Luận văn Một số kiến nghị và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động ủy thác tại công ty tài chính dầu khí - Pdf 13

Lời mở đầu
Việt Nam đã và đang trên con đờng đổi mới nền kinh tế theo hớng
công nghiệp hóa hiện đại hóa. Một trong những vấn đề đợc mọi ngời quan
tâm nhất hiện nay là làm sao để đẩy mạnh hiệu quả hoạt động của các tổng
công ty Nhà nớc nhằm có thể cạnh tranh hiệu quả trên thị trờng thế giới và
giữ đợc vị trí chủ đạo trong nền kinh tế đất nớc.
Việc giải quyết vấn đề trên theo hớng thành lập các tập đoàn kinh tế
Nhà nớc hiện nay đòi hỏi các tổng công ty phải tự hoàn thiện mình về cơ cấu
tổ chức dẫn tới sự thành lập các công ty tài chính thuộc Tổng công ty. Vấn
đề có thành lập hay không các công ty tài chính này là một vấn đề nhạy cảm
nhng thực tế là các công ty này muốn chứng tỏ sự tồn tại của mình là một sự
tất yếu phù hợp các qui luật kinh tế thì phải chứng tỏ chúng thực sự hoạt
động có hiệu quả.
Kết quả hoạt động của công ty phụ thuộc vào kết quả hoạt động của
các nghiệp vụ chủ yếu mà một trong số đó là nghiệp vụ ủy thác. Đây vốn là
một nghiệp vụ chủ yếu của các ngân hàng thơng mại nhng ngày càng đợc mở
rộng cho các tổ chức tài chính trung gian khác và riêng vốn ủy thác đợc coi
là một trong những nguồn tạo vốn cơ bản cho các công ty tài chính thuộc
tổng công ty tại Việt Nam. Nghiệp vụ ủy thác bên cạnh việc giải quyết tốt
nhiệm vụ làm đầu mối trong quá trình chu chuyển vốn trong ngành còn thể
hiện đợc rõ nét tính trung gian của công ty tài chính, tách quyền sở hữu và
quyền sử dụng vốn phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế đang trong quá
trình chuyên môn hóa cao độ.
Vì vậy, trong quá trình thực tập tại công ty tài chính dầu khí em đã rất
quan tâm tới nghiệp vụ này và đợc sự hớng dẫn tận tình của cô giáo Nguyễn
Thị Kim Quý và sự giúp đỡ, hớng dẫn của các anh chị tại công ty tài chính
dầu khí em đã quyết định chọn vấn đề này làm đề tài tất nghiệpvới mong
muốn tìm hiều xem nghiệp vụ này là gì, đóng góp nh thế nào cho sự phát
triển của công ty tài chính dầu khí nói riêng và cho những mục đích thành
lập công ty tài chính thuộc tổng công ty, hy vọng đóng góp đợc chút gì cho
sự phát triển của công ty.

Tổng công ty nhà nớc là doanh nghiệp nhà nớc có qui mô lớn bao
gồm các đơn vị thành viên có quan hệ gắn bó với nhau về lợi ích kinh tế, tài
chính, công nghệ, thông tin, đào tạo, nghiên cứu, tiếp thị hoạt động trong
một hoặc một số chuyên ngành kinh tế - kỹ thuật chính, do nhà nớc thành lập
nhằm tăng cờng tích tụ, tập trung, phân công chuyên môn hoá và hợp tác sản
xuất để thực hiện nhiệm vụ nhà nớc giao; nâng cao khả năng hiệu quả kinh
doanh của các đơn vị thành viên và của toàn tổng công ty đáp ứng yêu cầu
của nền kinh tế
3
Tổng quát các tập đoàn có ba loại hình tổ chức:
Loại hình thứ nhất: Quan hệ giữa các thành viên tơng đối lỏng lẻo
thông qua các thoả thuận hoặc các cam kết hợp tác, trong hình thức này các
công ty thành viên tham gia tập đoàn có tính độc lập cao; thông thờng cơ sở
tồn tại của loại hình tập đoàn này là các thoả thuận hoặc hợp đồng tạo ra sự
liên kết mèm giữa các thành viên để tăng thêm lợi thế cho nhóm các thành
viên đó.
Loại hình thứ hai: Mối liên kết giữa các thành viên rất chặt chẽ, mức
độ phụ thuộc lẫn nhau cao, các đơn vị thành viên bị hạn chế tính độc lập, cơ
sở kinh tế của sự liên kết chặt chẽ trong nội bộ tập đoàn là quyền sở hữu giữa
các công ty thành viên có sự nắm giữ cổ phiếu của nhau hoặc có một công ty
mạnh nhất chi phối cả tập đoàn.
Loại hình thứ ba: Do sự phát triển cao của thị trờng tài chính, hình
thành kiểu tập đoàn có hạt nhân liên kết là công ty tài chính. Công ty mẹ
(Holding Company) là công ty tài chính nắm giữ cổ phần chi phối của các
công ty con. Sự phát triển cao của thị trờng tài chính và công nghệ thông tin
cho phép một công ty chi phối một hoặc nhiều công ty khác thông qua quyền
sở hữu cổ phiếu do vậy các công ty trong tập đoàn không nhất thiết phải có
mối liên hệ về sản phẩm hay công nghệ kỹ thuật.
Thực hiện chủ trơng của Đảng và Nhà nớc về thành lập các tổng công
ty theo quyết định 90/TTg và 91/TTg ngày 7/3 /1994 của thủ tớng chính phủ,

