TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
KHOA KẾ TOÁN
~~~~~~*~~~~~~
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP CHUYÊN NGÀNH
Đề tài :
HOÀN THIỆN QUY TRÌNH KIỂM TOÁN KHOẢN MỤC
THUẾ GTGT TRONG KIỂM TOÁN BCTC DO CÔNG TY
TNHH TƯ VẤN KẾ TOÁN VÀ KIỂM TOÁN VIỆT NAM
THỰC HIỆN
Giảng viên hướng dẫn : PGS. TS. NGÔ TRÍ TUỆ
Sinh viên thực hiện : NGUYỄN MẠNH HOÀNG
MSSV : CQ481018
Chuyên ngành : KIỂM TOÁN
Khoá : 48
HÀ NỘI - 2010
Chuyên đề thực tập chuyên ngành
LỜI NÓI ĐẦU
Hiện nay, Việt Nam đang là một trong những nước hàng đầu về thu hút đầu tư
trên thế giới và có tốc độ tăng trưởng đứng thứ hai Đông Nam Á. Hơn bao giờ hết,
vấn đề minh bạch trong hoạt động kinh doanh trở thành một yếu tố quyết định để thu
hút đầu tư và phát triển kinh tế.
Cùng với sự tăng trưởng phát triển kinh tế, quyền và nghĩa vụ nộp thuế là hoạt
động không thể thiếu trong quá trình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp.
Chính vì vậy, hoạt động kiểm toán ngày nay đang phát huy vai trò quan trọng của
mình là trong sạch hóa bộ máy kinh tế của các doanh nghiệp hoạt động tại Việt Nam,
trong đó có việc đảm bảo quyền và nghĩa vụ nộp thuế của doanh nghiệp.
Công ty TNHH Tư vấn Kế toán và Kiểm toán Việt Nam AVA là một trong
những công ty cung cấp dịch vụ kiểm toán có chất lượng, là doanh nghiệp kiểm toán
được chấp thuận kiểm toán cho tổ chức phát hành, tổ chức niêm yết và tổ chức kinh
doanh chứng khoán năm 2009. Trong quá trình thực tập ở công ty, em đã tham gia
thực hiện kiểm toán phần hành thuế cho một số doanh ngiệp và nhận thấy vai trò đặc
Lịch sử phát triển của xã hội loài người cho thấy sự xuất hiện của Thuế gắn liền
với nhu cầu chi tiêu của Nhà nước và chức năng điều hành quản lý kinh tế xã hội của
Nhà nước.Thuế là công cụ của Nhà nước để quản lý và điều tiết kinh tế vĩ mô, mỗi sự
thiết lập hay thay đổi trong Luật thuế sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới sự phát triển của nền
kinh tế.
Trên góc độ pháp lý : Thuế là nghĩa vụ pháp lý của các tổ chức và cá nhân phải
chuyển một phần tài sản, thu nhập thuộc quyền sở sở hữu của mình vào ngân sách
Nhà nước.
Trên góc độ tài chính : Thuế là khoản chuyển giao thu nhập bắt buộc của các cá
nhân và pháp nhân cho Nhà nước theo mức độ và thời hạn quy định trong pháp luật
về Thuế nhằm sử dụng cho mục đích công cộng.
Như vậy, Thuế là khoản đóng góp bắt buộc được Nhà nước quy định thành Luật
để mọi công dân ở trong diện nộp Thuế nộp vào ngân sách Nhà nước dùng chi tiêu
cho việc công ích.
Cùng với sự phát triển của các lĩnh vực kinh doanh khác nhau, Nhà nước đã chi
tiết hóa Thuế nhằm phát huy được vai trò của Thuế trong điều tiết, quản lý kinh tế vĩ
mô và tạo nguồn thu cho các hoạt động phúc lợi xã hội, từ đó hình thành thuế GTGT,
thuế xuất nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế môn bài, thuế nhà đất, thuế tài
nguyên, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân,… Sự xuất hiện và điều
tiết của từng loại Thuế trong từng giai đoạn phát triển phụ thuộc vào chính sách của
mỗi quốc gia.
Thuế GTGT xuất hiện ở nước ta từ năm 1997 để thay thế cho thuế doanh thu
trước đây. Việc ra đời của thuế GTGT ở Việt Nam là một bước cải thiện đáng kể hệ
thống chính sách Thuế của Nhà nước trong điều kiện nền kinh tế thị trường, mở cửa
và hội nhập với các nước trong khu vực và quốc tế. Theo luật thuế GTGT số
13/2008/QH12 thì: “Thuế GTGT là thuế tính trên giá trị tăng thêm của hàng hóa
dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng”.
Bản chất của thuế giá trị gia tăng có thể được khái quát như sau :
Thứ nhất, thuế GTGT là loại Thuế gián thu, đối tượng nộp thuế và đối tượng
chịu thuế là khác nhau. Đối tượng nộp thuế GTGT là người sản xuất, cung ứng hàng
GTGT và hướng dẫn trong nghị định và thông tư ban hành kèm theo).
