i
MỤC LỤC
Lời cam đoan Error! Bookmark not defined.
Lời cảm ơn Error! Bookmark not defined.
Mục lục i
Danh mục các từ viết tắt vi
Danh mục các bảng vii
MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Mục tiêu nghiên cứu 3
2.1. Mục tiêu chung 3
2.2. Mục tiêu cụ thể 3
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
3.1. Đối tượng nghiên cứu 3
3.2. Phạm vi nghiên cứu 4
4. Ý nghĩa khoa học của luận văn 4
5. Bố cục của luận văn 4
Chƣơng 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG CỦA ĐỀ TÀI VÀ PHƢƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 5
1.1. Cơ sở lý luận chung của đề tài 5
1.1.1. Lý luận cơ bản về du lịch 5
1.1.1.1. Khái niệm về khách du lịch 5
1.1.1.2. Khái niệm về sản phẩm du lịch 5
1.1.1.3. Khái niệm về du lịch 6
1.1.1.4. Khái niệm về ngành du lịch 7
1.1.1.5. Khái niệm về khu du lịch 7
1.1.2. Lý luận về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh 9
1.1.2.1. Khái niệm về cạnh tranh 9
2.1.2.2. Thủy văn, sông hồ 24
2.1.3. Dân số và xã hội 25
2.1.3.1. Dân số, lao động và nghề nghiệp, di dân 25
2.1.3.2. Dân tộc 28
2.1.3.3. Các chỉ tiêu chủ yếu 29
2.2. Thực trạng các yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh của khu du lịch sinh
thái Hồ Núi Cốc tỉnh Thái Nguyên 29
2.2.1. Các nguồn lực phát triển du lịch 29
2.2.1.1. Nguồn nhân lực 29
2.2.1.2. Tài nguyên du lịch 30
2.2.1.3. Hiện trạng hệ thống hạ tầng xã hội trong vùng Hồ Núi Cốc 35
2.2.1.4. Hiện trạng hệ thống hạ tầng kỹ thuật trong vùng Hồ Núi Cốc 36
2.2.2. Thực trạng hoạt động kinh doanh của Khu du lịch sinh thái Hồ Núi
Cốc tỉnh Thái Nguyên 44
2.2.2.1. Lượng khách và doanh thu du lịch của KDL vùng Hồ Núi Cốc 44
2.2.2.2. Các dịch vụ hỗ trợ 45
2.2.2.3. Hoạt động marketing của Khu du lịch sinh thái Hồ Núi Cốc 46
2.2.2.4. Hoạt động đầu tư vào ngành du lịch tỉnh Thái Nguyên và Khu
du lịch sinh thái Hồ Núi Cốc 48
2.2.3. Nhận định những điểm mạnh, điểm yếu của Khu du lịch sinh thái
Hồ Núi Cốc 49
2.2.3.1. Những điểm mạnh của Khu du lịch sinh thái Hồ Núi Cốc tỉnh
Thái Nguyên 49
2.2.3.2. Những điểm yếu của Khu du lịch sinh thái Hồ Núi Cốc tỉnh
Thái Nguyên 51
2.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của khu du lịch vùng Hồ
Núi Cốc tỉnh Thái Nguyên 53
2.3.1. Yếu tố kinh tế 53
iv
du lịch 75
3.2.3. Nhóm giải pháp hỗ trợ 78
3.2.3.1. Giải pháp về xúc tiến quảng bá du lịch 78
3.2.3.2. Giải pháp phát triển du lịch bền vững với sự tham gia của
cộng đồng địa phương 80
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 82
1. Kết luận 82
2. Kiến Nghị 83
2.1. Kiến nghị với Chính phủ, các bộ ngành trung ương 83
2.1.1. Tăng cường kiểm tra, giám sát và thực hiện 83
2.1.2. Sự phối hợp của các Bộ, Ngành trung ương 83
2.1.3. Ban hành các chính sách khuyến khích, ưu đãi 84
2.2. Kiến nghị với địa phương tỉnh Thái Nguyên 85
TÀI LIỆU THAM KHẢO 87
PHỤ LỤC 1 89
vi
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DL : Du lịch
HNC : Hồ Núi Cốc
HTKT : Hạ tầng kỹ thuật
KDL : Khu du lịch
NSNN : Ngân sách nhà nước
TN : Thái Nguyên
TTCN : Tiểu thủ công nghiệp
UBND : Ủy ban nhân dân
VHTTDL : Văn hóa thể thao du lịch
chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo ra nhiều giá trị mới và nguồn thu cho đất nước, góp
phần tích cực vào tiến trình đổi mới, hội nhập khu vực và thế giới, đóng góp thật
xứng đáng vào quá trình phát triển cũng như sự phồn thịnh của đất nước.