các công ty tài chính ngày càng khẳng định vị thế và vai trò của mình nh một
định chế tài chính không thể thiếu trong nền kinh tế của mỗi quốc gia.
Công ty tài chính là một tổ chức tài chính trung gian mà hoạt động chủ
yếu và thờng xuyên là:
- Thu hút vốn bằng cách phát hành thơng phiếu, trái phiếu và cổ
phiếu.
- Cho vay chủ yếu la trung và dài hạn
- Thực hiện các nghiệp vụ cho thuê và thuê mua
- Cầm cố các loại hàng hoá, vật t, ngoại tệ, các giấy tờ có giá và
các vật bảo đảm khác
- Thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh vàng bạc, đá quý, mua bán
chuyển nhợng chứng khoán
Cho đến thập kỷ 70, có 3 loại hình công ty tài chính hoạt động phổ
biến là tài trợ tiêu dùng, tài trợ bán lẻ,và tài trợ thơng mại.Từ thập niên 80
5
trở lại đây, các công ty tài chính không ngừng thực hiện đa dạng hoá hoạt
động kinh doanh trên nhiều lĩnh vực nh thuê mua, đầu t tài chính, phát hành
và kinh doanh chứng khoán, đồng thời thực hiện sáp nhập, thôn tính lẫn
nhau để tạo thành các công ty tài chính có qui mô hoạt động lớn, nâng cao
sức cạnh tranh và hiệu quả kinh doanh.
Hoạt động của các công ty tài chính là rất đa dạng và phong phú nh-
ng nhìn chung có thể phân loại nh sau:
Căn cứ vào các hoạt động nghiệp vụ, công ty tài chính đợc chia
thành:
+ Các công ty tài chính bán hàng: cho những ngời tiêu dùng vay để
mua các hàng hoá từ một nhà bán lẻ hoặc một nhà sản xuất khác. Các công
ty tài chính bán hàng trực tiếp cạnh tranh với các ngân hàng về cho vay tiêu
dùng và đợc ngời tiêu dùng sử dụng vì các món vay thờng đợc thực hiện
nhanh hơn và tiện lợi hơn tại nơi mua hàng.
+ Các công ty tài chính ngời tiêu dùng: cho ngời tiêu dùng vay để

