Phát triển kinh tế tại các nước Nam Á GVHD: PGS.TS Sử Đình Thành
Nhóm 6- NH Đêm 2-K22 Trang 1 Tiểu luận
CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA HAY CHÍNH SÁCH
TIỀN TỆ SẼ HIỆU QUẢ HƠN ĐỐI VỚI SỰ PHÁT
TRIỂN KINH TẾ TẠI CÁC NƯỚC NAM Á
Phát triển kinh tế tại các nước Nam Á GVHD: PGS.TS Sử Đình Thành
Nhóm 6- NH Đêm 2-K22 Trang 2
MỤC LỤC
1. Giới thiệu 1
2. Cơ sở dữ liệu và phương pháp thực hiện 4
2.1. Kiểm định nghiệm đơn vị trên số liệu dạng bảng (panel unit root tests) 4
2.1.1. Levin, Lin và Chu 5
2.1.2. Im, Pesaran, và Shin 5
2.2. Kiểm định đồng liên kết: Phương pháp kiểm định ARLD Bounds 5
3. Kết quả nghiên cứu 7
3.1. Kiểm tra giả thuyết nghiệm đơn vị trên số liệu dạng bảng 7
3.2. Mô hình ARDL lựa chọn độ trễ 8
4. Kết luận 10
TÀI LIỆU THAM KHẢO 12
trong việc tác động đến sự phát triển kinh tế. Một vài nhà nghiên cứu tìm được các
bằng chứng ủng hộ cho quan điểm trọng tiền, cho rằng chính sách tiền tệ nhìn
Phát triển kinh tế tại các nước Nam Á GVHD: PGS.TS Sử Đình Thành
Nhóm 6- NH Đêm 2-K22 Trang 2
chung có ảnh hưởng lớn hơn đến sự tăng trưởng kinh tế và chi phối cả chính sách
tài khóa nhờ tác động của nó đến đầu tư và tăng trưởng [Friedman & Meiselman
(1963), Ajaye (1974), Elliot (1975), Batten & Hafer (1983)]. Trong khi một số nhà
nghiên cứu khác cho rằng các tác động tài khóa là vô cùng quan trọng cho sự phát
triển của nền kinh tế [Chowdhury (1986), Olaloye & Ikhide (1995). Mặt khác,
theo Cardia ( 1991), các tác động kinh tế vĩ mô có thể giải thích được phần lớn
dựa vào các biến giải thích khác.
Các thực nghiệm trong giai đoạn những năm 1970 chỉ ra rằng một chính sách
kết hợp chỉ dẫn đến kết quả duy nhất là tình trạng lạm phát đình đốn. Một số nhà
kinh tế đặc biệt quan tâm đến tiền tệ thể hiện qua việc kết hợp mô hình tân cổ điển
Keynes với lý thuyết của James Tobin. Việc tranh luận về thuế suất và tăng trưởng
cung tiền sẽ đồng thời dẫn đến tình trạng lạm phát đình đốn, vì thế Chính phủ chỉ
có thể chọn hoặc chính sách tài khóa hoặc chính sách tiền tệ để tăng trưởng kinh
tế. [Reynolds (2001)].
Việc lựa chọn phối hợp chính sách tối ưu mang lại tầm ảnh hưởng quan trọng
đến sự phát triển của nền kinh tế. Các nhà kinh tế thuộc trường phái trọng tiền tin
rằng việc không đánh giá đúng những thay đổi trong cung tiền sẽ tác động sản
lượng đầu ra và tăng trưởng, tức là, nếu mục tiêu của ngân hàng trung ương là đẩy
mạnh tốc độ tăng trưởng, thì phải gia tăng mạnh cung tiền. Nhưng lý thuyết về bẫy
thanh khoản của Keynes đã cho thấy nếu lãi suất thực giảm đến một mức độ nào
đó thì việc gia tăng cung tiền không thể kích thích sản lượng đầu ra và tăng
trưởng, lý do chính là cung tiền không thể gây tác động giảm lãi suất và do đó đầu
tư cũng sẽ không tăng lên vì sự kém nhạy cảm của lãi suất.
Chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ có những tác động kinh tế rất khác
Độ có tỷ lệ tăng trưởng GDP cao nhất ( 1.4%), ngược lại Sri Lanka có tốc độ tăng
trưởng khá thấp, thậm chí giảm 0.2%. Liên quan đến việc cân bằng tài khóa, mặc
dù cả 4 quốc gia vẫn đang cải thiện cán cân tài khóa, tốc độ cải thiện của Pakistan
là tốt hơn nhờ việc sử dụng các chính sách do IMF đề xuất cũng như ảnh hưởng
của chương trình điều chỉnh cấu trúc (1988, SAP). Trong số này, cung tiền của Ấn
Độ tăng cao ( tăng 22,7%), cho thấy một chính sách mở rộng tiền tệ. Bảng 1 cho ta
Phát triển kinh tế tại các nước Nam Á GVHD: PGS.TS Sử Đình Thành
Nhóm 6- NH Đêm 2-K22 Trang 4
thấy rõ tại các quốc gia mới nổi này có tỷ lệ tăng cung tiền và cân bằng tài khóa
khá cao.
2. Cơ sở dữ liệu và phương pháp thực hiện
Để xác định ảnh hưởng của các biến khác nhau lên sự tăng trưởng kinh tế (
đo lường bằng tốc độ tăng trưởng GDP), phương trình thực nghiệm được đưa ra
như sau:
Theo Legrenzi và các cộng sự (2002), chúng ta sử dụng các giá trị danh
nghĩa để tránh việc khó khăn trong xác định hệ số giảm phát phù hợp cho các biến.
Chúng ta sẽ sử dụng một bảng số liệu của bốn quốc gia Châu Á: Pakistan, Ấn Độ,
Sri Lanka, Bangladesh trong 17 năm, kể từ năm 1990 đến 2007. Số liệu được thu
thập từ nhiều nguồn: World Development indicators (2007) và International
Financial Statistics (2007).
2.1. Kiểm định nghiệm đơn vị trên số liệu dạng bảng (panel unit root
tests)
Chúng ta sẽ sử dụng kiểm định nghiệm đơn vị trên số liệu dạng bảng của
Levin, Lin, Chu & Im, Pesaran và Shin.
Phát triển kinh tế tại các nước Nam Á GVHD: PGS.TS Sử Đình Thành
hình ARDL là sự đánh giá có thể khả thi ngay cả khi các biến giải thích là biến nội
sinh [Pesaran và Shin (1999), Pesaran, et al (2001)]. Một thuận lợi khác của kỹ
thuật này là nó có thể được áp dụng không cần quan tâm đến các biến là I(0), I(1)
hoặc cùng cấp sai phân[Pesaran (1997)]. Do đó hãy chú ý rằng, với những điểm
được đề cập ở trên, chúng ta cũng sử dụng hệ thống ARDL để kiểm định đồng liên
kết và kế tiếp là ECM. Phiên bản hiệu chỉnh sai số của mô hình ARDL thể hiện
như bên dưới, dành cho phương trình (1).
Trong đó, β0 là thành phần trôi dạt (drift component) và μ điểm nhiễu trắng
(white noise). Ngoài ra, số hạng với các phép cộng cho thấy việc hiệu chỉnh linh
hoạt. Phần thứ 2 của phương trình tương ứng với mối liên hệ dài hạn. Trong mô
hình kiểm định ARDL trước tiên chúng ta tính toán phương trình (5) bằng phương
pháp bình phương bé nhất và lấy giá trị F-statistics.
Giả thuyết không của phương trình là:
Có nghĩa là mối quan hệ trong dài hạn là không tồn tại. Và giả thuyết thay
thế là:
Việc tính toán giá trị thống kê F được so sánh với 2 bảng gồm nhiều giá trị
được xác định bởi Pesaran và các cộng sự (2001), Paresh Kumar Narayan (2005).