Việt Nam có trên 70% dân số là nông thôn; vùng nông thôn rộng lớn chiếm
3/4 lãnh thổ, là địa bàn hoạt động của nhiều ngành kinh tế khác nhau. Trong đó, có
ngành du lịch và trọng tâm là du lịch sinh thái nông thôn. Hiện này du lịch sinh thái
đang là hướng phát triển được các quốc gia lựa chọn. Vai trò của việc phát triển du
lịch sinh thái được xét đến như một mắt xích với cơ cấu phát triển bền vững, vừa
phù hợp với nhu cầu phát triển xã hội theo xu hướng chung của thế giới, vừa đảm
bảo mục tiêu bảo tồn các hệ sinh thái (đặc biệt là sinh thái nông thôn). Để kết hợp
hài hòa giữa phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường sinh thái, con đường
duy nhất phải lựa chọn là sự phát triển theo nguyên tắc bền vững.
Trong những năm qua, du lịch Việt Nam luôn đạt được tốc độ tăng trưởng
khá. Với tốc độ tăng trưởng 11-15%/năm. Đạt được những kết quả trên, có sự đóng
góp không nhỏ của lĩnh vực du lịch sinh thái nói chung và du lịch sinh thái nông
thôn nói riêng.
Thái Nguyên là tỉnh nằm trong trung tâm vùng trung du miền núi Bắc Bộ, là
phụ cận của Thủ đô Hà Nội - trung tâm du lịch của cả nước. Đồng thời, trong quy
hoạch phát triển trung du miền núi Bắc Bộ, Thái Nguyên thuộc 2 tuyến du lịch quốc
gia Hà Nội - Thái Nguyên - Cao bằng - Lạng sơn; Hà Nội - Bắc Giang - Lạng Sơn -
2
Cao Bằng - Thái Nguyên - Tuyên Quang - Hà Giang và khu nghỉ dưỡng cuối tuần
của nhân dân Thủ đô Hà Nội. Thái Nguyên có bề dầy lịch sử văn hoá, cùng với thế
mạnh du lịch sinh thái đa dạng, hấp dẫn du khách. Trong đó, đặc biệt là Khu du lịch
sinh thái Hồ Núi Cốc với nhiều danh lam thắng cảnh phong phú, các giá trị văn hoá
vật thể và phi vật thể được bảo tồn trong cộng đồng các dân tộc tỉnh Thái Nguyên.
Trong những năm qua, du lịch Thái Nguyên đã đạt được những kết quả đáng
ghi nhận, đặc biệt sau Năm du lịch quốc gia Thái Nguyên 2007 được tổ chức thành
công tại Thái Nguyên, tổng doanh thu toàn xã hội về các dịch vụ du lịch của Thái
cứu đưa ra các kiến nghị, giải pháp cụ thể nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh để
đạt được mục tiêu ổn định và phát triển bền vững cho Khu du lịch sinh thái Hồ Núi
Cốc tỉnh Thái Nguyên.
2.2. Mục tiêu cụ thể
- Góp phần hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn về marketing, cạnh tranh
có liên quan đến thị trường kinh doanh và khai thác sản phẩm du lịch bản địa và du
lịch nội địa.
- Phân tích, đánh giá thực trạng quá trình cạnh tranh của Khu du lịch sinh
thái Hồ Núi Cốc trong thời gian 3 đến 5 năm gần đây.
- Đề ra các giải pháp, đề xuất kiến nghị nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh
cũng như mục tiêu lâu dài chiếm được thị phần cao đối với khách du lịch nội địa và
các tỉnh lân cận. Đặc biệt là xây dựng được thị trường mục tiêu đối với khách du
lịch của Thủ đô Hà Nội; tiến tới phát triển thị phần rộng và bền vững hơn ra thị
trường quốc tế.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
- Cơ chế, hành lang pháp lý liên quan tới lĩnh vực khai thác, kinh doanh và
đầu tư phát triển du lịch.