của các ngân hàng thơng mại. Chính vì vậy quá trình cho vay của các công
ty tài chính đặc biệt thích hợp với các nhu cầu của các doanh nghiệp và ng-
ời tiêu dùng. Tuy vậy, trong các quốc gia có nền kinh tế phát triển, do yêu
cầu mở rộng phạm vi hoạt động nên các công ty tài chính đều muốn mở
rộng và đa dạng hoá các nghiệp vụ để phục vụ khách hàng của mình nhiều
hơn dẫn đến sự phân chia giữa các tổ chức ngân hàng và các công ty tài
chính ngày càng mờ nhạt.
Các công ty tài chính đang ngày càng phát triển và là một định chế
tài chính không thể thiếu của mỗi quốc gia. Các công ty tài chính có một
lợi thế là họ không gặp phải một hạn chế nào từ phía chính phủ về việc mở
chi nhánh, về những tài sản mà họ có và cách thức huy động vốn. Việc
không có hạn chế giúp cho các công ty tài chính có thể làm phù hợp một
cách tốt hơn các món vay của họ với những nhu cầu của khách hàng hơn là
các tổ chức ngân hàng.Thông qua các công ty tài chính các nguồn vốn nhỏ
hệp trong dân c có thể đợc tập trung lại phục vụ cho nhu cầu về vốn của đất
nớc cũng nh các hoạt động đầu t dài hạn khác.
Các công ty tài chính trong tập đoàn là sản phẩm tất yếu của thị trờng
và là bớc phát triển cao hơn của các tập đoàn kinh doanh, góp phần làm đa
dạng hoá các dịch vụ tài chính và các loại hình tổ chức tín dụng. Sự ra đời
của các công ty tài chính làm tăng thêm nguồn vốn huy động, nâng cao
7
hiệu quả sử dụng vốn trong tập đoàn và nhất là phát huy triệt để sức mạnh
của tập đoàn trên thị trờng tài chính trong và ngoài nớc.
Các công ty tài chính trong tập đoàn đợc thành lập với mục đích ban
đầu là cung cấp các dịch vụ tài chính trợ giúp cho các hoạt động kinh doanh
chủ yếu của tập đoàn nh tài trợ bán hàng, huy động vốn tập trung, quản lý
vốn đầu t ủy thác, điều hoà vốn nhàn rỗi, t vấn và làm đại lý phát hành trái
phiếu trên thị trờng tài chính ; sau đó các công ty tài chính đã từng bớc đa
dạng hoá hoạt động kinh doanh, mở rộng đối tợng phục vụ ra bên ngoài tập
đoàn nh cho khách vay để mua hàng hoá do tập đoàn sản xuất, cho các

đó rút ngắn thời gian và chi phí thẩm định so với các tổ chức tín dụng khác.

1.2. Nghiệp vụ ủy thác
1.2.1. Sự hình thành và phát triển của nghiệp vụ ủy thác
Nghiệp vụ ủy thác có nguồn gốc, xuất xứ từ rất lâu, gần nh là cùng với
sự hình thành và phát triển của ngân hàng thơng mại.
Trong thời kỳ sơ khai của nền kinh tế thị trờng, đã có những nhà buôn,
địa chủ hay thợ kim hoàn, là những ngời có tiền và phát sinh nhu cầu đợc
bảo đảm an toàn về những khoản tiền hay tài sản của mình. Từ đó xuất hiện
những ngời giầu hơn hay có khả năng, đợc kính trọng hơn những ngời khác
đứng ra giữ hộ của cải của ngời khác và nhận đợc một khoản tiền phí nhất
định của những ngời gửi,khi đó nghiệp vụ ủy thác nảy sinh. Sau đó những
ngời này nhận thấy có thể lợi dụng tiền của mọi ngời để cho vay những ngời
có nhu cầu và có lợi hơn nhiều so với nhận phí và do vậy từ việc nhận phí họ
đã tiến tới trả cho những ngời gửi tiền một khoản để thu hút tiền gửi và hình
thành những ngân hàng thơng mại sơ khai. Vậy có thể thấy nghiệp vụ ủy
thác đã xuất hiện từ rất sớm tuy rằng còn sơ khai và khác nhiều so với ngày
nay.
Dễ thấy, ban đầu nghiệp vụ ủy thác dựa trên cơ sở sự tin tởng lẫn nhau
giữa những ngời có quan hệ ủy thác. Vì vậy trong tiếng Anh có thuật ngữ
Trust (có nghĩa là đúng, tín nhiệm, tin tởng ) đợc sử dụng để chỉ tới nghiệp
vụ ủy thác và nó đã cho thấy bản chất của nghiệp vụ ủy thác là nghiệp vụ đợc
thực hiện trên cơ sở của sự tin tởng và sự tín nhiệm lẫn nhau giữa các bên
trong xã hội.
Ban đầu, nghiệp vụ ủy thác đa số chỉ xuất hiện trong những quan hệ cá
nhân với cá nhân và dựa nhiều vào sự tin tởng mang tính cá nhân cao giữa
9
hai bên. Cá nhân có tài sản trên cơ sở nhận thấy một ngời khác có uy tín cao,
có khả năng đảm bảo an toàn hay có khả năng làm cho tài sản của mình sinh
lợi sẽ giao cho ngời đó tài sản của mình để quản lý hay kinh doanh hộ mình.