Hai tiêu chuẩn phổ biến cho việc lựa chọn mô hình là Schwartz Bayesian Criteria
(SBC) và Akaike’s Information Criteria (AIC)
1
Nếu như có bằng chứng của mối quan hệ trong dài hạn trong mô hình thì, để tính
toán các hệ số dài hạn, mô hình dài hạn như bên dưới sẽ được sử dụng:
1
Chúng ta sử dụng AIC để lựa chọn chiều dài của độ trễ
Phát triển kinh tế tại các nước Nam Á GVHD: PGS.TS Sử Đình Thành
(unrestricted vector autoregressive - VAR) thông qua các tiêu chuẩn Schwartz
Bayesian và Akaike Information Criteria. Quá trình chọn độ trễ dựa trên nền tảng
ARDL cho kết quả như bên dưới:
Ý nghĩa bảng 3:
Độ dài của độ trễ được xác định từ các vec tơ tự hồi quy không giới hạn
thông qua 2 tiêu chuẩn AIC và SBC. Độ dài của độ trễ được xác định dựa trên giá
trị thấp nhất của AIC là 24.1. Hơn nữa, 4 tiêu chuẩn của mô hình dùng để kiểm
định tính thích hợp của mô hình
Độ dài của độ trễ được lựa chọn dựa trên giá trị thấp nhất của tiêu chuẩn
Akaike Information Criterion (AIC) trên nền tảng các vec tơ tự hồi qui không giới
hạn (unrestricted vector autoregressive - VAR) cho mô hình tổng quát. Kết quả
của phương pháp kiểm định cho thấy việc tính toán chỉ số F – statistics bằng 4.77
với độ trễ là 1, cao hơn giá trị tiêu chuẩn tại độ tin cậy 5%, cho thấy rằng có sự
đồng liên kết của các biến trong mô hình. Khi tìm ra mối liên hệ trong dài hạn,
chúng ta áp dụng phương pháp ARDL để tính toán các hệ số ngắn hạn và dài hạn.
Phát triển kinh tế tại các nước Nam Á GVHD: PGS.TS Sử Đình Thành
Nhóm 6- NH Đêm 2-K22 Trang 9
Lấy độ trễ lớn nhất cho mô hình, tiếp đó chúng ta sẽ tìm được các độ trễ riêng dựa
trên các vec tơ hồi qui không giới hạn (VAR), tại đó các giá trị AIC tương ứng là
nhỏ nhất.
Ý nghĩa bảng 4:
Sau khi tìm ra mối liên hệ trong dài hạn, tác giả dùng phương pháp ARDL
để tính toán các hệ số ngắn hạn và dài hạn. Lấy độ trễ lớn nhất cho mô hình, tiếp
đó tác giả tìm được các độ trễ riêng dựa trên các vec tơ hồi qui không giới hạn
(VAR), tại đó các giá trị AIC tương ứng là nhỏ nhất. Theo đó độ trễ tương ứng với
biến Y, FD là 0 và M2 là 1. Điều đó chứng tỏ cung tiền biểu hiện là 1 biến có ảnh
Bài nghiên cứu này kiểm định mối tương quan giữa 2 loại hình chính sách
trong bối cảnh chuỗi số liệu hiện đại của các quốc gia Nam Á: Pakistan, Ấn Độ,
Sri Lanka, Bangladesh trong giai đoạn 1990 – 2007, sử dụng phương pháp ARDL
Phát triển kinh tế tại các nước Nam Á GVHD: PGS.TS Sử Đình Thành
Nhóm 6- NH Đêm 2-K22 Trang 11
để kiểm tra các tuyên bố của các nhà kinh tế trọng tiền và các nhà kinh tế thuộc
trường pháp Keynes và làm rõ liệu các công cụ chính sách hiệu quả có tác động
quan trọng đến tăng trưởng kinh tế hay không. Kết quả cho thấy rõ có mối liên hệ
trong dài hạn giữa các biến. Cung tiền biểu hiện là một biến có ảnh hưởng quan
trọng cả trong ngắn hạn và trong dài hạn. Kết quả nghiên cứu cho thấy chính sách
tiền tệ là một công cụ vô cùng hữu hiệu so với chính sách tài khóa trong việc thúc
đẩy tăng trưởng kinh tế đối với các nước Nam Á. Hệ số phản hồi là số âm và rất
quan trọng cho thấy khoảng 72% sự mất cân bằng trong các giai đoạn trước là
đúng tại năm hiện tại.
