của mô hình Groupon ở Việt Nam.
2.2 Thương Mại Điện Tử
Thương mại điện tử xuất hiện cùng với sự phổ cập mạng Internet và máy tính từ cuối những năm
1990 đầu những năm 2000. Thương mại điện tử được biết đến với khá nhiều tên gọi, phổ biến nhất
là Thương mại điện tử, bên cạnh đó là các tên gọi như kinh doanh điện tử, thương mại phi giấy tờ,
marketing điện tử.
2.2.1 Thương Mại Điện Tử là gì ?
Thương mại điện tử (còn gọi là E-Commerce hay E-Business) là quy trình mua bán hàng hóa và
dịch vụ thông qua các phương tiện điện tử và mạng viễn thông, đặc biệt là qua máy tính và
mạng Internet. Thương mại điện tử (Electronic Commerce), một yếu tố hợp thành của nền
"Kinh tế số hóa", là hình thái hoạt động thương mại bằng các phương pháp điện tử; là việc trao
đổi thông tin thương mại thông qua các phương tiện công nghệ điện tử mà nói chung là không
Trang 8
Luận văn tốt nghiệp Xây dựng website bán coupon
cần phải in ra giấy trong bất cứ công đoạn nào của quá trình giao dịch (nên còn gọi là "Thương
mại không có giấy tờ").
"Thông tin" trong khái niệm trên được hiểu là bất cứ gì có thể truyền tải bằng kỹ thuật điện tử,
2.2.2.2 Business to Business (B2B): e-procurement
Thương mại điện tử B2B được định nghĩa đơn giản là thương mại điện tử giữa các công
ty. Đây là loại hình thương mại điện tử gắn với mối quan hệ giữa các công ty với nhau.
Khoảng 80% thương mại điện tử theo loại hình này và phần lớn các chuyên gia dự đoán
Trang 9
Luận văn tốt nghiệp Xây dựng website bán coupon
rằng thương mại điện tử B2B sẽ tiếp tục phát triển nhanh hơn B2C. Thị trường B2B có hai
thành phần chủ yếu: hạ tầng ảo và thị trường ảo.
Hạ tầng ảo là cấu trúc của B2B chủ yếu bao gồm những vấn đề sau:
• Hậu cần - Vận tải, nhà kho và phân phối;
• Cung cấp các dịch vụ ứng dụng - tiến hành, máy chủ và quản lý phần mềm trọn gói
từ một trung tâm hỗ trợ (ví dụ Oracle và Linkshare);
• Các nguồn chức năng từ bên ngoài trong chu trình thương mại điện tử như máy chủ
trang web, bảo mật và giải pháp chăm sóc khách hàng.
• Các phần mềm giải pháp đấu giá cho việc điều hành và duy trì các hình thức đấu giá
trên Internet.
• Phần mềm quản lý nội dung cho việc hỗ trợ quản lý và đưa ra nội dung trang
Web cho phép thương mại dựa trên Web .
Phần lớn các ứng dụng B2B là trong lĩnh vực quản lý cung ứng ( Đặc biệt chu trình đặt
hàng mua hàng), quản lý kho hàng (Chu trình quản lý đặt hàng gửi hàng-vận đơn), quản
lý phân phối (đặc biệt trong việc chuyển gia các chứng từ gửi hàng) và quản lý thanh
toán (ví dụ hệ thống thanh toán điện tử hay EPS).
Thị trường mạng được định nghĩa đơn giản là những trang web nơi mà người mua
người bán trao đổi qua lại với nhau và thực hiện giao dịch.
Qua hai nội dung trên chúng ta có thể đưa ra vài nét tổng quan về các doanh nghiệp
B2B:
1. Là những nhà cung cấp hạ tầng trên mạng internet cho các doanh nghiệp khác
như máy chủ, hệ điều hành, phần mềm ứng dụng.
2. Là các doanh nghiệp chuyên cung cấp các giải pháp trên mạng internet như
cung cấp máy chủ, hosting (Dữ liệu trên mạng), tên miền, các dịch vụ thiết kế,
thương mại giữa công ty và khối hành chính công. Nó bao hàm việc sử dụng Internet cho
mua bán công, thủ tục cấp phép và các hoạt động khác liên quan tới chính phủ. Hình thái
này của thương mại điện tử có hai đặc tính: thứ nhất, khu vực hành chính công có vai trò
dẫn đầu trong việc.
Thiết lập thương mại điện tử, thứ hai, người ta cho rằng khu vực này có nhu cầu lớn nhất
trong việc biến các hệ thống mua bán trở nên hiệu quả hơn.
