Luận văn tốt nghiệp Xây dựng website bán coupon
LỜI CAM ĐOAN
Chúng tôi xin cam đoan, sản phẩm từ luận văn này và những gì được trình bày trong cuốn luận văn
đều do chúng tôi thực hiện, những tài liệu chúng tôi tham khảo đều được nêu rõ nguồn gốc của tài
liệu đó. Không có phần nào được sao chép một cách bất hợp pháp.
Nếu có bất cứ sai phạm nào so với lời cam kết, chúng tôi xin chịu các hình thức xử lý theo quy
định
Nhóm làm Luận Văn:
Trần Hồng Quân
Nguyễn Minh Hoàng
Trần Ngọc Hoài Phong
Trang 1
Luận văn tốt nghiệp Xây dựng website bán coupon
LỜI CẢM ƠN
Chúng tôi xin gởi lời cảm ơn chân thành đến thầy Đặng Trần Trí, giáo viên hướng dẫn đề tài luận
văn này. Cám ơn thầy đã tận tình chỉ bảo và hướng dẫn chúng tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp.
Chúng tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè, những người luôn sát cánh, động viên và tạo
mọi điều kiện tốt nhất để chúng tôi có thể học tập và hoàn thành tốt được luận văn tốt nghiệp này.
Xin chân thành biết ơn sự tận tình dạy dỗ và truyền đạt kiến thức của tất cả quý thầy cô tại trường
Đại Học Bách Khoa, đặc biết là các thầy cô trong khoa Khoa Học và Kỹ Thuật Máy Tính.
Nhóm làm Luận Văn
Trần Hồng Quân
Nguyễn Minh Hoàng
Trần Ngọc Hoài Phong
Trang 2
Luận văn tốt nghiệp Xây dựng website bán coupon
MỤC LỤC
DANH MỤC HÌNH ẢNH
Trang 3
Luận văn tốt nghiệp Xây dựng website bán coupon
DANH MỤC BẢNG
Anh, đặc biệt là Trung Quốc với số lượng website hiện tại đã lên đến con số hàng nghìn, nhưng
đứng đầu vẫn là một số trang web lớn như meituan.com (CEO là người sáng lập ra
renrenwang.com -facebook bản Trung Quốc , fanfou.com - Twitter bản Trung Quốc - sau khi trang
web này vì một vài sự cố đóng web vào nửa cuối năm 2009 thì Twitter bản Trung Quốc có tên là
weibo thịnh hành hơn), lashou.com, Ftuan.com, tuanbao.com,tuan.sina.com.cn….
Trang 5
Luận văn tốt nghiệp Xây dựng website bán coupon
Các website mua theo nhóm của Việt Nam cũng mọc lên như rất nhiều như: Cungmua.com,
Muachung.vn, Nhommua.com, Deal.zing.vn, Hotdeal.vn…
2 CÁC KIẾN THỨC TỔNG QUAN
2.1 Mô hình mua theo nhóm
2.1.1 Bản chất của mô hình Groupon
Nhiều người cho rằng Groupon là một hình thức phát triển của thương mại điện tử, cụ thể là mô
hình thứ 4 của thương mại điện tử - thế giới gọi tắt là B2T(Business To Team), sau B2B (Business
To Business), B2C (Business To Customer),C2C (Customer To Customer). Nhưng thật ra Groupon
là mô hình kết hợp giữa thương mại điện tử và quảng cáo. Thậm chí có thể nói, nếu Groupon bao
gồm 100 phần thì chỉ có 10 phần là thương mại điện tử. Mục đích cuối cùng của việc các trang web
Groupon không đơn thuần là bán các phiếu khuyến mãi, mà quan trọng hơn là để quảng bá thương
hiệu, quảng bá thương hiệu cho nhà cung cấp và quảng bá thương hiệu cho chính mình.