Đối tượng nộp thuế
Đối tượng nộp thuế GTGT là tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh hàng hóa,
dịch vụ chịu thuế GTGT ở Việt Nam, không phân biệt ngành nghề, hình thức tổ chức
kinh doanh và tổ chức tổ chức, cá nhân nhập khẩu hàng hóa chịu thuế GTGT. Như
vậy, xét trong mối quan hệ giữa Nhà nước, người chịu thuế và người nộp thuế thì
người nộp thuế đóng vai trò trung gian thu thuế hộ Nhà nước và nộp thuế hộ người
tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ cuối cùng và NSNN.
Căn cứ tính thuế GTGT
Căn cứ để tính thuế GTGT là giá tính thuế và mức thuế suất
Giá tính thuế GTGT :
Đối với hàng hóa, dịch vụ do cơ sở sản xuất, kinh doanh bán ra giá tính thuế
GTGT là giá bán chưa có thuế GTGT.
Đối với hàng hóa, dịch vụ chịu thuế tiêu thụ đặc biệt, giá tính thuế là giá bán đã
có thuế tiêu thụ đặc biệt nhưng chưa có thuế GTGT.
Đối với hàng hóa nhập khẩu là giá nhập tại cửa khẩu cộng (+) thuế nhập khẩu
(nếu có) cộng (+) thuế tiêu thụ đặc biệt (nếu có).
Đối với hàng hóa, dịch vụ dùng để tiêu dùng nội bộ, biếu tặng, ….giá tính thuế
là giá tính thuế GTGT của hàng hóa, dịch vụ cùng loại hoặc tương đương tại thời
điểm phát sinh các hoạt động này.
Nguyễn Mạnh Hoàng
Kiểm toán 48A
4
Chuyên đề thực tập chuyên ngành
Đối với hàng hóa bán theo phương thức trả góp, trả chậm là giá tính theo giá
bán trả một lần chưa có thuế GTGT của hàng hóa đó, không bao gồm khoản lãi trả
góp, lãi trả chậm.
Đối với hoạt động xây dựng, lắp đặt là giá trị công trình, hạng mục công trình
hay phần công việc thực hiện bàn giao chưa có thuế GTGT. Trường hợp xây dựng,
lắp đặt không bao thầu NVL, máy móc, thiết bị thì giá tính thuế GTGT là giá trị xây
Kiểm toán 48A
Thuế GTGT đầu ra =
Giá tính thuế của
hàng hóa và dịch
vụ chịu thuế
x
Thuế suất thuế GTGT của
hàng hóa dịch vụ đó
5
Số thuế GTGT
phải nộp =
Số thuế GTGT
đầu ra x
Số thuế GTGT đầu vào được
khấu trừ
Chuyên đề thực tập chuyên ngành
luật thuế GTGT số 13/2008/QH12 ngày 03/06/2008, để doanh nghiệp được khấu trừ
thuế GTGT đầu vào phải đáp ứng được các điều kiện sau :
Một là, đơn vị phải có hóa đơn GTGT mua hàng hóa, dịch vụ hoặc chứng từ
nộp thuế GTGT của hàng nhập khẩu.
Hai là, đơn vị phải có chứng từ thanh toán qua ngân hàng đối với hàng hóa,
dịch vụ mua vào có hóa đơn hàng hóa, dịch vụ có giá trị từ 20 triệu đồng trở lên.
Ba là, đối với hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu cần có hợp đồng ký kết với bên nước
ngoài về việc bán, gia công hàng hóa, cung ứng dịch vụ; hóa đơn bán hàng hóa, dịch
vụ; chứng từ thanh toán qua ngân hàng, hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu. Việc
thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu dưới hình thức thanh toán bù trừ giữa
hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu với hàng hóa dịch vụ nhập khẩu, trả nợ thay Nhà nước
được coi là thanh toán qua ngân hàng.
Phương pháp trực tiếp
Theo phương pháp trực tiếp thì số thuế GTGT phải nộp được tính như sau :
1.3.1 Chứng từ, sổ sách và tài khoản sử dụng
a. Chứng từ :
Chứng từ sử dụng để hạch toán, kê khai thuế GTGT là hóa đơn GTGT. Hóa đơn
GTGT do Bộ Tài chính phát hành (được cấp bởi cơ quan Thuế) phải có đầy đủ mã số
thuế, chủng loại hàng hóa, số lượng, số tiền chưa Thuế, số thuế GTGT và tổng giá
Nguyễn Mạnh Hoàng
Kiểm toán 48A
6
Chuyên đề thực tập chuyên ngành
thanh toán. Đối với các hóa đơn có giá trị dưới 100.000 VNĐ, đơn vị phải lập bảng
kê hàng bán lẻ để làm căn cứ tính thuế.
b. Tài khoản :
Theo chế độ kế toán hiện này, để theo dõi các nghiệp vụ phát sinh liên quan tới
thuế GTGT, kế toán đơn vị kinh doanh sử dụng 2 tài khoản sau đây :
Tài khoản 133 - Thuế GTGT được khấu trừ. TK này dùng để phản ánh số thuế
GTGT đầu vào được khấu trừ, đã khấu trừ và còn được khấu trừ của DN. TK 133 chỉ
áp dụng đối với DN thuộc đối tượng nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ
thuế, không áp dụng đối với hàng hóa, dịch vụ thuộc đối tượng chịu thuế GTGT theo
phương pháp trực tiếp và hàng hóa không thuộc đối tượng chịu thuế GTGT.Tài
khoản 133 - Thuế GTGT được khấu trừ, có 2 tài khoản cấp 2:
• TK 1331 – Thuế GTGT được khấu trừ của hàng hóa, dịch vụ.