- Các vấn đề liên quan tới hoạt động khai thác, kinh doanh và đầu tư phát
triển du lịch sinh thái.
- Nguồn tài nguyên thiên nhiên sẵn có đã khai thác và chưa được khai thác
tại Khu du lịch Hồ Núi Cốc.
4
3.2. Phạm vi nghiên cứu
* Về nội dung: Do điều kiện nghiên cứu có hạn, nội dung nghiên cứu về
năng lực cạnh tranh của khu du lịch lại là một vấn đề rất rộng, vì vậy luận văn chỉ
tập trung nghiên cứu một số nội dung về phát triển bền vững. Từ đó đề xuất các giải
pháp chủ yếu nhằm thúc đẩy phát triển và nâng cao năng lực cạnh tranh cho Khu du
lịch sinh thái Hồ Núi Cốc tỉnh Thái Nguyên.
Khách du lịch là chủ thể của hoạt động du lịch, giữ vị trí quan trọng trong
hoạt động du lịch; là chỗ dựa khách quan cho sự tồn tại và phát triển của ngành du
lịch, là đối tượng chủ yếu và xuất phát điểm cơ bản cho khai thác kinh doanh và
phục vụ của ngành du lịch, đồng thời là chỗ dựa chủ yếu để ngành du lịch thu được
những lợi ích kinh tế, xã hội và văn hoá.
Định nghĩa về khách du lịch xuất hiện sớm nhất trong cuốn Từ điển Oxford
xuất bản năm 1811 như sau: “khách du lịch đến từ ngoài với mục đích tham quan,
du ngoạn”. Năm 1968, Tổ chức du lịch thế giới (UNWTO) chấp nhận khái niệm về
khách du lịch quốc tế như sau: “Khách du lịch quốc tế là người viếng thăm và lưu
lại một hoặc một số nước khác ngoài nước cư trú của mình, với thời gian ít nhất 24
giờ, vì bất kỳ lý do nào, ngoài mục đích hành nghề để nhận thu nhập”. Khách du
lịch nội địa được phân biệt với khách du lịch quốc tế ở chỗ là nơi đến du lịch của họ
cũng chính là nước họ cư trú thường xuyên.
Khách du lịch được phân thành hai loại: du khách (tourist) và khách tham
quan (excursionist). Du khách (tourist) là một khách du lịch đến một nơi nào đó trên
24 giờ và nghỉ qua đêm tại nơi đến; khách tham quan (excursionist) là khách du lịch
đến một nơi nào đó dưới 24 giờ và không nghỉ qua đêm tại nơi đến.
1.1.1.2. Khái niệm về sản phẩm du lịch
Hiện nay có rất nhiều khái niệm về sản phẩm du lịch (DL). Khái niệm được
nhiều người sử dụng là khái niệm trong Từ điển Du lịch -Tiếng Đức do Nhà xuất
bản kinh tế Berlin xuất bản năm 1984: “Sản phẩm du lịch là sự kết hợp những dịch
vụ và phương tiện vật chất trên cơ sở khai thác các tiềm năng du lịch nhằm cung
6
cấp cho du khách một khoảng thời gian thú vị, một kinh nghiệm du lịch trọn vẹn và
sự hài lòng”.
Sản phẩm du lịch có những đặc tính chung của nó như sau:
- Khách mua sản phẩm trước khi thấy sản phẩm;
- Sản phẩm du lịch thường là một kinh nghiệm nên dễ bắt chước;
- Khoảng thời gian mua sản phẩm, thấy và sử dụng sản phẩm quá lâu;
đến không phải là nơi họ làm việc”.
Luật Du lịch của Việt Nam được Quốc hội thông qua tháng 6/2005 và có
hiệu lực từ ngày 01/01/2006 định nghĩa: “Du lịch là một trong những hoạt động có
liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình
nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong khoảng thời
gian nhất định”.
Căn cứ vào phạm vi lãnh thổ của chuyến đi người ta thường phân biệt hai
hình thức du lịch đó là du lịch nội địa và du lịch quốc tế. Du lịch nội địa là loại hình
du lịch mà điểm xuất phát và điểm đến du lịch cùng nằm trong biên giới của một
quốc gia. Du lịch quốc tế là loại hình du lịch mà điểm xuất phát và điểm đến du lịch
nằm trên hai hoặc nhiều nước khác nhau.