Các nhà cung cấp đồng ý đưa ra các siêu khuyến mãi, siêu giảm giá tới 60%, 70% thậm chí là trên
90%, mục đích chủ yếu là để quảng cáo, vì nếu đơn thuần chỉ là giảm giá để thu hút lượng lớn
khách hàng thì tính thế nào nhà cung cấp cũng vẫn lỗ vốn. Và hơn nữa lượng người mua càng
nhiều thì càng lỗ nặng. Nhưng, nếu coi như đây là một phương thức quảng cáo, và các chi phí
thông qua giảm giá là các chi phí dành cho quảng cáo thì lại thấy cực kỳ có lợi và cực kỳ đáng.
Nhà cung cấp nếu sử dụng các phương thức quảng cáo khác, sẽ phải chi trả chi phí lớn hơn mà
hiệu quả thì không được đảm bảo vì các phương thức quảng cáo khác không đảm bảo lượng khách
hàng sẽ tìm đến với nhà cung cấp sau thời gian quảng cáo. Còn nếu thông qua tổ chức mua theo
nhóm thì có thể chắc ăn hơn, sẽ tạo cơ hội để khách hàng đích thân tới trải nghiệm sản phẩm - dịch
vụ của chính mình.
Nếu số người mua không đạt được số người yêu cầu tối thiểu thì hoạt động mua theo nhóm đó coi
phục các DN đăng quảng cáo trên site của mình)
Trừ chi phí sản phẩm + văn phòng ra, chỉ tính trong mỗi deal, xác suất chi
phí Groupon VN > 10% chiết khấu là khá cao => lỗ. Điều này chứng tỏ tại
sao Groupon thật có thể “profitable” chỉ sau hơn hai năm. Còn Groupon
clone thì phải tốn nhiều thời gian hơn.
• Dịch vụ khách hàng/thái độ phục vụ nhân viên
Ở VN khi khách hàng dùng phiếu khuyến mãi, đặc biệt ở mảng dịch vụ
thường không được nhân viên phục vụ chu đáo, thậm chí còn coi thường
khách hàng. Ngay cả dịch vụ của các thương hiệu lớn cũng đã có nhiều
trường hợp tương tự xảy ra. Dịch vụ cung cấp không được 100% như hứa
hẹn, bị cắt xén nhiều.
• Chất lượng sản phẩm/dịch vụ
Mức độ đồng đều về chất lượng sản phẩm dịch vụ không được cao như ở
Mỹ. Nếu chọn các sản phẩm có chất lượng cao thì số lượng các deal giảm sút
đáng kể.
• Hiểu biết của nhà cung cấp
Nếu như Groupon Mỹ hiện đang có hàng chục nghìn nhà cung cấp đang xếp
hàng để được quảng cáo Groupon thì ở VN các Groupon VN phải đi thuyết
phục, dụ dỗ các nhà cung cấp.
• Thương hiệu
Do Groupon là mô hình đầu tiên nên thường được báo chí, khách hàng ở
Mỹ nhớ đến và bàn tán truyền miệng -> không tốn nhiều chi phí marekting.
Còn ở VN các website chỉ là rập khuôn lại mô hình Groupon. Các DN
không biết các clone này khác nhau chỗ nào -> chi phí cho marketing và
educate khách hàng càng cao.
• Thói quen mua hàng
Người tiêu dùng VN vẫn có thói quen mua hàng phải sờ tận tay, xem tận
mắt, chưa quen với việc mua hàng qua mạng. Các DN VN chưa có thói quen sử dụng
Internet làm kênh marketing
Trang 7
hàng hóa và dịch vụ; buôn bán hàng hoá và dịch vụ chỉ là một trong hàng nghìn lĩnh vực áp
dụng của thương mại điện tử.
Trang 8
Luận văn tốt nghiệp Xây dựng website bán coupon
2.2.2 Các loại hình của Thương Mại Điện Tử
2.2.2.1 Business to Customer (B2C)
• Thương mại điện tử B2C hay là thương mại giữa các công ty và người tiêu dùng,
liên quan đến việc khách hàng thu thập thông tin, mua các hàng hoá thực (hữu hình
như là sách hoặc sản phẩm tiêu dùng) hoặc sản phẩm thông tin (hoặc hàng hoá về
nguyên liệu điện tử hoặc nội dung số hoá, như phần mềm, sách điện tử) và các hàng
hoá thông tin, nhận sản phẩm qua mạng điện tử.