• TK 1332 – Thuế GTGT được khấu trừ của TSCĐ.
Tài khoản 3331 – Thuế GTGT phải nộp. TK 3331 phản ánh số thuế GTGT đầu
ra phải nộp cho hàng hóa, trong nước và hàng hóa xuất khẩu. Tài khoản này được sử
dụng cho cơ sở kinh doanh nộp thuế theo phương pháp khấu trừ hoặc phương pháp
trực tiếp. TK3331- Thuế GTGT phải nộp, được chi tiết thành :
• TK 33311 – Thuế GTGT đầu ra phải nộp khi bán sản phẩm, hàng hóa;
cung cấp dịch vụ.
• TK 33312 – Thuế GTGT của hàng nhập khẩu.
c. Sổ sách :
vụ của toàn xã hội. Thuế GTGT là một bộ phận quan trọng trong hệ thống thuế của
Nhà nước, do đó để nghiên cứu những vấn đề liên quan đến thuế GTGT, chúng ta cần
hiểu vai trò của nó đối với toàn bộ nền kinh tế xã hội.
Nguyễn Mạnh Hoàng
Kiểm toán 48A
TK 111,112,331… TK 151,152,156,211…
TK 133 TK 3331
TK 711
TK 511,512,515,3387…
TK 111,112,131…
(3)
(1)
(1) (2)
(2)
(4)
(5)
(6)
8
Chuyên đề thực tập chuyên ngành
Thứ nhất, thuế GTGT là một nguồn thu chủ yếu của NSNN. Thuế nói chung và
thuế GTGT nói riêng là công cụ hữu hiệu bậc nhất trong việc phân phối, điều tiết lợi
tức quốc dân, góp phần tăng nguồn thu NSNN, giảm bội chi, ổn định trật tự xã hội và
dự trữ tài chính cho Nhà nước nhằm phát triển kinh tế lâu dài.
Thứ hai, thuế là công cụ quản lý và điều tiết nền kinh tế vĩ mô. Thuế GTGT có
khả năng điều tiết sản xuất và tiêu dùng cao, nó là công cụ quản lý hướng dẫn và
khuyến khích phát triển sản xuất, giảm nguy cơ lạm phát, nâng đỡ những hoạt động
sản xuất kinh doanh có lợi theo đường lối chính sách phát triển của Nhà nước, qua đó
thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Ngoài ra, thuế GTGT có tác dụng khuyến khích và thúc
đẩy xuất khẩu, tạo sự bình đẳng giữa hàng hóa trong và ngoài nước.
Tiếp đó, thuế GTGT góp phần bảo đảm bình đẳng giữa các thành phần kinh tế
Nguyễn Mạnh Hoàng
Kiểm toán 48A
9
Chuyên đề thực tập chuyên ngành
- Khấu trừ giữa thuế GTGT đầu vào được khấu trừ với số thuế phải nộp giữa
các chi nhánh khi lập báo cáo tài chính hợp nhất không chính xác.
- Sự khác nhau về số liệu giữa các tờ khai thuế và Báo cáo thuế GTGT không
giải thích được nguyên nhân.
- Tính toán không chính xác giữa thuế GTGT đầu vào được khấu trừ và thuế
GTGT đầu ra, không hạch toán rõ ràng các mức thuế suất, không thể phân thành các
mức thuế suất cụ thế.
b. Đối với thuế GTGT đầu ra phải nộp
- Kiểm soát, quản lý và ghi nhận thuế GTGT đầu ra không phù hợp với luật
định: không phát hành hóa đơn khi bán hàng, áp dụng sai thuế suất, tính toán sai giá
tính thuế,…
- Không hạch toán tách biệt giữa hàng hóa dịch vụ không chịu thuế và hàng
hóa dịch vụ áp dụng mức thuế suất 0%.