• Các chính sách mua bán trên web tăng cường tính minh bạch của quá trình mua
hàng (và giảm rủi ro của việc không đúng quy cách). Tuy nhiên, tới nay, kích cỡ của
thị trường thương mại điện tử B2G như là một thành tố của của tổng thương mại
điện tử thì không đáng kể, khi mà hệ thống mua bán của chính phủ còn chưa phát
triển.
Một số loại hình thương mại điện tử khác:
• Thương mại điện tử M-Commerece ( Buôn bán qua các thiết bị di động cầm tay)
• Thương mại điện tử sử dụng tiền ảo ( VTC với Vcoin )
2.2.3 Thanh toán điện tử
Thanh toán điện tử là hình thức thanh toán tiến hành trên môi trường internet, thông qua hệ
thống thanh toán điện tử người sử dụng mạng có thể tiến hành các hoạt động thanh toán,
chi trả, chuyển tiền, ...
Thanh toán điện tử được sử dụng khi chủ thể tiến hành mua hàng trên các siêu thị ảo và
thanh toán qua mạng. Để thực hiện việc thanh toán, thì hệ thống máy chủ của siêu thị phải
có được phầm mềm thanh toán trong website của mình.
2.2.4 Quảng cáo trên Internet
Cũng như các hình thức quảng cáo khác, quảng cáo trên mạng nhằm cung cấp thông tin đẩy
nhanh tiến độ giao dịch giữa người bán và người mua. Tuy nhiên, quảng cao trên mạng
khác hẳn với quảng cáo trên các phương tiện thông tin đại chúng khác vì nó giúp người tiêu
dùng có thể tương tác với quảng cáo. Trên mạng mọi thứ đều có thể đưa vào quảng cáo, từ
bố trí sản phẩm tới thiết kế các ảnh nền phía sau nội dung quảng cáo, làm cho logo hoặc bất
cứ nhãn hiệu sản phẩm nào cũng trở nên nổi bật. Quảng cáo trên Internet cũng tạo cơ hội
cho các nhà quảng cáo nhắm chính xác vào đối tượng khách hàng của mình và giúp họ
quảng cáo với đúng sở thích và thị hiếu người dùng. Ngoài ra, quảng cáo trên mạng còn là
một),
• Đánh dấu trình bày miêu tả phần hiện hình trực quan của phần văn bản bất kể chức
năng của nó là gì (ví dụ, <b>boldface</b>sẽ hiển thị đoạn văn bản boldface) (Chú
ý là cách dùng đánh dấu trình bày này bây giờ không còn được khuyên dùng mà nó
được thay thế bằng cách dùng CSS).
• Đánh dấu liên kết ngoài chứa phần liên kết từ trang này đến trang kia (ví dụ, <a
href=" sẽ hiển thị từ Wikipedia như là
một liên kết ngoài đến một URL) cụ thể, và
• Các phần tử thành phần điều khiển giúp tạo ra các đối tượng (ví dụ, các nút và các
danh sách).
Tách phần trình bày và nội dung
Nỗ lực tách phần nội dung ra khỏi phần hình thức trình bày của trang HTML đã đưa
đến sự xuất hiện của các chuẩn mới như XHTML. Các chuẩn này nhấn mạnh vào việc
sử dụng thẻ đánh dấu vào việc xác định cấu trúc tài liệu như phần đề mục, đoạn văn,
khối văn bản trích dẫn và các bảng, chứ không khuyên dùng các thẻ đánh dấu mang
tính chất trình bày trực quan, như <font>, <b> (in đậm), và <i> (in nghiêng). Những mã
mang tính chất trình bày đó đã được loại bỏ khỏi HTML 4.01 Strict và các đặc tả
XHTML nhằm tạo điều kiện cho CSS. CSS cung cấp một giải pháp giúp tách cấu trúc
HTML ra khỏi phần trình bày của nội dung của nó. Xem phần tách nội dung và trình
bày.