• Đơn giản hơn chúng ta có thể hiểu :Thương mại điện tử B2C là việc một doanh
nghiệp dựa trên mạng internet để trao đổi các hang hóa dịch vụ do mình tạo ra hoặc
do mình phân phối.
• Các trang web khá thành công với hình thức này trên thế giới phải kể đến
Amazon.com, Drugstore.com, Beyond.com.
• Tại Việt Nam hình thức buôn bán này đang rất "ảm đạm" vì nhiều lý do nhưng lý do
chủ quan nhất là ý thức của các doanh nghiệp, họ không quan tâm, không để ý và
tệ nhất là không chăm sóc nổi website cho chính doanh nghiệp mình
2.2.2.2 Business to Business (B2B): e-procurement
Thương mại điện tử B2B được định nghĩa đơn giản là thương mại điện tử giữa các công
ty. Đây là loại hình thương mại điện tử gắn với mối quan hệ giữa các công ty với nhau.
Khoảng 80% thương mại điện tử theo loại hình này và phần lớn các chuyên gia dự đoán
rằng thương mại điện tử B2B sẽ tiếp tục phát triển nhanh hơn B2C. Thị trường B2B có hai
thành phần chủ yếu: hạ tầng ảo và thị trường ảo.
Hạ tầng ảo là cấu trúc của B2B chủ yếu bao gồm những vấn đề sau:
• Hậu cần - Vận tải, nhà kho và phân phối;
• Cung cấp các dịch vụ ứng dụng - tiến hành, máy chủ và quản lý phần mềm trọn gói
từ một trung tâm hỗ trợ (ví dụ Oracle và Linkshare);
• Các nguồn chức năng từ bên ngoài trong chu trình thương mại điện tử như máy chủ
Loại hình thương mại điện tử này được phân loại bởi sự tăng trưởng của thị trường điện tử
và đấu giá trên mạng, đặc biệt với các ngành theo trục dọc nơi các công ty/ doanh nghiệp
có thể đấu thầu cho những cái họ muốn từ các nhà cung cấp khác nhau. Có lẽ đây là tiềm
năng lớn nhất cho việc phát triển các thị trường mới.
Loại hình thương mại điện tử này tới theo ba dạng:
• Hệ thống hai đầu P2P, Forum, IRC, các phần mềm nói chuyện qua mạng như
Yahoo, Skype,Window Messenger,AOL ...
• Quảng cáo phân loại tại một cổng (rao vặt)
• Giao dịch khách hàng tới doanh nghiệp C2B bao gồm đấu giá ngược, trongđó khách
hàng là người điều khiển giao dịch.
Tại các trang web của nước ngoài chúng ta có thể nhận ra ngay Ebay là website đứng đầu
danh sách các website C2C trên thế giới đây la một tượng đài về kinh doanh theo hình thức
đấu giá mà các doanh nghiệp Việt Nam nào cũng muốn "trở thành".
Tại Việt Nam thì chứa tất các các hinh thức này ở mọi loại dạng, đi đến đâu cũng
thấy quảng cáo rao vặt, rao bán, rao mua, trao đổi....
2.2.2.4 Business to Government
Thương mại điện tử giữa doanh nghiệp với chính phủ (B2G) được định nghĩa chung là
thương mại giữa công ty và khối hành chính công. Nó bao hàm việc sử dụng Internet cho
mua bán công, thủ tục cấp phép và các hoạt động khác liên quan tới chính phủ. Hình thái
này của thương mại điện tử có hai đặc tính: thứ nhất, khu vực hành chính công có vai trò
dẫn đầu trong việc.
Thiết lập thương mại điện tử, thứ hai, người ta cho rằng khu vực này có nhu cầu lớn nhất
trong việc biến các hệ thống mua bán trở nên hiệu quả hơn.
• Các chính sách mua bán trên web tăng cường tính minh bạch của quá trình mua
hàng (và giảm rủi ro của việc không đúng quy cách). Tuy nhiên, tới nay, kích cỡ của
thị trường thương mại điện tử B2G như là một thành tố của của tổng thương mại
điện tử thì không đáng kể, khi mà hệ thống mua bán của chính phủ còn chưa phát
triển.