- Những chứng từ, tài liệu như hóa đơn, hợp đồng, phiếu thu,… và các tài liệu
đặc thù cho những giao dịch kinh tế như hợp đồng thuế tài sản, hợp đồng xây dựng,
hợp đồng xuất nhập khẩu… không phù hợp với luật định
- Khi phát sinh các khoản giảm trừ doanh thu, thuế GTGT đầu ra được ghi
giảm khi chưa có các chứng từ cần thiết như : biên bản thỏa thuận hàng bán bị trả lại,
hóa đơn xuất lại hàng hóa,…
Trên góc độ kiểm toán, yêu cầu đặt ra hiện nay là cần đảm bảo khoản mục thuế
GTGT được trình bày trên BCTC một cách trung thực, hợp lý, phán ánh đúng số thuế
GTGT phải nộp của DN. Vì thế, để đảm bảo có thể đưa ra kết luận khách quan và
phát hiện những sai sót trọng yếu, KTV cần thường xuyên cập nhật văn bản pháp luật
về thuế GTGT, nắm vững quy trình hạch toán kế toán, đồng thời, phối hợp chặt chẽ
với KTV phần hành khác trong quá trình làm việc tại đơn vị khách thể kiểm toán.
1.4.3 Mục tiêu kiểm toán khoản mục thuế GTGT trong kiểm toán BCTC
Luật thuế GTGT hiện hành.
Đo lường và tính giá
Thuế GTGT được khấu trừ, thuế GTGT phải nộp trên sổ sách phải
được tính toán đúng theo mức thuế suất, giá tính thuế theo quy định
hiện hành.
Phân loại và trình bày
Các nghiệp vụ liên quan tới thuế GTGT phải được phân loại và trình
bày đúng đắn trên sổ sách kế toán và hệ thống BCTC.
1.4.4 Quy trình kiểm toán khoản mục thuế GTGT
Quy trình kiểm toán thuế GTGT được tiến hành tuân theo quy trình chung của
cuộc kiểm toán BCTC bao gồm 3 giai đoạn : Lập kế hoạch kiểm toán, thực hiện kiểm
toán và kết thúc kiểm toán.
a. Lập kế hoạch kiểm toán
Lập kế hoạch kiểm toán là bước đầu tiên của mỗi cuộc kiểm toán nhưng có tính
chất định hướng cho toàn bộ cuộc kiểm toán. Trên góc độ kiểm toán thuế, bước này
có ý nghĩa đặc biệt quan trọng vì nó giúp cho kiểm toán viên nắm bắt được với đặc
thù như vậy sẽ chịu những loại thuế gì, mức thuế suất ra sao, doanh nghiệp có nằm
trong đối tượng được miễn giảm thuế hay không, doanh nghiệp thực hiện tính thuế
theo phương pháp nào...Để làm được điều này, kiểm toán viên cần thu thập những
biên bản trao đổi thông tin giữa khách hàng với cơ quan thuế, biên bản quyết toán
thuế, và biên bản của thanh tra thuế, những văn bản này sẽ giúp kiểm toán viên
khoanh vùng được rủ ro, đánh giá được việc quản lý thuế của khách hàng và định
hướng được cách thức sẽ kiểm tra. Ngoài ra, điều này còn đồng nghĩa với việc kiểm
toán viên phải nắm bắt được những quy định trong các văn bản pháp lý hiện hành
liên quan tới khoản mục kiểm toán.
Đối với khoản mục thuế nói chung, cách tiếp cận của kiểm toán viên thường là
kiểm tả chi tiết vì các doanh nghiệp thường có xu hướng tối thiểu hóa lượng thuế
phải nộp cho Nhà nước. Tuy nhiên, với khoản mục thuế GTGT, các thử nghiệm kiểm
soát được sử dụng vì nó còn liên quan trực tiếp đến quy trình bán hàng và mua hàng,
nên tất yếu đòi hỏi tự thân mỗi phải duy trì hệ thống kiểm soát nội bộ đối với việc
Công việc cuối cùng trong giai đoạn lập kế hoạch là thiết kế chương trình
kiểm toán nhằm dự kiến chi tiết về các công việc kiểm toán cần thực hiện, thời gian
hoàn thành và sự phân công lao động giữa các KTV cũng như dự kiến về tư liệu,
thông tin liên quan cần sử dụng và thu thập phục vụ cho công việc kiểm toán thuế
GTGT. Đối với phần hành kiểm toán thuế, thường có nhu cầu phối hợp với bộ phận
tư vấn thuế để giải quyết những tình huống thuế phức tạp phát hiện được trong cuộc
kiểm toán.
b. Thực hiện kiểm toán
Thực hiện thử nghiệm kiểm soát
Thử nghiệm kiểm soát sẽ bao gồm việc thực hiện việc đánh giá hệ thống KSNB
trên 3 mặt : có tồn tại hay không, có hiệu quả hay không và có được duy trì liên tục
hay không. Kết thúc giai đoạn này, KTV sẽ đưa ra đánh giá về rủi ro kiểm soát.
Nguyễn Mạnh Hoàng
Kiểm toán 48A
12
Chuyên đề thực tập chuyên ngành
Biểu 1.2 : Khảo sát kiểm soát chủ yếu đối với khoản mục thuế GTGT
Mục tiêu kiểm soát nội
bộ
Thủ tục khảo sát kiểm soát
Tính tuân thủ
- Kiểm tra biên bản quyết toán thuế của các năm gần nhất,
kiểm tra các phần giảm trừ khai báo, tăng lượng phải nộp,
thuế GTGT được khấu trừ, thuế GTGT không được khấu trừ,
thuế GTGT hoàn lại.