ty bảo hiểm đã nhanh chân hơn các tổ chức tín dụng khác trong việc phát
triển nghiệp vụ ủy thác cho phép khách hàng có thể yên tâm về sự an toàn
của các tài sản của họ khi ủy thác chúng cho công ty bảo hiểm. Tuy nhiên,
nghiệp vụ ủy thác của công ty bảo hiểm chỉ đợc phép dừng ở mức độ quản lý
tài sản để hởng phí chứ cha nghĩ tới việc sử dụng chúng để sinh lợi.
Trong khi đó thì hệ thống các quỹ tín thác dành cho ngời nghèo đã
nghĩ tới việc sinh lợi cho tài sản của khách hàng khi thực hiện thu gom
những đồng tiền nhỏ bé của ngời nghèo tập trung lại và ủy thác cho ngời
quản lý quỹ để gửi ngân hàng lấy lãi hay đầu t vào chứng khoán để sinh lợi.
Lãi thu đợc sẽ chia theo tỷ lệ tiền gửi của từng ngời. Quỹ này trao cho những
ngời nghèo một cơ hội sinh lợi từ số tiền nhỏ bé của họ, hình thức này đợc
coi nh sự phát triển bậc thấp của dịch vụ ủy thác vốn.
Ngân hàng tuy có chậm hơn trong việc phát triển nghiệp vụ ủy thác nh-
ng lại là tổ chức thực hiện mạnh nhất và trong những năm 50 của thế kỷ 20
nghiệp vụ ủy thác đợc coi là chìa khóa mở ra các hớng hoạt động mới của
ngân hàng thơng mại trong tơng lai. Tại ngân hàng, các tài khoản ủy thác th-
ờng đợc chia rõ tài khoản nào đợc phép mang ra đầu t, cho vay tài khoản
nào chỉ đợc phép quản lý.
Với sự đa dạng của các tổ chức có thực hiện nghiệp vụ ủy thác thì
những ngời có nhu cầu đã có thêm nhiều phơng hớng lựa chọn để họ có thể
lựa chọn đợc ngời nhận ủy thác phù hợp với yêu cầu của họ nhất.
Khi nền kinh tế thị trờng phát triển tới đỉnh cao kéo theo sự phát triển
của mọi mặt và sự phân công lao động sản xuất làm xuất hiện nhiều ngành
nghề mới với sự chuyên môn hóa cao Đặc trng của kinh tế thị trờng là tự do
cạnh tranh, tự do sản xuất, tự do kinh doanh và tự do mậu dịch. Sự phát triển
của nghiệp vụ ủy thác cũng vậy, tự những hình thức sơ khai ban đầu, dần dần
các nghiệp vụ đã đợc hoàn thiện, phát triển thành nhiều loại hình mới nh ủy
thác công việc, ủy thác hàng hoá xuất nhập khẩu, mà trong đó ủy thác vốn
ngày càng trở nên quan trọng và thu hút đợc nhiều sự quan tâm của khách
hàng. Vốn cũng là một loại hàng hóa và có cung, cầu cùng một mức giá cả

cao nhất có thể. Nhng cũng có những ngời mong muốn một mức lợi nhuận
cao hơn dù phải gánh chịu rủi ro cao hơn bàng cách đầu t trực tiếp vào các
dự án hay thị trờng chứng khoán. Tuy nhiên nếu theo phơng pháp này thì nhà
đầu t phải tự mình gánh chịu hoàn toàn rủi ro, phải tự đi thu nhận các thông
12
tin cần thiết. Và đôi lúc lợi nhuận các nhà đầu t nhận đợc không đủ cho các
chi phí mà họ đã phải bỏ ra.
Nhằm trung hoà hai thái cực này, thoả mãn những ngời mong muốn có
lợi nhuận không quá thấp và rủi ro phải chịu không quá lớn thì ngiệp vụ ủy
thác có thể đợc coi là một giải pháp tốt. Từng chứng minh đợc lợi ích của
mình khi thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ ủy thác với các loại hàng hoá thông
thờng hay các công việc mà khách hàng tin cậy giao phó, chuyển sang thực
hiện ủy thác vốn của các khách hàng nghiệp vụ này của các trung gian tài
chính tỏ ra có sức thuyết phục lớn. Những ngời có tiền hay tài sản nhàn rỗi
hay tạm thời nhàn rỗi thì họ có thể sử dụng phơng pháp ủy thác đầu t chứng
khoán thông qua các tổ chức trung gian hay ủy thác tài sản bằng tiền để đầu
t vào các công trình, dự án của một công ty cụ thể hoặc cho tổ chức tín dụng
đầu t hộ mình. Với phơng pháp ủy thác thông qua tổ chức tín dụng, những cá
nhân hay tổ chức có vốn d thừa cha sử dụng có thể an tâm vì với những món
tiền ủy thác này, các tổ chức tín dụng có thể tập hợp lại thành một món tiền
lớn và dung nó đầu t, kinh doanh sinh lời vì họ là những ngời am hiều đối với
việc cho ai vay hay mua loại chứng khoán nào hay đầu t vào dự án nào là có
lợi nhất và lợi thế tiết kiệm chi phí nhờ qui mô.Nh vậy nghiệp vụ ủy thác đã
tiến tới quản lý vốn và tài sản để sinh lời cho khách hàng và bản thân tổ chức
nhận ủy thác.
Tuy ngày nay trên thế giới các ngân hàng thơng mại luôn là tổ chức
thực hiện nghiệp vụ ủy thác với qui mô lớn và dành cho nó sự quan tâm
nhiều nhất nhng càng ngày càng có nhièu tổ chức trung gian tài chính khác
quan tâm nhiều hơn tới nghiệp vụ này trong đó phải kể tới các công ty tài
chính độc lập và các công ty tài chính trong các tập đoàn lớn. Các tập đoàn