Trang 10
Luận văn tốt nghiệp Xây dựng website bán coupon
dụng đơn giản của SGML, vốn được sử dụng trong các tổ chức cần đến các yêu cầu xuất
bản phức tạp, HTML giờ đây đã trở thành một chuẩn Internet do tổ chức World Wide Web
Consortium (W3C) duy trì. Phiên bản chính thức mới nhất của nó hiện là HTML 5.
Trang 11
Luận văn tốt nghiệp Xây dựng website bán coupon
Hình HTML
VD:
<html>
<body>
<h1>My First Heading</h1>
<p>My first paragraph.</p>
</body>
</html>
- Đánh dấu:
Có bốn loại phần tử đánh dấu trong HTML:
• Đánh dấu Có cấu trúc miêu tả mục đích của phần văn bản (ví
dụ, <h1>Golf</h1> sẽ điều khiển phần mềm đọc hiển thị "Golf" là đề mục cấp
một),
• Đánh dấu trình bày miêu tả phần hiện hình trực quan của phần văn bản bất kể chức
năng của nó là gì (ví dụ, <b>boldface</b>sẽ hiển thị đoạn văn bản boldface) (Chú
ý là cách dùng đánh dấu trình bày này bây giờ không còn được khuyên dùng mà nó
được thay thế bằng cách dùng CSS).
• Đánh dấu liên kết ngoài chứa phần liên kết từ trang này đến trang kia (ví dụ, <a
href=" sẽ hiển thị từ Wikipedia như là
một liên kết ngoài đến một URL) cụ thể, và
• Các phần tử thành phần điều khiển giúp tạo ra các đối tượng (ví dụ, các nút và các
danh sách).
Tách phần trình bày và nội dung
Trang 12
Luận văn tốt nghiệp Xây dựng website bán coupon
<i>This text is italic</i>
Links
Ordinary link: <a href=" goes
here</a>
Image-link: <a href=" src="URL"
alt="Alternate Text" /></a>
Mailto link: <a href="mailto:">Send e-mail</a>
A named anchor:
<a name="tips">Tips Section</a>
<a href="#tips">Jump to the Tips Section</a>
Unordered list
<ul>
<li>Item</li>
<li>Item</li>
</ul>
Ordered list
<ol>
<li>First item</li>
<li>Second item</li>
</ol>
Definition list
Trang 14
Luận văn tốt nghiệp Xây dựng website bán coupon
<dl>
<dt>First term</dt>
<dd>Definition</dd>
<dt>Next term</dt>
<dd>Definition</dd>
</dl>
Tables
<select>
<option>Apples</option>
<option selected="selected">Bananas</option>
<option>Cherries</option>
</select>
<textarea name="comment" rows="60" cols="20"></textarea>
</form>
Entities
< is the same as <
> is the same as >
© is the same as ©
Other Elements
Trang 16
Luận văn tốt nghiệp Xây dựng website bán coupon
<!-- This is a comment -->
<blockquote>
Text quoted from a source.
</blockquote>
<address>
Written by W3Schools.com<br />
<a href="mailto:">Email us</a><br />
Address: Box 564, Disneyland<br />
Phone: +12 34 56 78
</address>
3.2 Cascading Style Sheets (CSS)
Được dùng để miêu tả cách trình bày các tài liệu viết bằng ngôn ngữ HTML và XHTML.
Ngoài ra ngôn ngữ định kiểu theo tầng cũng có thể dùng cho XML, SVG, XUL v.v...