- Phỏng vấn kế toán thuế về chính sách thuế áp dụng so sánh
với chính sách thuế hiện hành.
- Kiểm tra việc phê chuẩn có đúng thẩm quyền hay không,
đồng thời, KTV kiểm tra tính đầy đủ, hợp lệ của các chứng
từ, biên bản liên quan đến thuế GTGT.
thu, chi phí để có tìm ra nguyên nhân của sự thay đổi các tỷ suất.
* Trắc nghiệm trực tiếp số dư :
Nguyễn Mạnh Hoàng
Kiểm toán 48A
13
Chuyên đề thực tập chuyên ngành
Giai đoạn này, KTV tiến hành kiểm tra soát xét chi tiết đối với khoản mục thuế
GTGT, bước công việc này gồm một số thủ tục sau :
- Kiểm tra xem xét số dư đầu kỳ của thuế GTGT bằng cách đối chiếu số dư thuế
GTGT đầu kỳ phản ánh trên BCTC có thống nhất với số dư của báo cáo tài chính đã
được kiểm toán năm trước hay không.
- Sau đó, xem xét số dư cuối kì và phát sinh tăng giảm trong kì của khoản mục
thuế GTGT trên bảng cân đối phát sinh và bảng cân đối kế toán có đồng nhất với sổ
cái hay không.
- Đối với thuế GTGT được khấu trừ và phải nộp kiểm toán viên cần phải thực
hiện tính toán lại để kiểm tra tính hợp lý dựa trên doanh thu hàng hóa dịch vụ bán ra
và chi phí hàng hóa dịch vụ mua vào từ đó so sánh với số thuế kê khai của doanh
nghiệp để xác định việc kê khai tính thuế đã được thực hiện đầy đủ chưa? Nếu có
chênh lệch cần tìm ra nguyên nhân
- Đối chiếu lượng thuế phải nộp hàng tháng với số liệu trên tờ khai thuế GTGT
hàng tháng và với biên bản quyết toán thuế.
- Kiểm tra chi tiết sổ sách, chứng từ nộp tiền thuế GTGT vào NSNN (Phiếu chi
tiền mặt, Phiếu thu của Kho bạc Nhà nước, giấy báo nợ của ngân hàng)
- Xem xét lượng thuế còn phải nộp (hoặc sẽ được khấu trừ ) cuối kì có khớp với
số phải nộp và đã nộp trong kì hay không.
- Chọn mẫu hóa đơn chứng từ các nghiệp vụ hạnh toán thuế GTGT để kiểm tra chi tiết
Đối với từng mẫu chọn, kiểm toán viên sẽ xem xét hàng hóa mua (bán ra) chịu mức
thuế suất nào, có chứng từ kế toán đầy đủ cho việc ghi nhận hay không. Trong đó, kiểm
toán viên cần đặc biệt lưu ý tới những hàng hóa có mức thuế suất thấp (0% hoặc 5%) đối
chiếu với danh mục các hàng hóa này trong luật và quy định hiện hành của Nhà nước.
Bước 1 : Đánh giá khách hàng và chấp nhận hợp đồng
Trước khi tiến hành kiểm toán khoản mục thuế GTGT, KTV cần thực hiện
đánh giá và chấp nhận khách hàng mới, hoặc tiếp tục thực hiện kiểm toán đối với đối
tác cũ. Bước công việc này giúp BGĐ công ty nắm được sơ bộ những thông tin về
khách hàng như : lịch sử hình thành, ngành nghề kinh doanh, doanh thu các năm, kết
quả kiểm toán các năm trước,… qua đó đánh giả khả năng thực hiện hợp đồng kiểm
toán và đề nghị mức giá phí phù hợp.
Bước 2 : Hình thành kế hoạch kiểm toán sơ bộ
Sau khi chấp nhận hợp đồng, BGĐ sẽ thỏa thuận với khách hàng về phạm vi,
các điều khoản của cuộc kiểm toán, lịch trình công việc, các nguồn lực cần thiết (đặc
biệt là nhân lực thực hiện) cho cuộc kiểm toán dựa trên quy mô, bản chất hoạt động
kinh doanh và mức độ phức tạp của cuộc kiểm toán. Đối với khoản mục thuế GTGT,
trưởng nhóm kiểm toán sẽ chỉ định một KTV có kinh nghiệm, am hiểu về luật thuế
cũng như ngành nghề kinh doanh của khách hàng thực hiện.
Bước 3 : Thu thập thông tin về khách hàng
a. Đánh giá hệ thống KSNB của khách hàng
Công ty AVA thực hiện tìm hiểu về hệ thống KSNB của khách hàng thông
qua bảng câu hỏi kết hợp phỏng vấn và quan sát hoạt động tại đơn vị khách hàng.