nhau tạo ra một hợp đồng ủy thác trong đó có xảy ra việc chuyển nhợng tài
sản từ ngời ủy thác sang ngời nhận ủy thác (hay ngời cung ứng dịch vụ ủy
thác ) để ngời này quản lý, điều hành vì lợi ích của ngời ủy thác hay của ngời
thụ hởng. Còn đối với bên nhận ủy thác thì việc cung cấp một dịch vụ ủy
thác làm nảy sinh mối quan hệ ủy thác, nghĩa là một bên hoạt động vì lợi ích
của bên kia trong phạm vi mối quan hệ của họ và trong hầu hết các trờng hợp
bao gồm việc nắm giữ tài sản đợc điều hành bởi ngời nhận ủy thác vì lợi ích
của một bên hoặc bên thứ ba.
Nh vậy, hoạt động ủy thác là một hoạt động thể hiện rõ tính trung gian
của các tổ chức cung cấp dịch vụ ủy thác. Nó cho phép những ngời không có
14
khả năng kinh doanh, quản lý tài sản hay công việc của mình tìm tới một đội
ngũ những nhà chuyên môn có khả năng hoàn thành những mục tiêu mà họ
mong muốn đối với tài sản hay công việc của mình. Việc này là có lợi không
chỉ xét từ góc độ ngời ủy thác và ngời nhận ủy thác mà còn cho cả xã hội vì
nó làm giảm chi phí chung cho toàn xã hội và hiệu quả hơn cho nền kinh tế
nói chung.
Vậy, ta có thể rút ra: Nghiệp vụ ủy thác là một hành vi theo đó bên
nhận ủy thác (hay đợc ủy thác ) thực hiện việc quản lý tài sản theo cách đã
thỏa thuận với bên ủy thác, thoả thuận này đợc qui định chi tiết bằng văn bản
trong hợp đồng ủy thác, nhằm đem lại lợi ích cho bên ủy thác hay bên thứ
ba-gọi là bên thụ hởng. Tài sản ở đây đợc hiểu theo một ý chung, đó là
một công việc,ý muốn hay là bất động sản, trái phiếu, chứng khoán, tiền
mặt, của một ngời hay một số ngời. Những ngời, có thể là một ngời, có tài
sản đem giao cho ngời khác quản lý hộ đợc gọi chung là bên ủy thác. Bên
tiếp nhận quản lý số tài sản này gọi là bên nhận ủy thác.Trong hoạt động
này, bên ủy thác sẽ trả cho bên nhận ủy thác một khoản tiền để quản lý tài
sản của mình gọi là phí.Mức phí này tuỳ thuộc vào tính chất cũng nh khả
năng sinh lời của tài sản. Các dịch vụ ủy thác phức tạp, mang tính kỹ thuật và
pháp lý cao, do vậy thông thờng khi phát sinh nghiệp vụ ủy thác cụ thể sẽ có