3.2.1 Một số đặc tính cơ bản của CSS
CSS quy định cách hiển thị của các thẻ HTML bằng cách quy định các thuộc tính của
các thẻ đó (font chữ, màu sắc). Để cho thuận tiện thì có thể đặt toàn bộ các thuộc tính
#vidu {
width: 400px; /* Đè lên khai báo cũ */
height: 300px;
background-color: #CC0000;
}
3.2.2 Cú pháp của CSS
Cú pháp của CSS được chia làm 3 phần. phần thẻ chọn (selector), phần thuộc tính
(property), phần nhãn (value).
selector {property: value}
Nếu nhãn có nhiều từ thì nên đặt nhãn của vào trong dấu nháy kép
p {font-family: "sans serif"}
Trong trường hợp thẻ chọn có nhiều thuộc tính thì các thuộc tính sẽ được ngăn cách bởi dấu
(;).
p {text-align:center;color:red}
Trang 18
Luận văn tốt nghiệp Xây dựng website bán coupon
Khi thẻ chọn có nhiều thuộc tính thì chúng ta nên để mỗi thuộc tính ở trên một dòng riêng
biệt.
p {
text-align: center;
color: black;
font-family: arial
}
3.2.3 Chèn CSS vào trang Web
Khi trình duyệt đọc đến CSS, thì toàn bộ Website sẽ được định dạng theo các thuộc tính đã
được khai báo trong phần CSS. Có ba cách cho phép chúng ta chèn định dạng CSS vào
trong Website.
3.2.3.1 CSS được khai báo trong file riêng.
Toàn bộ mã CSS được chứa trong file riêng có phần mở rộng .css là một ý tưởng được
dùng khi một file CSS sẽ được áp dụng cho nhiều trang khác nhau. Bạn có thể thay đổi
p {margin-left: 20px}
body {background-image: url("images/back40.gif")}
</style>
</head>
Có một số trình duyệt cũ sẽ không hiểu thẻ <style>, nó sẽ bỏ qua thẻ này. Tuy nhiên thì nội
dung trong thẻ <style> vẫn hiển thị ra trang HTML. Vì vậy mà chúng ta sẽ phải dùng định
dạng chú thích trong HTML để chứa phần nội dung của thẻ <style>.
<head>
<style type="text/css">
<!--
hr {color: sienna}
p {margin-left: 20px}
body {background-image: url("images/back40.gif")}
-->
</style>
</head>
3.2.3.3 Chèn trực tiếp vào thẻ của HTML(inline style)
Inline style được sử dụng nhiều trong trường hợp một thẻ HTML nào đó cần có style riêng
cho nó.
Inline style được áp dụng cho chính thẻ HTML đó, cách này sẽ có độ ưu tiên lớn nhất so
với hai cách trên. Dưới đây là một ví dụ mà chúng ta dùng Inline style
<p style="color: sienna; margin-left: 20px">
This is a paragraph
</p>
3.2.3.4 Nhiều Stylesheet
Trong trường hợp mà có một số thẻ có cùng định dạng, chúng ta có thể gộp chúng lại với
nhau. Giả sử như sau:
h1, h2, h3 {
Trang 20
Luận văn tốt nghiệp Xây dựng website bán coupon
3.3.2 DOTNET framework classes
Nếu phải giải nghĩa từ "Framework" trong thuật ngữ .NET Framework thì đây là lúc thích
hợp nhất. Framework chính là một tập hợp hay thư viện các lớp đối tượng hỗ trợ người lập
trình khi xây dựng ứng dụng. Có thể một số người trong chúng ta đã nghe qua về MFC và
JFC. Microsoft Foundation Class là bộ thư viện mà lập trình viên Visual C++ sử dụng trong
khi Java Foundation Class là bộ thư viện dành cho các lập trình viên Java. Giờ đây, có thể
coi .NET Framework là bộ thư viện dành cho các lập trình viên .NET.
Với hơn 5000 lớp đối tượng để gọi thực hiện đủ các loại dịch vụ từ hệ điều hành, chúng ta
có thể bắt đầu xây dựng ứng dụng bằng Notepad.exe!!!… Nhiều người lầm tưởng rằng các
môi trường phát triển phần mềm như Visual Studio 98 hay Visual Studio.NET là tất cả
những gì cần để viết chương trình. Thực ra, chúng là những phần mềm dùng làm "vỏ bọc"
bên ngoài. Với chúng, chúng ta sẽ viết được các đoạn lệnh đủ các màu xanh, đỏ; lỗi cú
pháp báo ngay khi đang gõ lệnh; thuộc tính của các đối tượng được đặt ngay trên cửa sổ
properties, giao diện được thiết kế theo phong cách trực quan… Như vậy, chúng ta có thể
hình dung được tầm quan trọng của .NET Framework. Nếu không có cái cốt lõi .NET
Framework, Visual Studio.NET cũng chỉ là cái vỏ bọc! Nhưng nếu không có Visual
Studio.NET, công việc của lập trình viên .NET cũng lắm bước gian nan!