Đối với kiểm toán thuế GTGT, KTV tiến hành phỏng vấn BGĐ, kế toán trưởng, kế
toán thuế GTGT về các thủ tục mà họ thiết lập đối với khoản mục thuế đồng thời
quan sát quá trình thực hiện kế toán từ khâu tiếp nhận hóa đơn, ghi sổ và kê khai.
Đồng thời, KTV mô tả lại các thủ tục kiểm soát của khách hàng trên giấy tờ làm việc
(GTLV) và đánh giá hệ thống KSNB. Nội dung của của việc đánh giá hệ thống
KSNB đối với phần hành thuế GTGT bao gồm :
• Thiết kế quy chế kiếm soát và thiết kế bộ máy KSNB. Từ bảng câu hỏi
và bảng mô tả hệ thống KSNB đối với khoản mục thuế GTGT, KTV nhận
diện các quy chế kiếm soát mà khách hàng thiết lập đồng thời đánh giá về
tính đầy đủ của các quy chế kiểm soát cần thiết đối với khoản mục thuế
GTGT.
Nguyễn Mạnh Hoàng
trọng yếu xác định cho khoản mục thuế, rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát, KTV sẽ
xác định phương pháp kiểm toán sẽ được áp dụng đối với khoản mụ thuế GTGT.
a. Thiết kế thử nghiệm kiểm soát
Nếu hệ thống KSNB đối với khoản mục thuế được KTV đánh giá là có hiệu
quả, AVA thiết kế các thử nghiệm kiểm soát dựa vào hệ thống kiểm soát của khách
hàng. KTV thực hiện phỏng vấn kế toán trưởng và kế toán thuế về quy trình thực
hiện phần hành thuế GTGT, quan sát trình tự thực hiện từ khi tiếp nhận hóa đơn đến
khi lập bảng kê khai và quyết toán thuế GTGT, thu thập biên bản đối chiếu thuế
GTGT, chọn mẫu đối chiếu tờ khai thuế GTGT với sổ sách.
b. Thiết kế thử nghiệm cơ bản
AVA xây dựng mẫu chương trình kiểm toán thuế chung và thủ tục kiểm toán
khoản mục thuế GTGT với khách hàng. Tùy thuộc vào đánh giá về hệ thống KSNB
đối với khoản mục thuế GTGT mà KTV sẽ có sự điều chỉnh phù hợp với đặc điểm
Nguyễn Mạnh Hoàng
Kiểm toán 48A
16
Chuyên đề thực tập chuyên ngành
khách hàng.
KTV sẽ tăng số lượng các thủ tục kiểm tra chi tiết, số lượng mẫu chọn và quy
mô mẫu nếu hệ thống KSNB được đánh giá là kém hiệu quả (hoặc không tồn tại)
tương ứng mức rủi ro kiểm soát ở mức độ cao và ngược lại.
2.1.2 Thực hiện kiểm toán
Trong giai đoạn này, KTV sẽ thực hiện các trắc nghiệm được thiết kế trong
chương trình kiểm toán để thu thập các bằng chứng kiểm toán thuế GTGT.
a. Thực hiện thử nghiệm kiểm soát
KTV thực hiện các thủ tục được thiết kế nhằm đánh giá các quy chế kiểm soát
tại đơn vị khách hàng có được thiết kế đẩy đủ và thực sự hữu hiệu trong việc ngăn
ngừa, phát hiện, sửa chữa đối với các sai phạm về việc hạch toán, kê khai, quyết toán
thuế và nộp thuế GTGT. Bên cạnh đó, KTV cũng phải thu thập các bằng chứng
chứng minh các quy chế kiểm soát được khách hàng tuân thủ và thực hiện thường
• Lập bảng tổng hợp chi tiết thuế GTGT theo số Dư đầu kì, phát sinh trong kì,
số dư cuối kì TK 133, 3331.
• Thực hiện đối chiếu số dư đầu kì của thuế GTGT đầu vào, số dư cuối kì của
thuế GTGT đầu ra được phán ánh trên BCTC với số dư cuối kì của hai khoản
mục này trên BCTC năm trước.
• Đối chiếu số dư cuối kì và phát sinh tăng giảm trong kì của khoản mục thuế
GTGT trên bảng CĐPS và bảng CĐKT có đồng nhất với số dư trên Sổ Cái.
• Lập bảng tổng hợp thuế GTGT đầu vào và thuế GTGT đầu ra với tờ khai thuế.
Tìm hiểu nguyên nhân chênh lệch (nếu có).
• Đối chiếu ngày phát hành hóa đơn và ngày kê khai thuế GTGT để kiểm tra các
hóa đơn đã hết hạn kê khai.
• Tính toán lại thuế GTGT đầu ra và so sánh với số thuế kế khai của doanh
nghiệp, đồng thời tìm hiểu rõ nguyên nhân.
• Tình toán lại số thuế GTGT còn phải nộp ( hoặc số thuế còn được khấu trừ)
căn cứ vào số thuế GTGT đầu vào và thuế GTGT đầu ra trên tờ khai và đối
chiếu với số còn phải nộp(còn được khấu trừ ) trên tờ khai.