1.1.1.4. Khái niệm về ngành du lịch
Ngành du lịch là ngành cung cấp các loại sản phẩm và dịch vụ cho khách du
lịch tiến hành hoạt động lữ hành, du ngoạn, tham quan nhằm mục đích thu phí.
Ngành du lịch lấy du khách làm đối tượng, lấy tài nguyên du lịch làm chỗ dựa, lấy
cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch làm điều kiện vật chất, cung cấp các loại sản phẩm và
dịch vụ cho hoạt động du lịch. Ngành du lịch đóng vai trò thiết lập mối liên hệ giữa
du khách với tài nguyên du lịch, đồng thời thông qua hoạt động kinh doanh của
mình thúc đẩy sự phát triển kinh tế của địa phương, khu vực.
Ngành du lịch chủ yếu do các nhân tố chính sau hình thành: các công ty du lịch,
hệ thống giao thông du lịch, các khách sạn du lịch, tổ chức quản lý du lịch các cấp.
1.1.1.5. Khái niệm về khu du lịch
Theo Luật Du lịch Việt Nam: “Khu du lịch là nơi có tài nguyên du lịch ưu
thế nổi bật về cảnh quan thiên nhiên được quy hoạch, đầu tư phát triển nhằm thỏa
8
mãn đa dạng của khách du lịch, đem lại hiệu quả kinh tế - xã hội và môi trường”
(Khoản 7, Điều 4, Chương I - Luật Du lịch Việt Nam năm 2005). Thực tế nhiều khu
du lịch (KDL) có ưu thế nổi bật về cả tự nhiên và nhân văn.
* Theo Luật Du lịch Việt Nam cũng như ý kiến của các nhà khoa học DL các
cung, cầu và giá cả hàng hoá là những nhân tố cơ bản của thị trường; cạnh tranh là
đặc trưng cơ bản của cơ chế thị trường và là linh hồn sống của thị trường.
Cạnh tranh là một hiện tượng kinh tế, xã hội phức tạp. Do cách tiếp cận khác
nhau nên có các quan niệm khác nhau về cạnh tranh. Tổ chức Hợp tác và Phát triển
kinh tế (OECD) đưa ra định nghĩa như sau: “Cạnh tranh là khái niệm của doanh
nghiệp, quốc gia và vùng trong việc tạo việc làm và thu nhập cao hơn trong điều
kiện cạnh tranh quốc tế”. Theo cuốn Kinh tế học của P.Samuelson thì: “Cạnh tranh
là sự kình địch giữa các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau để giành khách hàng, thị
trường”. Theo cuốn “Thị trường, Chiến lược, Cơ cấu” của Tôn Thất Nguyễn Thiêm
thì: “trong kinh tế, cạnh tranh không phải là diệt trừ đối thủ của mình mà chính là
phải mang lại cho khách hàng những giá trị gia tăng cao hơn và mới lạ hơn để
khách hàng lựa chọn mình chứ không lựa chọn các đối thủ cạnh tranh của mình”.
Ngoài ra, còn có thể dẫn thêm nhiều cách diễn đạt khác nhau về khái niệm
cạnh tranh, song qua các định nghĩa trên có thể tiếp cận về cạnh tranh như sau:
Thứ nhất, khi nói đến cạnh tranh là nói đến sự ganh đua nhằm giành lấy phần
thắng của nhiều chủ thể cùng tham gia;
Thứ hai, mục đích trực tiếp của cạnh tranh là một đối tượng cụ thể nào đó mà
các bên đều muốn giành giật, một loạt các điều kiện có lợi. Mục đích cuối cùng là
kiếm được lợi nhuận cao;
Thứ ba, cạnh tranh diễn ra trong một môi trường cụ thể, có các ràng buộc
chung mà các bên tham gia phải tuân thủ như: đặc điểm sản phẩm, thị trường, các
điều kiện pháp lý, các thông lệ kinh doanh;
Thứ tư, trong quá trình cạnh tranh các chủ thể tham gia cạnh tranh có thể sử
dụng nhiều công cụ khác nhau: cạnh tranh bằng đặc tính và chất lượng sản phẩm,
cạnh tranh bằng giá bán sản phẩm, cạnh tranh bằng nghệ thuật tiêu thụ sản phẩm,
cạnh tranh nhờ dịch vụ bán hàng tốt, cạnh tranh thông qua hình thức thanh toán.