Các dịch vụ ủy thác có thể đợc thực hiện bởi các cá nhân hoặc các tổ
chức, bao gồm các phòng ủy thác của ngân hàng thơng mại hay công ty tài
chính. Nhng vì những thuận lợi mà các tổ chức nhận ủy thác có đợc so với
các cá nhân nên hầu hết dịch vụ ủy thác đều đợc phòng ủy thác của các tổ
chức tài chính trung gian thực hiện. Những thuận lợi này có đợc là nhờ kinh
nghiệm, thâm niên, trách nhiệm tài chính, khả năng đáp ứng các khoản nợ,
chuyên môn hoá, xét duyệt tập thể, tính công bằng và tính thích ứng.Hầu hết
những thuận lợi này phát sinh từ đội ngũ nhân viên chuyên nghiệp làm việc ở
phòng ủy thác. Bởi vì các tổ chức nói chung tồn tại lâu dài, nhân sự có khả
năng và kinh nghiệm có thể đợc thuê để thực hiện các hợp dồng ủy thác và
các dịch vụ ủy thác khác mà công ty đã cam kết.
Hợp đồng ủy thác và dịch vụ ủy thác bao gồm số tiền và tài sản lớn.
Ngời lập ra hợp đồng ủy thác hoặc có các dịch vụ ủy thác khác có quan tâm
đến khả năng tài chính của ngời nhận ủy thác. Có rất ít cá nhân nào có đủ
vốn để đảm bảo với ngời ủy thác rằng họ có đủ khả năng tài chính để đáp
ứng tiêu chuẩn này. (Các dịch vụ ủy thác phải đợc thực hiện đúng hẹn, khẩn
16
trơng, tạo ra các phòng ủy thác của các tổ chức nhạy bén với các cam kết hơn
là các cá nhân có quá nhiều trách nhiệm)
Trong một công trình nghiên cứu nổi bật về dịch vụ ủy thác đã cho
thấy trách nhiệm cơ bản của một ngời nhận ủy thác là trung thành, tuân
theo chỉ thị, có khả năng và siêng năng. Việc tiến hành dịch vụ ủy thác,
lòng trung thành nói lên rất nhiều điều. Ngời nhận ủy thác phải trung thành
với ngời ủy thác và ngời thụ hởng và không bao giờ bị thúc đẩy bởi t lợi. Các
lệ phí thích hợp đối với việc thực hiện các dịch vụ đa ra đợc chấp nhận nhng
việc sử dụng vốn ủy thác cho các lợi ích riêng thì hoàn toàn bị nghiêm cấm.
Khi một bên nhận ủy thác thì có nghĩa là đã có một thoả thuận trong đó bao
gồm sự tin tởng và ủy thác và ngời nhận ủy thác bị ràng buộc phải tuân theo
hợp đồng về mặt pháp lý, phải có các tiêu chuẩn cao về sự thành thực, sự ứng
xử kinh doanh và có trách nhiệm bảo vệ hợp đồng.

để lại đợc gọi là ngời quản lý tài sản và đợc toà án chỉ định, trách nhiệm này
có thể giao cho phòng ủy thác. Ngoài việc phục vụ nh ngời thực hiện di chúc
hay ngời quản lý tài sản, các bộ phận tín thác có thể phục vụ hai khả năng
khác nhau: một là, nh nhà quản lý tài sản bằng di chúc hoặc hai là, nh nhà
quản lý thanh lý tài sản.Bổn phận cơ bản của một ngời quản lý tài sản hay
thực hiện di chúc là xin phép toà án để hành động, thu thập và bảo vệ các tài
sản, chi trả các chi phí điều hành và các khoản nợ, thuế, phân phát tài sản
ròng và cung cấp các dịch vụ cá nhân cho các thành viên trong gia đình.
+ Việc điều hành các ủy thác cá nhân: đây là ủy thác nảy sinh từ một
thoả thuận giữa ngời ủy thác và ngời nhận ủy thác bao gồm việc chuyển nh-
ợng tài sản từ ngời khởi xớng hay ngời ủy thác sang cho ngời nhận ủy thác
để ngời này nắm giữ và điều hành tài sản vì lợi ích của ngời ủy thác hay của
ngời thụ hởng.
+ Đóng vai trò là ng ời giám hộ và ng ời bảo quản tài sản : Khi một ngời
đang trong độ tuổi vị thành niên, đợc xem là không có năng lực pháp lý về
quản lý và nắm giữ tài sản, thừa kế tài sản, một ngời giám hộ đợc chỉ định để
nắm giữ tài sản đó, thông thờng trách nhiệm này đợc giao cho bộ phận ủy
thác.
+Dịch vụ đại diện: dịch vụ này khác đáng kể so với dịch vụ ủy thác
thuần tuý, trên nhiều phơng diện. Trong ủy thác, quyền hành động với các
tích sản ủy thác đợc chuyển sang cho ngời nhận ủy thác nhng trong dịch vụ
đại diện quyền hành đối với tài sản không đợc chuyển sang cho ngời đại diện
18
mà vẫn ở trong tay ngời sở hữu. Một dịch vụ đại diện xảy ra khi một ngời,
thờng đợc gọi là ngời ủy nhiệm, cho phép ngời khác làm đại diện và hành
động thay cho ngời ủy nhiệm.Một dịch vụ đại diện tiêu biểu là một sự dàn
xếp về hợp đồng. Các dịch vụ đại diện thờng ít liên kết chặt chẽ hơn so với
tín thác và có thể chấm dứt ít phức tạp hơn.
b ) Dịch vụ ủy thác đối với các doanh nghiệp
Hầu hết các nghiệp vụ ủy thác đợc thiết lập bởi các doanh nghiệp nhằm