• Kiểm tra chi tiết sổ sách, chứng từ nộp tiền thuế GTGT vào NSNN ( phiếu Chi
tiền mặt, phiếu Thu của Kho bạc, giấy báo Nợ của ngân hàng…)
• Chọn mẫu các tháng có phát sinh hay biến động lớn để kiểm tra chi tiết hóa
đơn về mã số thuế, tên công ty, chữ ký phê chuẩn, con dấu,… và các chứng từ
liên quan.
• KTV cần lưu ý tới những hàng hóa có mức thuế suất thấp ( 0% và 5% ) đối
chiếu với danh mục hàng hóa này theo quy định về thuế hiện hành. Nếu hàng
hóa được miễn thuế cần có chứng từ phê chuẩn của cơ quan có thẩm quyền.
Nếu hàng hóa xuất khẩu ( hoặc nhập khẩu), bên cạnh hóa đơn, cần phải có đầy
đủ hồ sơ và chứng từ liên quan như : hợp đồng, tờ khai hải quan, vận đơn…
2.2 Thực trạng áp dụng quy trình kiểm toán thuế GTGT trong kiểm toán tại
hai khách hàng của công ty TNHH Tư vấn Kế toán và Kiểm toán Việt
Nam
Mặc dù mới thành lập, AVA hiện đang là một trong những công ty kinh doanh
STT Nội dung đánh giá Tham
chiếu
Có Không Không
áp dụng
1 Rủi ro kinh doanh và những vấn đề liên
quan đã được xem xét
2 Mục tiêu kiểm toán trọng yếu và những
vấn đề quan trọng trong báo cáo đã được
xem xét
3 Phương pháp kiểm toán hệ thống được áp
dụng cho khách hàng
4 Sự cần thiết của đồng kiểm soát/xem xét
của PGĐ thứ hai
5 Kiểm toán trong môi trường tin học
6 Sự cần thiết của các chuyên gia
Nguyễn Mạnh Hoàng
Kiểm toán 48A
19
Chuyên đề thực tập chuyên ngành
7 Sự quan tâm đến dịch vụ mà khách hàng
mong đợi
8 Vấn đề quan trọng khác cần được xem xét
(tham khảo)
( Nguồn : Hồ sơ kiểm toán AVA )
Nguyễn Mạnh Hoàng
Kiểm toán 48A
20
Chuyên đề thực tập chuyên ngành
(Một trăm bốn mươi ba tỷ đồng chẵn).
Các thành viên của Hội đồng thành viên và Ban Giám đốc đã tham gia điều hành trong năm và tại
ngày lập Báo cáo tài chính này bao gồm:
Hội đồng thành viên
Ông Đỗ Duy Phi Chủ tịch
Ban Giám đốc
Ông Lê Văn Hùng Tổng Giám đốc
Ông Nguyễn Hữu Thọ Phó Tổng Giám đốc
Ông Hoàng Minh Đức Phó Tổng Giám đốc
2. Tình hình kinh doanh của khách hàng
a.Ngành nghề : Lĩnh vực kinh doanh chính của công ty theo giấy đăng kí kinh doanh bao
gồm:
- Sản xuất, mua bán vật tư, thiết bị ngành hóa chất. Các hoạt động nghiên cứu thử nghiệm
các dịch vụ khác;
- Kinh doanh vận chuyển hàng hóa bằng ô tô – đường thủy;
- Kinh doanh nhà hàng, kinh doanh lữ hành nội địa, khách sạn (chỉ làm văn phòng giao dịch,
không kinh doanh tại TP. Hồ Chí Minh);
- Sản xuất, mua bán vật tư, sản phẩm ngành hóa chất phân bón (trừ hóa chất có tính độc hại
mạnh, không sản xuất hóa chất tại TP. Hồ Chí Minh);
- Gia công, chế tạo, lắp đặt thiết bị chuyên dùng, đường ống công nghệ và đường ống dùng
trong ngành cấp thải nước công nghiệp (không chịu áp lực – trừ tái phế thải kim loại, xi mạ
điện, luyện kim đúc);
- Khai thác và chế biến khoáng sản (không chế biến tại trụ sở);
- Mua bán nguyên liệu cao su thiên nhiên.
b. Đặc điểm môi trường kinh doanh
Năm 2009 là năm khủng hoảng của nền kinh tế thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng,
Biểu 2.3.a : Bảng câu hỏi chi tiết tìm hiểu hệ thống KSNB khoản mục
thuế GTGT của KHA
Các vấn đề chung Kết quả
1. Đơn vị có lưu trữ các biên bản quyết toán thuế hiện có
của các năm trước không?
Có
2. Thuế được theo dõi và phân loại trong các tài khoản
nào? Có phù hợp không?
Tài khoản 1331, 3331
3. Khi tiếp nhận hóa đơn, kế toán có hạch toán và ghi sổ
ngay không?
Không – Hóa đơn được
kê theo từng đợt 2 hoặc 3
ngày
4. Kế toán có biện pháp gì để tách biệt giữa hóa đơn đã ghi
sổ với hóa đơn chưa ghi sổ?