10
1.1.2.2. Khái niệm về năng lực cạnh tranh
Khái niệm về năng lực cạnh tranh là một khái niệm phức hợp được xem xét
chức. Các tổ chức không thể kiểm soát được những biến đổi của các yếu tố trong
môi trường vĩ mô, nhưng tổ chức có thể tận dụng những thuận lợi và khó khăn do
nó gây ra, biến nó thành cơ hội kinh doanh của mình. Các yếu tố quan trọng trong
môi trường vĩ mô có ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động của doanh nghiệp trong
ngành du lịch bao gồm: các yếu tố kinh tế, yếu tố chính trị và luật pháp, yếu tố xã
hội, yếu tố tự nhiên và yếu tố công nghệ.
- Yếu tố kinh tế: các yếu tố kinh tế có vai trò quan trọng và quyết định đến
hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp. Tốc độ tăng trưởng kinh tế, cơ cấu nền
kinh tế, tỷ giá hối đoái là những yếu tố kinh tế thường xuyên tác động đến hoạt
động của mọi tổ chức nói chung và ngành du lịch nói riêng. Đối với ngành du lịch
nếu các chỉ số của nền kinh tế tăng trưởng tốt sẽ làm cho thu nhập của dân cư gia
tăng, đời sống được cải thiện, nhu cầu du lịch vì thế cũng sẽ gia tăng, tạo điều kiện
thuận lợi cho sự phát triển của ngành.
- Yếu tố chính trị và luật pháp: Một thể chế chính trị, luật pháp rõ ràng,
rộng mở và ổn định sẽ là cơ sở đảm bảo cho sự thuận lợi, bình đẳng cho các tổ chức
trong nền kinh tế. Đặc biệt, Ngành du lịch là ngành chịu sự tác động trực tiếp toàn
diện của môi trường chính trị, luật pháp và do đó nó rất nhạy cảm với những biến
động của môi trường này. Ngành chịu sự tác động của đường lối phát triển của quốc
gia thể hiện ở hệ thống luật và các văn bản dưới luật, các công cụ chính sách của
nhà nước và tổ chức bộ máy cơ chế điều hành từ trung ương đến địa phương. Chính
sách đa phương hoá, đa dạng hoá các mối quan hệ quốc tế, coi trọng các quốc gia là
bạn và là đối tác tin cậy của nhau là cơ hội thuận lợi cho ngành du lịch phát triển
trên các phương diện khai thác thị trường, tránh được các rủi ro trong kinh doanh do
bạo loạn chính trị, đảm bảo được sự an toàn và an ninh cho khách du lịch quốc tế.
- Yếu tố văn hoá - xã hội: Đây là nhóm yếu tố quan trọng tạo lập nên nhân
cách và lối sống của người tiêu dùng, đồng thời cũng là cơ sở để các ngành kinh
doanh trong đó có ngành du lịch lựa chọn và điều chỉnh các quyết định kinh doanh.
Trong ngành du lịch, trình độ văn hoá và dân trí cao hay thấp quyết định đến thái độ
cư xử đối với du khách trong giao tiếp, ảnh hưởng đến chất lượng phục vụ du
khách, tạo nên sự hấp dẫn thu hút du khách.
13
thị trường mục tiêu và phát huy được lợi thế cạnh tranh của ngành để áp dụng đúng
các chiến lược cho phù hợp với lợi thế cạnh tranh và thị trường mục tiêu.
- Khách hàng (người mua): sự tín nhiệm của khách hàng có thể là tài sản có
giá trị lớn lao của doanh nghiệp. Sự tín nhiệm đó đạt được khi tổ chức thoả mãn các
nhu cầu và thị hiếu của khách hàng so với các đối thủ cạnh tranh. Các doanh nghiệp
cần lập bảng phân loại khách hàng hiện tại và tương lai. Các thông tin có được từ
bảng phân loại là cơ sở định hướng quan trọng cho việc hoạch định chiến lược nhất
là các chiến lược liên quan trực tiếp đến marketing.
* Môi trƣờng nội bộ
Các yếu tố của môi trường nội bộ cấu thành năng lực cạnh tranh của ngành
du lịch bao gồm các lĩnh vực chủ yếu như: nguồn nhân lực, nguồn lực vật chất, hoạt
động marketing.