Các phần tử cơ bản:
Heading Elements
<h1>Largest Heading</h1>
<h2> . . . </h2>
<h3> . . . </h3>
<h4> . . . </h4>
<h5> . . . </h5>
<h6>Smallest Heading</h6>
Trang 13
Luận văn tốt nghiệp Xây dựng website bán coupon
<li>First item</li>
<li>Second item</li>
</ol>
Definition list
<dl>
<dt>First term</dt>
<dd>Definition</dd>
<dt>Next term</dt>
<dd>Definition</dd>
</dl>
Tables
<table border="1">
<tr>
<th>Tableheader</th>
<th>Tableheader</th>
</tr>
<tr>
<td>sometext</td>
<td>sometext</td>
</tr>
</table>
Trang 15
Luận văn tốt nghiệp Xây dựng website bán coupon
Iframe
<iframe src="demo_iframe.htm"></iframe>
Frames
<frameset cols="25%,75%">
<frame src="page1.htm" />
<frame src="page2.htm" />
</frameset>
Written by W3Schools.com<br />
<a href="mailto:">Email us</a><br />
Address: Box 564, Disneyland<br />
Phone: +12 34 56 78
</address>
3.2 Cascading Style Sheets (CSS)
Được dùng để miêu tả cách trình bày các tài liệu viết bằng ngôn ngữ HTML và XHTML.
Ngoài ra ngôn ngữ định kiểu theo tầng cũng có thể dùng cho XML, SVG, XUL v.v...
3.2.1 Một số đặc tính cơ bản của CSS
CSS quy định cách hiển thị của các thẻ HTML bằng cách quy định các thuộc tính của
các thẻ đó (font chữ, màu sắc). Để cho thuận tiện thì có thể đặt toàn bộ các thuộc tính
của thẻ vào trong một file riêng có phần mở rộng là ".css"
CSS nó phá vỡ giới hạn trong thiết kế Web, bởi chỉ cần một file CSS có thể cho phép
quản lí định dạng và layout trên nhiều trang khác nhau. Các nhà phát triển Web có thể
định nghĩa sẵn thuộc tính của một số thẻ HTML nào đó và sau đó nó có thể dùng lại
trên nhiều trang khác.
Có thể khai báo CSS bằng nhiều cách khác nhau. Bạn có thể đặt đoạn CSS của bạn phía
trong thẻ <head>...</head>, hoặc ghi nó ra file riêng với phần mở rộng ".css", ngoài ra
bạn còn có thể đặt chúng trong từng thẻ HTML riêng biệt
Trang 17
Luận văn tốt nghiệp Xây dựng website bán coupon
Tuy nhiên tùy từng cách đặt khác nhau mà độ ưu tiên của nó cũng khác nhau. Mức độ
ưu tiên của CSS sẽ theo thứ tự sau.
Style đặt trong từng thẻ HTML riêng biệt
Style đặt trong phần <head>
Style đặt trong file mở rộng .css
Style mặc định của trình duyệt
Mức độ ưu tiên sẽ giảm dần từ trên xuống dưới.
CSS có tính kế thừa: giả sử rằng bạn có một thẻ <div id="vidu"> đã được khai báo ở
đầu file css với các thuộc tính như sau:
text-align: center;
color: black;
font-family: arial
}
3.2.3 Chèn CSS vào trang Web
Khi trình duyệt đọc đến CSS, thì toàn bộ Website sẽ được định dạng theo các thuộc tính đã
được khai báo trong phần CSS. Có ba cách cho phép chúng ta chèn định dạng CSS vào
trong Website.
3.2.3.1 CSS được khai báo trong file riêng.
Toàn bộ mã CSS được chứa trong file riêng có phần mở rộng .css là một ý tưởng được
dùng khi một file CSS sẽ được áp dụng cho nhiều trang khác nhau. Bạn có thể thay đổi
cách hiển thị của toàn bộ site mà chỉ cần thay đổi một file CSS. Trong cách này thì file CSS
sẽ được chèn vào văn bản HTML thông qua thẻ <link>...</link>. Ta có cú pháp như sau:
<html>
<head>
<link rel="stylesheet" type="text/css" href="/mystyle.css"
medial="all" />
</head>
<body>
</body>
</html>
Trang 19
Luận văn tốt nghiệp Xây dựng website bán coupon
Trình duyệt sẽ đọc toàn bộ các định dạng được quy định trong file mystyle.css và định dạng
cho văn bản HTML.
File CSS có thể được soạn thảo bằng một số trình duyệt khác nhau. Trong file không được
chứa mã HTML, khi ghi lại chúng ta bắt buộc phải ghi lại với phần mở rộng là .css. Giả sử
chúng trong file mystyle.css ở trên chứa đoạn mã sau:
hr {color: sienna}
p {margin-left: 20px}
Inline style được sử dụng nhiều trong trường hợp một thẻ HTML nào đó cần có style riêng
cho nó.