Không
5. Trước khi ghi sổ, kế toán có thực hiện kiểm tra lại việc
tính toán số tiền trên hóa đơn, mã số thuế, nội dung và bảo
Không ( Kế toán cho rằng
hóa đơn đã hoàn toán
Nguyễn Mạnh Hoàng
Kiểm toán 48A
22
Chuyên đề thực tập chuyên ngành
đảm hóa đơn hợp lý mới ghi sổ không? phán ánh đúng nội dung)
Thuế GTGT
1. Mức thuế suất đối với thuế GTGT đầu ra của đơn vị là bao
nhiêu?
- Sản phẩm phân bón,
c. Đơn vị có tính thuế GTGT trên hóa đơn không? Có ghi
rõ mục đích xuất dùng không
Có phát hành hóa đơn
8. Đơn vị có xuất sản phẩm, hàng hóa, thành phẩm để tiêu
dùng không phục vụ SXKD hoặc cho SXKD hàng hóa, dịch
vụ không chịu thuế GTGT hay không?
Không
9. Đơn vị có hàng hóa thuộc diện được miễn giảm thuế GTGT
hay không?
Không có hàng hóa miễn
thuế
10. Công ty có kê khai thuế GTGT đầu vào muộn hơn 6 tháng
sau ngày hóa đơn được phát hành không?
Không
(Nguồn : Hồ sơ kiểm toán AVA)
Nguyễn Mạnh Hoàng
Kiểm toán 48A
23
Chuyên đề thực tập chuyên ngành
Sau khi hoàn thành bảng câu hỏi, KTV mô tả lại lại quy trình KSNB được thiết lập
tại đơn vị khách hàng đối với khoản mục thuế GTGT tại đơn vị.
Biểu 2.3.b: Mô tả hệ thống KSNB khách hàng A
Khách hàng : công ty cổ phần A
Tham chiếu: O
02
Niên độ : 1/1/2009-31/12/2009 Người thực hiện CTA 14/02/2010
Nội dung : Tìm hiểu hệ thống KSNB khách
hàng
Người kiểm tra NST 22/02/2010
VAT đầu vào: VAT hàng nội địa
Chuyên đề thực tập chuyên ngành
của khách hàng, nói cách khác, mức trọng yếu là mức mà ở đó các sai phạm có thể
chấp nhận được.
Biểu 2.4 : Các chỉ tiêu xác định mức trọng yếu
Chỉ tiêu xác định mức trọng yếu Tỷ lệ xác định mức trọng yếu
1. Tổng tài sản 0.05% – 1%
2. Tổng doanh thu 0.5% - 1%
3. Tổng lợi nhuận trước thuế 5% - 10%
Tùy theo sự đánh giá của KTV, mà chỉ tiêu nào sẽ được sử dụng để đánh giá
mức trọng yếu. Sau khi xác định mức sai phạm tối đa có thể chấp nhận cho toàn bộ
BCTC, KTV sẽ tiến hành phân bổ mức trọng yếu cho các khoản mục được kiểm
toán. Trong quá trình kiểm toán, mức trọng yếu này có thể được điều chỉnh nếu như
có sự thay đổi đáng kể so với khâu lập kế hoạch. Tại AVA, trong quá trình kiểm toán,
việc xác định mức trọng yếu cho khoản mục thuế GTGT thường được làm theo kinh
nghiệm và khả năng xét đoán của KTV.
Do công ty cổ phần A là khách hàng kiểm toán năm đầu tiên của AVA, sự hiểu
biết và kinh nghiệm của KTV đối với gian lận, sai sót của khoản mục thuế GTGT là
không nhiểu nên rủi ro tiềm tàng đối với khoản mục thuế GTGT được đánh giá ở
mức cao. Mặt khác, rủi ro kiểm soát do hệ thống KSNB đối với thuế GTGT cũng
được đánh giá ở mức độ cao nên để mức rủi ro kiểm toán ở mức có thể chấp nhận
được thỉ KTV phải hạ thấp rủi ro phát hiện bằng cách thực hiện quy trình kiểm toán
một cách phù hợp, tăng cường số lượng bằng chứng kiểm toán cần thu thập và thận
trọng khi đưa ra kết luận đối với khoản mục thuế GTGT.
f. Thiết kế chương trình kiểm toán
Thiết kế chương trình kiểm toán thuế GTGT là khâu cuối cùng trong giai đoạn
lập kế hoạch kiểm toán. Trưởng nhóm kiểm toán sẽ tiến hành soạn thảo chương trình
kiểm toán và giao nhiệm vụ cho từng thành viên trong nhóm. Chương trình kiểm toán
được lập dựa trên đặc điểm tình hình hoạt động và quy mô đối tác khách hàng. Trên
thực tế, AVA đã xây dựng một chương trình kiểm toán mẫu cho các khoản mục, vì
thể trưởng nhóm kiểm toán sẽ điều chỉnh cho phù hợp với từng khách hàng cụ thể.