- Nguồn nhân lực: phân tích nguồn nhân lực thường xuyên là cơ sở giúp các
doanh nghiệp đánh giá kịp thời các điểm mạnh và điểm yếu của các thành viên
trong tổ chức so với yêu cầu về tiêu chuẩn nhân sự trong từng khâu công việc và so
với nguồn nhân lực của đối thủ cạnh tranh nhằm có kế hoạch bố trí, sử dụng nguồn
nhân lực hiện có. Đánh giá khách quan nguồn nhân lực giúp cho tổ chức chủ động
thực hiện việc đào tạo và tái đào tạo cho các thành viên của tổ chức nhằm đảm bảo
thực hiện chiến lược thành công lâu dài và thích nghi với những yêu cầu về nâng
cao liên tục chất lượng con người trong môi trường cạnh tranh.
- Nguồn lực vật chất: phân tích và đánh giá đúng mức các nguồn lực vật
chất là cơ sở quan trọng để tổ chức hiểu rõ các nguồn lực vật chất tiềm tàng, những
hạn chế để có các quyết định quản trị thích nghi với thực tế. Tổ chức cần đánh giá
và xác định các điểm mạnh và điểm yếu về từng nguồn lực vật chất so với những
đối thủ cạnh tranh trong ngành và trên thị trường theo khu vực địa lý.
- Hoạt động marketing: nghiên cứu môi trường marketing giúp tổ chức nhận
diện các cơ hội thị trường, phân khúc thị trường, lựa chọn thị trường mục tiêu và
định vị thị trường; đồng thời phân tích khách hàng và các yếu tố liên quan để hình
năm 2010 có tăng nhưng vẫn phần nào đó tụt hậu hơn so với số lượng khách chỉ đạt
1.200 tỷ USD, đây là một xu thế trong giai đoạn hồi phục. Trong số những thị
15
trường du lịch đứng đầu về chi tiêu tại nước ngoài, những nền kinh tế mới nổi tiếp
tục là các động lực thúc đẩy tăng trưởng: Trung Quốc (+17%), Nga (+26%), Ả Rập
Xê Út (+28%) và Brazil (+52%). Trong số các thị trường nguồn truyền thống như
Australia (+9%), Canada (+8%), Nhật (7%) và Pháp (+4%) đã có sự phục hồi, trong
đó một số thị trường tăng trưởng khiêm tốn hơn với mức 2% là Mỹ, Đức và Italy.
Ngược lại, chi tiêu ở nước ngoài của vương quốc Anh vẫn giảm 4% trong năm 2010.
Tiếp theo một năm 2010 kinh tế thế giới phục hồi, năm 2011 đã duy trì được đà
tăng trưởng nhưng với một tốc độ chậm hơn, lượng khách du lịch quốc tế đã tăng từ
4 đến 5% trong năm 2011, một tỷ lệ cao hơn tốc độ tăng trưởng trung bình trong
giai đoạn dài.
Biểu 1.1: Sự tăng trƣởng của du lịch quốc tế giai đoạn 1990-2010
Chỉ tiêu
Năm
1990
Năm
1995
Năm
2000
Năm
2005
Năm
2010
Số lượng du khách (triệu lượt người)
458
576
698
1990 số khách du lịch quốc tế đến các nước ASEAN đạt 21,5 triệu lượt người,
chiếm 4,7% tổng số khách du lịch quốc tế toàn thế giới. Đến năm 1995, các nước
16
trong khu vực đã đón được 29,2 triệu lượt khách quốc tế, đến năm 2000 con số này
là 37 triệu lượt người chiếm 4,8% tổng số khách du lịch quốc tế toàn thế giới. Năm
2009 các nước ASEAN đón kỷ lục hơn 65 triệu lượt khách quốc tế, trong đó điểm
đến số 1 là Malaysia, tiếp theo đến Thái Lan, Singapore, Indonesia, Việt Nam,
Philippines, Campuchia, Myanmar và Brunei.
Theo của Tổ chức Du lịch Thế giới (WTO), năm 2010 lượng du khách quốc
tế đến khu vực ASEAN là 72 triệu lượt người, mức tăng trưởng du khách bình quân
giai đoạn 1995-2010 sẽ là 6%/năm so với tốc độ tăng trưởng 1-2%/năm trong thời
kỳ 1998-2000 do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính trong khu vực.