3.3.3 Base class library – thư viện các lớp cơ sở
Đây là thư viện các lớp cơ bản nhất, được dùng trong khi lập trình hay bản thân những
người xây dựng .NET Framework cũng phải dùng nó để xây dựng các lớp cao hơn. Ví dụ
các lớp trong thư viện này là String, Integer, Exception,…
3.3.4 ADO.NET và XML
Bộ thư viện này gồm các lớp dùng để xử lý dữ liệu. ADO.NET thay thế ADO để trong việc
thao tác với các dữ liệu thông thường. Các lớp đối tượng XML được cung cấp để bạn xử lý
các dữ liệu theo định dạng mới: XML. Các ví dụ cho bộ thư viện này là SqlDataAdapter,
SqlCommand, DataSet, XMLReader, XMLWriter,…
Trang 22
Luận văn tốt nghiệp Xây dựng website bán coupon
3.3.5 Web Service
Web services có thể hiểu khá sát nghĩa là các dịch vụ được cung cấp qua Web (hay
cung cấp bởi Microsoft, cho phép những người lập trình tạo ra những trang web động,
những ứng dụng web và những dịch vụ web. Lần đầu tiên được đưa ra thị trường vào tháng
2 năm 2002 cùng với phiên bản 1.0 của .NET framework, là công nghệ nối tiếp của
Microsoft's Active Server Pages(ASP). ASP.NET được biên dịch dưới dạng Common
Language Runtime (CLR), cho phép những người lập trình viết mã ASP.NET với bất kỳ
ngôn ngữ nào được hỗ trợ bởi .NET language.
Trang 23
Luận văn tốt nghiệp Xây dựng website bán coupon
Hình ASP.NET
3.3.6.1 Lịch Sử
Sau khi phát hành phiên bản Internet Information Service 4.0 vào năm 1997, hãng
Microsoft bắt đầu nghiên cứu một mô hình ứng dụng web để giải quyết những bất tiện của
ASP, đặc biệt là việc tách riêng biệt phần thể hiện và phần nội dung cũng như cách viết mã
rõ ràng hơn. Mark Anders, quản lý của nhóm IIS và Scott Guthrie, gia nhập Microsoft vào
năm 1997 sau khi tốt nghiệp Đại học Duke, được giao nhiệm vụ định hình mô hình cần
phát triển. Những thiết kế ban đầu được thực hiện trong vòng 2 tháng bởi Anders và
Guthrie, Guthrie đã viết mã prototype đầu tiên trong khoảng thời gian nghỉ lễ Giáng sinh
năm 1997.
ASP.NET không phải phiên bản nâng cấp từ ASP mà là một thế hệ tiếp nối của ASP
Trang 24
Luận văn tốt nghiệp Xây dựng website bán coupon
Hình Quá trình xử lý tập tin .aspx
3.3.6.2 Khác biệt giữa ASP.NET và ASP
ASP.NET được phác thảo (re-design) lại từ số không, nó được thay đổi tận gốc rễ và phát
triển (develop) phù hợp với yêu cầu hiện nay cũng như vạch một hướng đi vững chắc cho
tương lai Tin Học. Lý do chính là Microsoft đã quá chán nãn trong việc thêm thắt và kết
hợp các công dụng mới vào các kiểu mẫu lập trình hay thiết kế mạng theo kiểu cổ điển nên
Microsoft nghĩ rằng tốt nhất là làm lại một kiểu mẫu hoàn toàn mới thay vì vá víu chổ này
chổ nọ vào ASP. Ðó là chưa kể đến nhiều phát minh mới ra đời sau này dựa trên các khái
niệm mới mẻ theo xu hướng phát triển hiện nay của công nghệ Tin Học (Information