Inline style được áp dụng cho chính thẻ HTML đó, cách này sẽ có độ ưu tiên lớn nhất so
với hai cách trên. Dưới đây là một ví dụ mà chúng ta dùng Inline style
<p style="color: sienna; margin-left: 20px">
This is a paragraph
</p>
3.2.3.4 Nhiều Stylesheet
Trong trường hợp mà có một số thẻ có cùng định dạng, chúng ta có thể gộp chúng lại với
nhau. Giả sử như sau:
h1, h2, h3 {
margin-left: 10px;
font-size: 150%;
...
}
3.3 Sơ lược về .NET framework
Trước khi tìm hiểu về ASP.NET, chúng ta sẽ tìm hiểu sơ lược về .Net Framework. Sở dĩ có
chữ .NET trong ASP.NET là vì mọi chức năng ASP.NET có được là hoàn toàn dựa vào
.NET framework, do đó ta cần phải hiểu thấu đáo kiến trúc hạ tầng của .NET framework để
dùng ASP.NET một cách hiệu quả, trong đó quan trọng nhất là CLR và .NET Framework
Class.
Trang 21
Luận văn tốt nghiệp Xây dựng website bán coupon
Hình .NET framework
3.3.1 CLR (Common Language Runtime)
CLR là môi trường được dùng để quản lý sự thi hành các nguồn mã (manage the execution
of code) mà ta đã soạn ra và biên dịch (write and compile code) trong các ứng dụng, các
phần bên trong của CLR gồm: Class loader, Just In Time compiler, Garbage collector,
Exception handler, COM marshaller, Security engine,… Khi biên dịch nguồn mã, ta biên
dịch chúng ra thành một ngôn ngữ trung gian gọi là Microsoft Intermediate Language
3.3.3 Base class library – thư viện các lớp cơ sở
Đây là thư viện các lớp cơ bản nhất, được dùng trong khi lập trình hay bản thân những
người xây dựng .NET Framework cũng phải dùng nó để xây dựng các lớp cao hơn. Ví dụ
các lớp trong thư viện này là String, Integer, Exception,…
3.3.4 ADO.NET và XML
Bộ thư viện này gồm các lớp dùng để xử lý dữ liệu. ADO.NET thay thế ADO để trong việc
thao tác với các dữ liệu thông thường. Các lớp đối tượng XML được cung cấp để bạn xử lý
các dữ liệu theo định dạng mới: XML. Các ví dụ cho bộ thư viện này là SqlDataAdapter,
SqlCommand, DataSet, XMLReader, XMLWriter,…
3.3.5 Web Service
Web services có thể hiểu khá sát nghĩa là các dịch vụ được cung cấp qua Web (hay
Internet). Dịch vụ được coi là Web service không nhằm vào người dùng mà nhằm vào
người xây dựng phần mềm. Web service có thể dùng để cung cấp các dữ liệu hay một chức
năng tính toán. Ví dụ, công ty du lịch của bạn đang sử dụng một hệ thống phần mềm để ghi
nhận thông tin về khách du lịch đăng ký đi các tour. Để thực hiện việc đặt phòng khách sạn
tại địa điểm du lịch, công ty cần biết thông tin về phòng trống tại các khách sạn. Khách sạn
có thể cung cấp một Web service để cho biết thông tin về các phòng trống tại một thời
điểm. Dựa vào đó, phần mềm của bạn sẽ biết rằng liệu có đủ chỗ để đặt phòng cho khách
du lịch không? Nếu đủ, phần mềm lại có thể dùng một Web service khác cung cấp chức
năng đặt phòng để thuê khách sạn. Điểm lợi của Web service ở đây là bạn không cần một
người làm việc liên lạc với khách sạn để hỏi thông tin phòng, sau đó, với đủ các thông tin
Trang 23
Luận văn tốt nghiệp Xây dựng website bán coupon
về nhiều loại phòng người đó sẽ xác định loại phòng nào cần đặt, số lượng đặt bao nhiêu,
đủ hay không đủ rồi lại liên lạc lại với khách sạn để đặt phòng. Đừng quên là khách sạn lúc
này cũng cần có người để làm việc với nhân viên của bạn và chưa chắc họ có thể liên lạc
thành công. Web service được cung cấp dựa vào ASP.NET và sự hỗ trợ từ phía hệ điều
hành của Internet Information Server.
3.3.6 ASP.NET
Bộ thư viện các lớp đối tượng dùng trong việc xây dựng các ứng dụng Web. ASP.NET
năm 1997.
ASP.NET không phải phiên bản nâng cấp từ ASP mà là một thế hệ tiếp nối của ASP
Trang 25