1.1.3.3. Khái quát tình hình du lịch Việt Nam
VN có đủ các yếu tố để phát triển ngành du lịch trở thành ngành kinh tế mũi
nhọn. Với tiềm năng du lịch đa dạng và phong phú, đất nước ta đang là điểm đến
nổi tiếng của thế giới. Năm 2000, Việt Nam đã đón 2,1 triệu lượt khách quốc tế, đến
năm 2005 đón 3,4 triệu lượt, năm 2008 con số này tăng lên 4,218 triệu lượt khách
quốc tế, con số này năm 2009 là 3,8 triệu lượt, giảm 11% so với năm trước, năm
2010 Việt Nam đã đón 5,0 triệu lượt khách, số lượt khách du lịch nội địa là 28 triệu
lượt năm 2010, tăng 12% so với năm 2009. Doanh thu ngành du lịch Việt Nam năm
2009 đạt từ 68.000 đến 70.000 tỷ đồng.
Theo dự báo của Tổng cục du lịch Việt Nam, năm 2015 ngành du lịch Việt
Nam sẽ thu hút 7-8 triệu lượt khách quốc tế, 32-35 triệu khách nội địa, con số tương
ứng năm 2020 là 11-12 triệu khách quốc tế; 45-48 triệu khách nội địa. Doanh thu từ
du lịch sẽ đạt 18-19 tỷ USD năm 2020.
Du lịch ngày càng có vai trò quan trọng tại Việt Nam. Đối với khách du lịch
ba-lô, những người du lịch khám phá văn hóa và thiên nhiên, bãi biển và các cựu
chiến binh Mỹ và Pháp, Việt Nam đang trở thành một địa điểm du lịch mới ở Đông
Nam Á Các dự án đầu tư vào bất động sản du lịch dọc theo bờ biển hơn 3.000 km
khách lưu trú đạt 481.800 lượt, tổng doanh thu toàn xã hội về du lịch đạt 768 tỷ
đồng, công suất sử dụng buồng phòng đạt 67%.
Bên cạnh đó, tỉnh Thái Nguyên còn quan tâm đến công tác quy hoạch phát
triển du lịch, trong đó có việc phê duyệt và công bố quy hoạch vùng du lịch Hồ Núi
Cốc vào tháng 6 vừa qua.
18
Tuy nhiên, du lịch Thái Nguyên vẫn còn có những khó khăn, hạn chế như: hệ
thống đường giao thông quốc lộ đến Thái Nguyên đã xuống cấp; nguồn vốn đối ứng
của tỉnh đối với các dự án hạ tầng du lịch hạn chế, dẫn đến một số dự án chậm tiến
độ; Thái Nguyên còn thiếu những dịch vụ du lịch cao cấp, lượng khách quốc tế đến
Thái Nguyên còn thấp.
1.2. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ HỆ THỐNG CÁC CHỈ TIÊU NGHIÊN CỨU
1.2.1. Phƣơng pháp nghiên cứu
1.2.1.1. Phương pháp luận
Phương pháp luận được sử dụng trong nghiên cứu đề tài là phương pháp duy
vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác-Lênin. Phân tích tổng hợp kết
hợp lịch sử logic, liên hệ so sánh kết hợp với điều tra nghiên cứu thực tiễn, để có thể
rút ra kết luận phản ánh đúng thực trạng.
1.2.1.2. Phương pháp thu thập thông tin
* Thu thập tài liệu và thông tin thứ cấp. Từ các thông tin công bố chính thức
của các cơ quan nhà nước. Các nghiên cứu của cá nhân, tổ chức về phát triển kinh
tế, về tình hình đầu tư phát triển, khai thác và kinh doanh loại hình du lịch sinh
thái Những thông tin về tình hình cơ bản của tỉnh, hoạt động của hệ thống văn hoá
và du lịch do các cơ quan chức năng của huyện, tỉnh cung cấp.
* Thu thập tài liệu và thông tin sơ cấp
Các số liệu sơ cấp phục vụ cho nghiên cứu đề tài được thu thập dựa trên
phương pháp điều tra chọn mẫu, thu thập số liệu của thống kê và phương pháp điều
tra xã hội học. Mục tiêu của điều tra nhằm thu thập thông tin sau và những thông tin
còn thiếu trong hệ thống thông tin để phục vụ cho nghiên cứu và phân tích.