Các công ty cổ phần có nhiều cổ đông thờng không quan tâm đến việc
chi trả lãi đối với các cổ phiếu nên họ nhờ tới phòng ủy thác để phục vụ nh
một đại diện chia lãi cổ phần, phòng ủy thác nhận chi trả cho công ty khi đến
hạn trả lãi cổ phần.
Hiện nay, cùng sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thị trờng thì
nhiều bộ phận ủy thác lớn trong các tổ chức tín dụng đã cạnh tranh mãnh liệt
trong việc đa ra các dịch vụ quản lý đầu t, tách rời khỏi các dịch vụ ủy thác
khác mà nghiệp vụ quan trọng nhất là cung cấp các dịch vụ quản lý cho các
doanh nghiệp. Mục đích của các dịch vụ này là làm cho vốn lu động tạm thời
nhàn rỗi của các doanh nghiệp đợc sinh lợi, càng cao càng tốt, phù hợp với
sự an toàn và thanh khoản hàng ngày. Điều này đợc thực hiện qua việc đầu t
vào các công cụ thị trờng tiền tệ chất lợng cao, các thoả thuận mua lại, quỹ
thị trờng tiền tệ.
c) Dịch vụ ủy thác đợc thực hiện cho các tổ chức từ thiện và những
tổ chức khác:
Họ có thể đóng vai ngời nhận ủy thác cho các tổ chức xã hội dới hình
thức quà biếu để đẩy mạnh việc nghiên cứu, trợ giúp các trờng học, các tổ
chức từ thiện và các tổ chức nhân đạo. Họ có thể đóng vai ngời đại diện quản
lý đầu t đối với quỹ quyên góp.
Sự phân loại nh trên thực chất là dựa nhiều theo mô hình của các ngân
hàng thơng mại nhng cũng có thể áp dụng chung cho các tổ chức tín dụng
khác nh công ty tài chính, bảo hiểm, Cách phân loại này dựa theo tiêu chí
các khách hàng của dịch vụ ủy thác hay là các đối tợng ủy thác, số nghiệp vụ
ủy thác loại này là rất nhiều do có nhiều thành phần kinh tế tham gia vào
quan hệ ủy thác. Sự phân chia trên giúp chúng ta có cái nhìn tổng quát về các
loại hình ủy thác thờng thấy với mỗi đối tợng tham gia ủy thác. Nếu xét
trên giác độ các loại hình ủy thác thì chúng ta có thể phân ra làm ba loại
chính là:
20
+ ủy thác quản lý tài sản