Hiệu quả của các chính sách chủ yếu dựa trên các điều kiện bên trong và bên
ngoài nền kinh tế. Do đó điểm nhấn tổng quát của một chính sách đơn lẻ cho dù đó
là chính sách tài khóa hay chính sách tiền tệ có thể dẫn đến một số hiện tượng kinh
tế ngoài mong đợi. Mặc dù chính sách tiền tệ đã chứng minh được tính hiệu quả
hơn trong trường hợp này, việc sử dụng các chính sách tài khóa một cách khéo léo
với các chi tiêu phát triển hơn là chi tiêu không phát triển cũng có thể tăng cường
các chỉ báo kinh tế. Một hỗn hợp hai chính sách này có thể mang lại hiệu quả cao
hơn nếu được thi hành một cách đúng đắn.
Phát triển kinh tế tại các nước Nam Á GVHD: PGS.TS Sử Đình Thành
Nhóm 6- NH Đêm 2-K22 Trang 12
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Christiano, L., M. Eichenbaum, and C. Evans (1996) The Effects of Monetary
Policy Shocks: Evidence from the Flow of Funds. Review of Economics and
Statistics 78.
Elliot, J. W. (1975) The Influence of Monetary and Fiscal Actions on Total
Spending: The St. Louis Total Spending Equation Revisited. Journal of Money,
Credit,and Banking 7, 81–192.
Feldstein, M. (2001) Testimonybefore the House Committee on Ways and Means.
Feldstein, M., (2002) The Role for Discretionary Fiscal Policy in a Low Interest
Rate Environment. (NBER Working Paper No. 9203).
Friedman, M. and D. Meiselman (1963) The Relative Stability of Monetary
Velocity and the Investment Multiplier in the United States, 1887-1957 in
Stabilisation Policies.
Englewood: Prentice Hall.
Garrison, C. and F. Lee (1995) The Effect of Macroeconomic Variables on
Economic Growth Rates: A Cross-country Study. Journal of Macroeconomics
303–317.
Im, K. S., M. H. Pesaran, and Y. Shin, (2003) Testing for Unit Roots in
Heterogeneous Panels. Journal of Econometrics 115, 53–74.
Kim, S. (1997) Growth Effect of Taxes in an Endogenous Growth Model: To
What Extend Do Taxes Affect Economic Growth. Journal of Economic Dynamics
and Control 125–158.
Mitchell, D.(2001)The Heritage Foundation Backgrounder Executive Summary.
Levin, A., C. F. Linand and C. Chu (2002) Unit Root Tests in Panel Data:
Asymptotic and Finite Sample Properties. Journal of Econometrics 108, 1–24.
Levy, Mickey D. (2001) Don’t Mix Monetary and Fiscal Policy: Why Return to an
Old, Flawed Framework? Cato Journal 21:2.
Mundell,Robert A. (1971) Monetary Theory (Pacific Pallisades: Goodyear).
Phát triển kinh tế tại các nước Nam Á GVHD: PGS.TS Sử Đình Thành Phát triển kinh tế tại các nước Nam Á GVHD: PGS.TS Sử Đình Thành
Nhóm 6- NH Đêm 2-K22 Trang 16