vai trò là trung gian tài chính trong nền kinh tế thị trờng, tiếp nhận và cung
cấp vốn vào các kênh phù hợp với sự phát triển chung của nền kinh tế. Do
đó, tại các tổ chức tín dụng thì nghiệp vụ ủy thác quản lý vốn rất phát triển.
Các tổ chức tín dụng có thể đóng cả hai vai trò ngời nhận ủy thác lẫn ngời ủy
thác. Các tổ chức tín dụng nếu là ngời ủy thác sẽ phải cùng với các cơ quan
nhận ủy thác khác thực hiện việc đầu t số vốn đó vào các dự án, công trình
theo thoả thuận đã ký kết giữa hai bên. Các cá nhân, công ty, doanh nghiệp
cũng thực hiện nghiệp vụ ủy thác vốn nhng kém phát triển hơn và theo luật
thì không phải doanh nghiệp nào cũng đợc thực hiện nghiệp vụ ủy thác vốn.
Vậy nghiệp vụ ủy thác quản lý vốn là hành vi theo đó bên đợc ủy thác
tiến hành nhận quyền quản lý và sử dụng vốn ủy thác từ bên ủy thác và sử
dụng vốn này nh là vốn kinh doanh của mình để sinh lời.Việc kinh doanh
này có thể là đầu t hoặc cho vay lại.
1.3.2. Phân loại ủy thác vốn
Có nhiều hình thức để phân loại nguồn vốn ủy thác dựa trên tính chất,
đặc điểm của nguồn vốn đó. Do đặc điểm nghiên cứu trong công ty tài chính
nên ta sẽ đứng ở vị trí bên nhận ủy thác để phân loại vốn.
A. Phân loại vốn ủy thác theo nguồn giao vốn
Trong quan hệ ủy thác có nhiều bên tham gia nhng phải kể đến đầu
tiên là bên ủy thác do đó ta có thể phân loại vốn theo đặc điểm của đơn vị ủy
thác.
A.1. Nguồn vốn ủy thác từ cá nhân
Các cá nhân cũng có thể tham gia nghiệp vụ ủy thác vốn tuy số tài sản
của họ ủy thác thờng là không lớn. Các cá nhân thực hiện công việc này
nhằm mục đích giao tài sản cho những ngời có khả năng và kinh nghiệm để
chia sẻ rủi ro, giảm thuế và đầu t sinh lời.
A.2. Nguồn vốn ủy thác từ Chính phủ
Số vốn này đợc chính phủ ủy thác cho tổ chức tín dụng nhằm mục đích
qua các tổ chức này có thể đa vốn đến các đơn vị kinh doanh theo yêu cầu
của mình. Lý do của việc chính phủ ủy thác vốn là nhằm mục đích cung cấp

chức tín dụng thực hiện. Trong hình thức này các ngân hàng thờng đợc lựa
chọn vì lợi thế có các mạng lới chi nhánh rộng khắp cả nớc. Tuy vậy cũng có
một số công ty tài chính cũng đợc chọn làm bên nhận ủy thác vì các công ty
23
tài chính có khả năng và tầm nhìn xa, trông rộng hoặc do các công ty nớc
ngoài muốn đa vốn vào các tập đoàn mạnh, nắm giữ những ngành trọng điểm
thì điều tất yếu là sẽ đa vốn ủy thác vào các công ty tài chính của các tập
đoàn này.
A.3.3) Vốn từ các tổ chức tiền tệ thế giới
Mục đích ủy thác vốn của các tổ chức tiền tệ quốc tế cũng giống mục
đích của các chính phủ nớc ngoài. Tuy nhiên, ben nhận ủy thác cũng có thể
không phải là các ngân hàng mà có thể là các công ty tài chính. Việc ủy thác
từ các tổ chức tiền tệ thế giới không chỉ nhằm mục đích sinh lợi riêng mà
còn nhằm mục đích sinh lợi riêng mà còn nhằm mục đích phát triển sản xuất,
tiêu dùng.
A.4. Nguồn vốn ủy thác từ các công ty, tập đoàn, tổ chức tín
dụng trong nớc:
Nguồn này xuất phát từ các tập đoàn đã có công ty tài chính là công ty
con của nó, thờng ủy thác cho công ty tài chính làm đầu mối để từ công ty
này vốn sẽ đợc điều phối tới các công ty con trong tập đoàn, tổng công ty.
Đây cũng là hình thức hữu hiệu để các tổng công ty có thể đầu t cho các
công ty thành viên qua đầu mối công ty tài chính.
Các công ty trong nớc thực hiện ủy thác vốn với mục đích sinh lời từ
các tài sản hay nguồn vốn nhàn rỗi cha cần sử dụng. Trong trờng hợp chọn
công ty tài chính thì các công ty sẽ có nhiều lợi nhuận hơn so với đem gửi
ngân hàng.
Các tổ chức tín dụng cũng có thể là ngời ủy thác nhng thờng chỉ có
ngân hàng hay thực hiện nghiệp vụ này. Các ngân hàng thu đợc một số tiền
lớn từ các tài khoản tiền gửi và dùng nó để ủy thác đầu t hoặc cho vay với
đơn vị khác để sinh lời.

ờng là nhỏ). Đối với trờng hợp này, bên ủy thác cho vay sẽ chịu toàn bộ rủi
ro đối với khách hàng đợc chỉ định cho vay vốn bên nhận ủy thác không chịu
trách nhiệm vè các rủi ro cho vay với khách hàng và chỉ hởng phí quản lý
theo hợp đồng.
D. Phân loại theo quyền quyết định mục đích sử dụng vốn
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status